Posts tonen met het label 30-4-1975. Alle posts tonen
Posts tonen met het label 30-4-1975. Alle posts tonen

zondag 30 april 2017

30-4-1975, ngày quốc hận? Ai thắng, ai bại, vì sao? (Nguyễn Gia Kiểng - Pháp)



30-4-1975, ngày quốc hận? Ai thắng, ai bại, vì sao?



Ông Nguyễn Gia Kiểng trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành

Trần Quang Thành (Danlambao) - Không phải chỉ nhân dân miền Nam thất bại mà chính người miền Bắc cũng thất bại. Những người thực sự chiến thắng chỉ là một vài ngàn người, có khi chỉ vài trăm người, chung quanh hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Họ khống chế Đảng Cộng Sản và dùng Đảng Cộng Sản để khuất phục và khống chế dân tộc Việt Nam. Đó là một thảm kịch quốc gia mà chúng ta vẫn chưa thoát khỏi.

Lời giới thiệu: 42 năm đã qua kể từ ngày 30/4/1975. Năm nay chính quyền Cộng Sản Việt Nam có vẻ không còn chuẩn bị để kỷ niệm tưng bừng "chiến thắng lịch sử 30-4-1975" như mọi năm nữa. Họ đang lúng túng đối phó với những khó khăn chồng chất, hơn nữa cái hào quang chiến thắng mà Đảng Cộng Sản Việt Nam thường khoe khoang trong mỗi dịp kỷ niệm ngày 30-4 cũng đã trở thành quá nhàm chán khi mà sư lệ thuộc Trung Quốc đã quá lộ liễu và hơn thế nữa còn đang gây phẫn nộ sau thảm họa Formosa. 

Sư lúng túng này sẽ đưa đảng và chế độ cộng sản tới đâu? Sau 42 năm cầm quyền Đảng Cộng Sản đã phơi bày rõ ràng bản chất đạo tặc và tham nhũng, nhưng tại sao họ đã toàn thắng vào ngày 30-4-1975 và vẫn còn giữ được chính quyền?

Kỷ niệm 42 năm biến cố 30/4/1975, từ Paris ông Nguyễn Gia Kiểng, thường trực ban lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, cựu thứ trưởng kinh tế và một nhân chứng của biến cố 30-4-1975 và cũng là người đã viết nhiều bài gây chú ý về biến cố lịch sử này đã có cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Quang Thành. 

Nội dung như sau - Mời quí vị cùng theo dõi.


(Youtube PV ông Nguyễn Gia Kiểng)

*

Văn bản lược ghi cuộc trò chuyện

Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng!

Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành!

TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, biến cố 30/4/1975 diễn ra đã tròn 42 năm. Gần nửa thế kỷ nhìn lại, ngày đó ông đang ở đâu và ký ức gì vẫn còn sâu đậm trong trí nhớ của ông đến ngày hôm nay?

NGK: Vào ngày 30/4/1975 tôi đang ở Sài Gòn. Trước đó tôi đã có nhiều cơ hội để ra khỏi Việt Nam. Nhưng vì nhiều lý do vẫn phải ở lại không thể đi được. Một trong những lý do quan trọng là trước đó vài ngày miền Nam đã có thay đổi chính phủ và ông Phan Bá Cầm được chỉ định làm bộ trưởng kinh tế. Chúng tôi phải đợi ông Phan Bá Cầm đến để bàn giao thì mới hết trách nhiệm. Nhưng ông Phan Bá Cầm không bao giờ đến cả. Đêm 29/4 tôi và một số bạn có đến một điểm hẹn với một chuyên gia kinh tế của Mỹ. Ông này cho biết có phương tiện đưa chúng tôi ra khỏi Việt Nam. Chúng tôi chờ đến tận nửa đêm vẫn không thấy ông ấy nên phải ra về. Sau này chúng tôi được biết là ông ấy bị sứ quán Mỹ bắt di tản khẩn cấp. Lúc đó Sài Gòn đã hoàn toàn hỗn loạn. Sáng 30/4 theo sự chỉ dẫn của một người thân tôi ra bến tầu định lên tầu Đại Hải để ra đi. Đến bến tàu thấy không khí hết sức hỗn loạn và nhốn nhào không thể nào lên tàu được. Trong khi đang hoang mang không biết phải làm gì thì nghe trên đài phát thanh có tuyên bố của ông đại tướng Dương Văn Minh vừa lên làm tổng thống mời quân cộng sản vào để bàn giao quyền hành. Chúng tôi đi về và trên đường đã thấy cảnh hôi của. Về đến nhà chưa được bao lâu thì nghe lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh. Thế rồi tiếng xe tăng của quân đội cộng sản từ khắp các nẻo đường tiến vào trung tâm Sài Gòn cùng với những tiếng súng và tiếng reo mừng chiến thắng. Bất lực, bối rối, tuyệt vọng là những từ không đủ để mô tả tâm trạng của những người như chúng tôi lúc đó. Sáng hôm sau chúng tôi đến tiệm cà phê Givral ở góc đường Lê Lợi - Tự Do nay là Đồng Khởi để gặp các bạn chuyên viên cùng ở Pháp về. Trước đó chúng tôi có hẹn nhau khi cộng sản vào thì những người nào còn kẹt lại đến đó gặp nhau. Phải nói là tâm trạng chúng tôi lúc đó rất tuyệt vọng. Ngày hôm sau một người bạn của tôi là anh Nguyễn Trọng Huân, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris, tự tử. Như thế đủ hiểu tâm trạng chúng tôi tuyệt vọng đến mức nào. 

Chiều 1/5 tôi vào bệnh viện Grall. Tại đó chúng tôi gặp rất nhiều viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong đó có cả ông cựu bộ trưởng Trần Chánh Thành và ông cựu thủ tướng Phan Huy Quát. Tất cả những anh em đó họ vào bệnh viện Grall vì họ tin rằng bệnh viện Grall là một bệnh viện của Pháp nên có thể được coi như là lãnh thổ của Pháp vì thế họ có thể an toàn và sau đó có thể được chính quyền Pháp di tản. Thế nhưng điều này không đúng. Do một sự tình cờ tôi có quen với ông thiếu tướng quân y giám đốc bệnh viện Grall là ông bác sĩ Rainbault. Qua ông này tôi biết bệnh viện Grall đã được chuyển giao cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước đó khá lâu rồi nên lúc đó nó là một bệnh viện Việt Nam, các bác sĩ người Pháp ở lại trong bệnh viện đó là do một thỏa hiệp giữa hai chinh phủ mà thôi. Các bạn tôi rất thất vọng khi nghe tôi nói như vậy. Ngày hôm sau ông Trần Chánh Thành tự tử. Cụ Phan Huy Quát, cựu thủ tướng, bị bắt đi học tập cải tạo và sau nay cụ chết trong tù.

Phải nói những kỷ niệm về ngày 30/4 nhiều lắm. Tất cả đều không thể mô tả bằng ngôn ngữ bình thường. Có thể nói đó là những kỷ niệm "sống để bụng, chết mang theo".

TQT: Vâng, sống để bụng chết mang theo là những kỷ niệm mà ông Nguyễn Gia Kiểng vẫn còn nhớ được tại Pháp. Những gì đã xảy ra sau ngày 30/4 trên đất nước mình?

NGK: Xin nói thêm là vào những ngày kế tiếp tôi có tới gặp ông Nguyễn Văn Diệp là bộ trưởng Kinh tế cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Tôi là phụ tá của ông ấy. Thực ra ông Nguyễn Văn Diệp không phải là một bộ trưởng kinh tế bình thường. Trước đó ông đo là một đảng viên cộng sản và là một thành viên của Uy Ban Trung Ương Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông ấy bị bắt, bị tù và sau đó ra làm ngân hàng. Ông ấy được bổ nhiệm làm bộ trưởng thực ra chỉ để làm bình phong thôi. Vai trò thực sự của ông là giúp chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tìm cách liên lạc với bên cộng sản và tìm một hình thức thỏa hiệp nào đó vì lúc đó rõ ràng là Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi Việt Nam và rút đi rồi. Ông Nguyễn Văn Diệp không phải là một cán bộ nằm vùng như ông Vũ Ngọc Nhạ, ông Phạm Ngọc Thảo hay ông Phạm Xuân Ẩn. Khi đến gặp ông Diệp tôi cũng được gặp nhiều cấp lãnh đạo cộng sản. 

Hai tuần sau tôi được gặp ông La Văn Liếm, tức là ông La Văn Lâm, tên thường gọi là Tám Lâm. Ông này mời tôi đến văn phòng của ông ở ngân hàng Việt Nam Thương Tín. Ông La Văn Liếm là một nhân vật rất đặc biệt mà tôi chắc ông Thành cũng phải biết. Ông ấy là một huyền thoại. Trong thời gian Cách Mạng Tháng Tám ông là trưởng ban ám sát của cộng sản ở vùng Sài Gòn - Chợ Lớn. Rất nhiều người quốc gia đã bị ông ấy hạ sát. Có người còn nói rằng vào thời điểm đó trẻ con nghe tên ông La Văn Liếm không dám khóc đêm. Cho nên khi tôi được ông ấy mời các bạn tôi rất lo âu. Họ nghĩ đó là một điềm không lành và có lẽ vì công an cộng sản đã khám phá ra tôi là một người lãnh đạo phong trào chống cộng ở hải ngoai khi tôi còn ở nước ngoài. Nhưng khi tôi đến thì câu chuyện khác hẳn. Tôi nhận ra bà vợ ông La Văn Liếm là một nhân viên ở bộ Kinh Tế. Bà rất tươi cười và nói với tôi rằng bà đã quan sát tôi và rất có cảm tình với tôi. Thực ra tôi chỉ đối xử với bà như đối với mọi nhân viên khác. Ông bà Liếm mời tôi ở lại ăn cơm. Họ nói rằng họ sẽ bảo đảm an ninh cho tôi và họ có đủ khả năng để bảo đảm hoàn toàn an ninh cho tôi, tôi sẽ không phải đi học tập gì cả. Qua câu chuyện tôi cũng được biết là sau khi ra tập kết ở Hà Nội ông đã chuyển ngành đi làm kinh tế và giờ ông là một trong những người vào để tiếp thu kinh tế miền Nam. 

Qua ông Nguyễn Văn Diệp và ông La Văn Liếm tôi cũng được nói chuyện vói nhiều cán bộ cộng sản khác. Và dĩ nhiên cũng được nghe rất nhiều bản diễn văn, tuyên bố, phát biểu dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản. 

Phải nói về mặt an ninh tôi gần như được hai ông Nguyễn Văn Diệp và La Văn Liếm bảo đảm hoàn toàn. Thế nhưng điều làm tôi kinh hoàng là trình độ hiểu biết của đa số các cấp lãnh đạo cộng sản mà tôi tiếp xúc lúc đó. Họ không biết ngay cả những kiến thức rất sơ đẳng. Họ nói những điều không thể tưởng tượng được. Thí dụ như là về khoa học kỹ thuật Liên Xô vượt hẳn Mỹ, Việt Nam trong vòng mười năm nữa sẽ bắt kịp các nước tiên tiến. Và rất nhiều điều rất hoang đường khác. Đặc tính của những người dốt họ không biết mình dốt và nói những điều ngây ngô một cách đầy tự tin. Cảm tưởng của tôi lúc đó là cảm tưởng chua chát như nhìn thấy một đạo quân man rợ tràn ngập lên một nền văn minh.

Cuối tháng 5 thì được thông cáo các viên chức, công chức, quân nhân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa phải ra trình diện để đi học tập cải tạo. Cũng qua ông Diệp, ông Liếm và qua các tiếp xúc tôi hiểu rằng những người đi học tập cải tạo đó sẽ không phải chỉ đi trong vài ngày, vài tuần mà thời gian sẽ rất là dài. Tôi nói với hai ông Nguyễn Văn Diệp và La Văn Liếm rằng tôi rất cảm ơn họ nhưng không thể chấp nhận sự bảo vệ của họ được. Tôi nói với họ là tôi sẽ đi học tập cải tạo như bao nhiêu người khác hoặc là tôi sẽ trốn đi. Tôi không thể để bạn bè nhìn mình như một kẻ phản bội. Sau đó tôi trốn về miền Tây để dự định trốn ra nước ngoài nhưng bị bắt. Cũng nhờ hai ông Nguyễn Văn Diệp và La Văn Liếm tôi không bị đi cải tạo nhiều năm mà chỉ trong vòng ba năm rưỡi mà thôi.

TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng.

Ông vừa kể lại một vài nét về biến cố 30/4 mà ông đã chứng kiến. Ông cũng đã kể lại về những người cộng sản đầu tiên mà ông đã tiếp cận ngay những ngày đầu đó và đã để lại cho ông nỗi thất vọng

Chúng tôi muốn hỏi ông một điều. Như ông vừa nói so với trình độ khoa học kỹ thuật, về nhiều nhận thức, kiến thức những người đó rất tầm thường. So về nhiều khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đang được coi là hòn ngọc của Viễn Đông, mạnh mẽ về nhiều mặt, tự do tư tưởng bắt đầu manh nha, lại được Mỹ giúp sức nữa. Một chế độ như vậy tại sao lại không đánh thắng được chế độ cộng sản què quặt, lạc hậu, để nó xâm chiếm được miền Nam thưa ông?

NGK: Bây giờ bình tĩnh nghĩ lại thì lý do đầu tiên phải nói là Đảng Cộng Sản là một lực lượng khủng bố.

Muốn chống lại được một lực lượng khủng bố với những phương tiện cổ điển có lẽ phải có tương quan lực lượng 100 hay 1.000 chống lại 1. Trong nhiều năm qua chúng ta đã chứng kiến thế giới chật vật mà cũng không dẹp hẳn được lực lượng khủng bố Hồi Giáo toàn nguyên chỉ có vào khoảng 10.000 người thôi. Cho nên chống khủng bố là một điều rất khó khăn. Hơn nữa phong trào cộng sản lúc đó lại được một bối cảnh thế giới rất thuận lợi. Tôi ở bên Pháp được chứng kiến tận mắt hàng ngày. Lúc đó khủng bố không bị coi là hành động hèn nhát và thô bỉ như bây giờ đâu, trái lại nó được xưng tụng như một hành động anh hùng. Che Guevara, Fidel Castro, Hồ Chí Minh được coi là những thần tượng trong các cuộc biểu tình xảy ra hàng ngày tại Mỹ và Âu Châu.

Cho nên muốn thắng được khủng bố phải dứt khoát tranh thủ được lòng dân. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa không làm được điều đó và cũng không ý thức thức được điều đó.

Và cũng không chỉ có thế. Chúng ta nên biết rằng khi một chính quyền phải đương đầu với một cuộc chiến đấu sống còn thi lực lượng chỉ đạo phải là lực lượng chính trị và lực lượng này phải chỉ huy, phải điều khiển các lục lượng vũ trang. Tuy vậy phe chống cộng -Quốc Gia Việt Nam từ năm 1948 đến năm 1955, Việt Nam Cộng Hòa từ 1955 đến 1975- hoàn toàn không có lực lượng chính trị đó. Họ chỉ là một bộ máy quân sự và hành chính, một bộ máy được tiếp liệu chủ yếu nhờ viện trợ của Hoa Kỳ. Cho nên khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi Việt Nam và cắt viện trợ thì chế độ bị kiệt quệ rất nhanh chóng. Lúc đó tôi ở trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa nên có thể làm chứng cho sự kiệt quệ toàn bộ này. Đó chính là lý do khiến chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ nhanh chóng sau khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi một thời gian và cộng sản mở đợt tổng tấn công. Cần nhấn mạnh Việt Nam Cộng Hòa không có một lực lượng chính trị. Nó chỉ là một bộ máy hành chính và quân sự thôi. Nó giống như một bộ máy không có người điều khiển. 

Chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho Hoa Kỳ đã bỏ rơi Việt Nam. Điều đó không đúng. Sự thật là Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam 15 năm. Trong suốt lịch sử của Hoa Kỳ chưa bào giờ họ kiên nhẫn trong một cuộc can thiệp vào nước ngoài như ở Việt Nam. Phải nói chế độ Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại được vì không có sức sống chứ không phải vì bị Hoa Kỳ bỏ rơi.

TQT: Vâng Việt Nam Cộng Hòa lúc đó không còn sức sống nên bị cộng sản thừa cơ xâm chiếm và lấy được miền Nam. 

42 năm qua người Việt sau khi di tản đã lấy ngày 30/4/1975 làm ngày quốc hận. Hàng năm cứ đến ngày 30/4, người Việt hải ngoại tỵ nạn cộng sản đều tổ chức ngày quốc hận. 

Nhưng tôi nghĩ hình như Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên mà ông Nguyễn Gia Kiểng là một trong những người lãnh đạo chủ chốt lại xem ngày 30/4/1975 không phải là ngày quốc hận. Tại sao như vậy thưa ông?

NGK: Quả thực anh em chúng tôi không gọi ngày 30/4 là một ngày quốc hận. Trước hết chữ "hận" thường đi đôi với hận thù, đó là điều chúng ta nên tránh. Nhưng lý do chính là "quốc hận" có nghĩa là một tai họa cho quốc gia đáng lẽ có thể tránh được nhưng đã xảy ra vì một lý do đáng tiếc nào đó. Điều này không đúng. Chiến thắng của ĐCSVN là điều không thể tránh được trong bối cảnh quốc tế và quốc gia vào lúc đó, nhất là bối cảnh quốc gia. 

Ngày 30/4/1975 đã chính thức hóa một thất bại thê thảm nhưng không thể tránh được của toàn dân tộc Việt Nam. Không phải chỉ nhân dân miền Nam thất bại mà chính người miền Bắc cũng thất bại. Điều này tôi đã có thể nhận thấy ngay trước khi đi ở tù, chỉ sau một vài tuần tiếp xúc với những anh em từ miền Bắc tới tiếp thu, khi những cái mặt nạ đã rớt xuống và người ta có thể nói thực nhau. Họ không vui, nhiều người còn rất buồn vì Việt Nam Cộng Hòa đã không đủ quyết tâm chiến đấu để đến nỗi thất bại.

Sau này khi đọc những hồi ký của những cán bộ lão thành mà tôi chắc ông Thành cũng có đọc, tôi cũng thấy là trong đa số họ đã hiểu bản chất độc hại của đảng cộng sản ngay từ đầu nhưng không thể chống lại và do đó không dám chống lại. Tôi cũng đã tiếp xúc với nhiều quân nhân miền Bắc. Tuyệt đại đa số các bộ đội cũng chỉ vào Nam chiến đấu vì bị bắt buộc.

Những người thực sự chiến thắng chỉ là một vài ngàn người, có khi chỉ vài trăm người, chung quanh hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Họ khống chế Đảng Cộng Sản và dùng Đảng Cộng Sản để khuất phục và khống chế dân tộc Việt Nam. Đó là một thảm kịch quốc gia mà chúng ta vẫn chưa thoát khỏi. 

Nguyên nhân của thảm kịch đó là di sản văn hóa Khổng Giáo, trong đó những người có học thức chỉ có mộng ước được phục vụ một chính quyền dù là bạo ngược chứ không nghĩ là mình có trách nhiệm lãnh đạo xã hội và phục vụ dân tộc. Sau năm 1975 đã có hàng ngàn cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa dân sự cũng như quân sự ra được nước ngoài trong lứa tuổi cường tráng 30, 40, 50. Họ có đầy đủ phương tiện và kiến thức nhưng thử hỏi đã có bao nhiêu người tiếp tục tranh đấu cho những giá trị tự do dân chủ đã là lý do ra đời và tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng Hòa? Chỉ một vài người thôi. Điều này chứng tỏ chế độ Việt Nam Cộng Hòa không có ý chí và sức sống. Và nó không có ý chí và sức sống bởi vì nó chỉ là một guồng máy hành chính và quân sự chứ không phải là một lực lượng chính trị có tổ chức. Những người lãnh đạo các chính quyền quốc gia chống cộng -từ chính quyền Bảo Đại tới chính quyền Nguyễn Văn Thiệu qua chính quyền Ngô Đình Diệm và Hội Đồng Quân Nhân sau ông Diệm- không ý thức được rằng sứ mệnh của họ là xây dựng một nước Việt Nam dân chủ và độc lập sau một thời gian dài mất chủ quyền và trước đe dọa của một phong trào cộng sản đang gặp thời cơ thuận lợi. Họ không có một tư tưởng chính trị và một dự án chính trị nào cho Việt Nam. Họ cũng không có một chiến lược để đấu tranh với Đảng Cộng Sản. Đối với họ chính trị chỉ là tranh nhau cầm quyền, tranh nhau làm quan. Đại bộ phận những cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa là những viên chức của thời Pháp thuộc. Vào ngày 30-4-1975 ông tổng thống Dương Văn Minh và ông bộ trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn là hai cựu sĩ quan quân đội Pháp mặc dù người Pháp đã rút đi từ 20 năm rồi. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ vì nó đã không biết đổi mới để thích nghi với những đòi hỏi mới của đất nước. Các đảng đã từng chiến đấu và hy sinh cho độc lập dân tộc như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt đều đã bị đàn áp và loại ra ngoài chính quyền. Nói chung chế độ Việt Nam Cộng Hòa không chỉ không có bản lĩnh chính trị mà còn không có cả điều mà ta có thể gọi là sự chính đáng lịch sử, cho nên đã không tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân và sự thất bại là không tránh khỏi. Nếu không hiểu được điều này, và tôi cảm tưởng rằng một số người vẫn chưa hiểu, thì chúng ta không thể tranh đấu có hiệu quả để đánh bại được Đảng Cộng Sản và giành thắng lợi cho dân chủ.

Cũng cần phải nói là trong sự xô bồ của nó chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong 27 năm tồn tại đã tạo ra được một không gian tự do tương đối và nhờ đó dần dần đã tạo ra được một lớp người trẻ có tinh thần dân tộc và kiến thức chính trị, nhưng lớp trẻ này vào thời điểm 1975 chưa nắm được những vai trò lãnh đạo quyết định thì cuộc chơi đã chấm dứt. Thảm kịch là ở chỗ đó.

TQT: 42 năm đã trôi qua. Cộng sản đã chiếm được và đặt ách thống trị trên toàn thể đất nước Việt Nam. Theo ông Nguyễn Gia Kiểng trong 42 năm qua những gì đã thay đổi nhiều nhất, những gì gây ấn tượng nhất mà ông thấy trên đất nước? Và tương lai sẽ đi về đâu?

NGK: Rất nhiều điều đã thay đổi. Sự cáo chung của chế độ cộng sản là điều hoàn toàn chắc chắn và không còn xa nữa.

Đảng Cộng Sản không còn bất cứ một sự chính đáng nào cả. Cái hào quang giả tạo của cuộc đấu tranh giành độc lập đã hoàn toàn tan biến. Đại bộ phân nhân dân Việt Nam ngày hôm nay nhìn hai cuộc chiến được gọi là "chống Pháp" và "chống Mỹ" như một cuộc nội chiến tội lỗi do Đảng Cộng Sản cố tình gây ra. Phải nhấn mạnh không có tội nào lớn hơn tội gây ra nội chiến làm đồng bào bắn giết lẫn nhau và làm tan vỡ tinh thần dân tộc. Hào quang giả tạo giải phóng dân tộc đã hoàn toàn tiêu tan. Trái lại Đảng Cộng Sản đang được nhân dân nhìn như là một đảng đã đưa đất nước vào vòng lệ thuộc Trung Quốc, một quan thầy có bản năng lấn chiếm. Đảng Cộng Sản đã nhường cho Trung Quốc hơn 700 km vuông đất ở biên giới phía Bắc, đã cho Trung Quốc thuê dài hạn nhiều khu rừng đầu nguồn, đã dâng cho Trung Quốc một số đảo tại Trường Sa để Trung Quốc dựa vào đó mà vẽ ra cái đườn lưỡi bò quái đản làm cả thế giới phẫn nộ, đã cho Trung Quốc lập những khu của riêng người Trung Quốc khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam và lập những công ty hủy hoại môi trường. Formosa là hậu quả kinh hoàng nhất nhưng cũng chỉ là một trong những thí dụ mà thôi. Họ còn đàn áp thô bạo và cho công an và côn đồ đánh đập dã man những người dân chủ. Dưới mắt nhân dân Việt Nam chế độ cộng sản là một lực lượng chiếm đóng tham lam thô bạo chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. 

Huyền thoại Hồ Chí Minh cũng đã hoàn toàn bị lố bịch hóa, đã trở thành một trò cười.

Còn chủ nghĩa Mac - Lênin? Nó đã bị thế giới lên án như là một tội ác đối với nhân loại. Không còn một đảng viên cộng sản nào tin chủ nghĩa này cả, đại đa số còn không biết nó là gì. Ngay cả ông Nguyễn Phú Trọng và ông Đinh Thế Huynh cũng đã phải thấy nó sai và độc hại. Nền tảng ý thức hệ đã hoàn toàn sụp đổ.

Và cũng đừng quên rằng chế độ này đã bị tham nhũng và bất tài tàn phá đến độ kiệt quệ mất hết ý chí, tự trọng, đoàn kết nội bộ và cạn cả ngân quỹ. Nó đang khủng hoảng nặng cả về kinh tế lẫn đạo đức và chính trị vào giữa lúc mà một là sóng dân chủ mới, làn sóng dân chủ thứ tư trong lịch sử thế giới, đang dâng lên.

Mặt khác xã hội Việt Nam đã thay đổi. Lớp trí thức lão thành hụt hẫng về tư tưởng và lúng túng với quá khứ của mình đã qua đi. 

42 năm đã trôi qua, ba phần tư người Việt chưa sinh ra hoặc còn quá nhỏ vào thời điểm 30/4/1975. Ngày 30/4/1975 đã hoàn toàn thuộc vào lịch sử. Xã hội Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới.

Lớp trí thức mới, trưởng thành sau 1975, vừa dứt khoát với chủ nghĩa Mac - Lênin vừa nhìn rõ bản chất của chế độ cộng sản. Họ có kiến thức chính trị rộng hơn, vững hơn và chính xác hơn. Họ được thông tin nhanh chóng, đều đặn, đầy đủ. Họ biết thực trạng Việt Nam những gì xảy ra trên thế giới. Và họ ngày càng phẫn nộ với chế độ hiện tại, càng ngày càng thêm ý chí muốn thay đổi số phận của đất nước. Có thể nói chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của một lớp trí thức chính trị, một lớp người mà Việt Nam chưa bao giờ có và đang mong đợi. Một cuộc đổi đời nhất định phải đến.

Ngay trong lúc này nhiều người cho rằng phong trào dân chủ đang rệu rã và khựng lại. Tôi không chia sẻ cái nhìn bi quan đó. Phong trào dân chủ Việt Nam đang tạm thời khựng lại vì một lớp trí thức chính trị đang thành hình và ngày càng đông đảo. Lớp trí thức chính trị này đang ý thức rằng phải xét lại phương thức đấu tranh, phải từ bỏ lối đấu tranh nhân sĩ, lối đấu tranh cá nhân và phải đấu tranh có tổ chức bởi vì đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả mà luôn luôn phải là đấu tranh có tổ chức. Và tổ chức phải được xây dựng một cách có bài bản trên một tư tưởng chính trị, một dự án chính trị và một đội ngũ nòng cốt. Tôi tin chắc rằng phong trào dân chủ sẽ khởi sắc sau cuộc xét lại rất cần thiết này. Đất nước nhất định sẽ thay đổi vì trên thực tế nó đã thay da đổi thịt.

TQT: Đất nước đã thay da đổi thịt. Đó là niềm tin vững chắc của người Việt Nam chúng ta khi nhìn về tương lai. Xin chia sẻ với ông Nguyễn Gia Kiểng niềm tin đó và xin cảm ơn ông. 

30/4/1975


zondag 28 april 2013

30-4-1975: Thắng cuộc hay Tội đồ?

30-4-1975: Thắng cuộc hay Tội đồ?
Trần Gia Phụng (Danlambao) - Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975. Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc. Nhân ngày 30 tháng 4 sắp đến có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

I. Thế nào là bên Thắng cuộc?

Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc? Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.

Những bên tham chiến vừa qua là: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN), Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN). Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN. Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và MTDTGPMN tuy hai mà một, do đảng Lao Động (LĐ) điều khiển. Tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, được mệnh danh là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa“giải phóng hoàn toàn miền Nam...” (1). Sau Đại hội nầy, đảng LĐ thành lập MTDTGPMNVN, ra mắt tại Hà Nội ngày 12-12-1960 và ra mắt tại xã Tân Lập, quận Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (vùng chiến khu Dương Minh Châu) ngày 20-12-1960.

Trong chế độ dân chủ, quyền tuyên chiến, quyền quyết định chiến tranh, một vấn đề tối quan trọng, liên hệ đến vận mạng đất nước, thuộc về quốc hội, đại diện toàn dân quyết định. Ở BVN, quyết định chiến tranh và tuyên chiến, lại do đảng LĐ quyết định, chứ không do quốc hội, chứng tỏ rõ ràng rằng đảng LĐ nắm quyền tuyệt đối ở BVN, và nhà cầm quyền Hà Nội chỉ là bù nhìn của đảng LĐ mà thôi. Thế là BVN khởi binh đánh NVN.

Tuy viện cớ thống nhất đất nước, nhưng thực sự đảng LĐ quyết tâm đánh chiếm miền Nam vừa vì tham vọng bành trướng cố hữu của CS, vừa làm tay sai quốc tế cho Liên Xô và Trung Quốc. Lê Duẩn bí thư thứ nhất đảng LĐ, đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc.” (2) 

Liên Xô (LX) và Trung Quốc (TQ) đều mang đặc tính chung của các nước CS là luôn luôn chủ trương bành trướng, bá quyền. Tại LX, ngày 15-10-1964, Leonid Brezhnev đảo chánh và lên làm thư ký thứ nhất đảng CSLX thay Nikita Khrushchev. Brezhnev, tăng cường viện trợ BVN, gởi quân và chuyên viên sang giúp BVN. Đây là khởi đầu chủ trương can thiệp mới của Liên Xô, mà về sau các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev, theo đó. “Nguyên lý Xô viết về luật quốc tế khẳng định quyền của Cộng đồng Cộng sản can thiệp bất cứ ở đâu mà các lực lượng nội tại và ngoại lai thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản tìm cách biến đổi sự phát triển một nước theo chủ nghĩa xã hội hướng về chủ nghĩa tư bản, một tình thế được xem có tính cách đe dọa đối với tất cả các nước cộng sản.” (3) 

Trung Quốc ở sát ngay phía bắc của Việt Nam. Từ năm 1950, TQ giúp CSVN vừa vì sự cầu viện của CSVN và của Hồ Chí Minh, vừa vì lợi ích an ninh bản địa TQ. Mao Trạch Đông đã từng nói: “Không thể chỉ nói Trung Quốc giúp Việt Nam, phải nói rằng Việt Nam cũng giúp Trung Quốc là sự giúp đỡ lẫn nhau.” 

Thật vậy, từ năm 1956, mối bang giao TQ - LX rạn nứt. Liên Xô bao vây TQ ở phía bắc và phía tây. Phía tây nam, Ấn Độ chận TQ. Phía đông (biển Thái Bình) là hàng rào ba nước đồng minh của Hoa Kỳ và ký hiệp ước phòng thủ song phương với Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nếu để cho Hoa Kỳ bao vây luôn BVN, thì TQ bị chận hết các đường ra biển. Vì vậy, TQ giúp BVN chẳng những do ý thức hệ CS và sự cầu viện của BVN, nhưng đồng thời cũng do TQ bị bao vây các mặt, trừ một phần phía nam TQ là BVN.

Năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam không đồng ý chia hai đất nước, nhưng nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Genève (20-7-1954). Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa năm 1955. Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ tự do dân chủ, dầu hạn chế vì chiến tranh, duy trì nền văn hóa dân tộc cổ truyền, hệ thống giáo dục khai phóng, cởi mở, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại cuộc xâm lăng của BVN. Tuy nhiên, vì yếu sức, VNCH phải nhờ đến sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. 

Sau thế chiến thứ hai, từ năm 1946, trên thế giới bắt đầu xảy ra chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và CS. Hai khối tư bản và CS tranh chấp quyết liệt trên toàn cầu. Tuy vậy Hoa Kỳ và Liên Xô tránh đụng độ trực tiếp vì cả hai đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai đều thiệt hại. Tình trạng tranh chấp căng thẳng nhưng không đánh nhau nầy, gọi là chiến tranh lạnh.

Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô và khối CS dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để tuyên truyền và bành trướng thế lực. Hoa Kỳ và khối tư bản cho rằng khi một nước bị CS chiếm quyền, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo. Đó là nguồn gốc thuyết domino tại các nước Tây phương, nhất là Hoa Kỳ.

Vì vậy, khi TQ (ngày 18-1-1950) rồi LX (ngày 30-1-1950) thừa nhận nhà nước VNDCCH do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, thì Hoa Kỳ (ngày 4-2-1950) và Anh (ngày 7-2-1950) thừa nhận chính phủ QGVN do Bảo Đại làm quốc trưởng. Từ đó, Hoa Kỳ giúp Pháp và QGVN chống lại CSVN.

Sau hiệp định Genève, Việt Nam bị chia hai. Để ngăn chận làn sóng CS ở Đông Á, nhất là ngăn chận Trung Quốc xuống phía nam, Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954. Từ đó ra đời Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước Australia (Úc), France (Pháp), New Zealand (Tân Tây Lan) Pakistan (Hồi Quốc), Philippines (Phi Luật Tân), Thailand (Thái Lan), United Kingdom (Anh), và United States of America (Hoa Kỳ).

Trong phụ bản (protocol) của hiệp ước SEATO, ba nước Cambodia (Cao Miên), Laos (Lào) và NVN được liệt kê trong vùng lãnh thổ được SEATO bảo vệ. Hoa Kỳ dựa vào phụ bản nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á, và giúp xây dựng NVN thành một “tiền đồn chống cộng”. Lúc đầu, Hoa Kỳ chỉ gởi cố vấn sang giúp NVN. Từ năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến.

Tuy nhiên, vào cuối thập niên 60, tình hình thay đổi.

1) Giới phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

2) Trong khối CS, cuộc tranh chấp LX-TQ càng ngày càng trầm trọng. Chính phủ Hoa Kỳ liền thay đổi chính sách ngoại giao toàn cầu. Khi lên cầm quyền năm 1969, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định rút quân ra khỏi NVN bằng kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh nhằm yên lòng dân chúng Hoa Kỳ; đồng thời Nixon thay đổi chính sách ngoại giao đối với khối CS, hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô, đào sâu sự chia rẽ giữa LX và TQ.

Richard Nixon sang thăm TQ từ 21-2 đến 28-2-1972, và ký kết với thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bản Thông cáo chung Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng cho chính sách của cả hai bên về Đông Á cho đến ngày nay. Tiếp theo, Richard Nixon thăm Liên Xô từ 22 đến 30-5-1972, cùng Leonid Brezhnev ký kết hiệp ước SALT (Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp ước giới hạn võ khí chiến lược) ngày 26-5-1972, và hứa hẹn sẽ cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc (most favored nation).

Sau hai cuộc viếng thăm nầy, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam. Quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ cho VNCH. Quân đội VNCH thiếu nhiên liệu, thiếu phương tiện chiến đấu, đành buông súng; VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975.

II. Ai là bên Thắng cuộc?

Dựa trên mục đích của các bên tham chiến và diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam được sơ lược trên đây, vấn đề đặt ra là ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?

Trước hết và rõ ràng nhất, sau cuộc chiến vừa qua, người CS thường huyênh hoang tự hào là họ là kẻ thắng cuộc. Quả thật, ngày 30-4-1975, VNCH sụp đổ, VNDCCH chiếm được NVN, thực hiện mục tiêu “giải phóng” miền Nam đã được đề ra trong Đại hội III đảng LĐ ở Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Tuy nhiên, sau khi CS làm chủ toàn bộ đất nước, CS có thật sự là bên thắng cuộc hay không?

Ngay tức khắc, sau khi CS chiếm NVN, khoảng 150.000 người di tản ra nước ngoài. Tiếp đến là phong trào vượt biên. Dầu CS kiểm soát gắt gao, khoảng trên 1.500.000 bỏ nước ra đi bằng tất cả các phương tiện, “cây cột đèn cũng muốn ra đi”, trong đó khoảng 500.000 người bỏ mình ở biển Đông. Biển Đông trở thành nghĩa địa biển lớn nhất thế giới. Ở trong nước, nhiều phong trào nổi lên chống đối CS đều bị đàn áp. Như thế, CS chiến thắng bằng súng ống, chiếm được đất đai, nhưng hoàn toàn thất bại về nhân tâm, không chiếm được lòng người, không thống nhất được lòng dân.

Những người ra đi bị ghép tội “phản động”, chạy theo bơ sữa “đế quốc Mỹ” năm 1975, sau đó bỗng chốc trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “Việt kiều yêu nước”. Nhà nước CS kêu gọi hòa giải hòa hợp với “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chỉ có một nhóm người đếm được trên đầu ngón tay, tìm kiếm chút hư danh, về nước nói là “đóng góp xây dựng đất nước”, trong khi đại đa số người Việt hải ngoại chẳng có nhu cầu hòa giải hòa hợp với CS toàn trị. Về Việt Nam du hí thì có, nhưng về Việt Nam để giúp chế độ CS thì không. Như thế, CSVN có phải là “bên thắng cuộc” hay không?

Phải vay nợ súng ống thì mới có súng ống chiến đấu. Cộng sả n Vay nợ LX và TQ. Vay nợ thì phải trả nợ. Sau năm 1975, CSVN trả nợ LX, giao hải cảng Cam Ranh cho LX và muốn chạy theo LX để xù nợ TQ, liền bị TQ dạy cho một bài học năm 1979, làm 6 tỉnh biên giới tan hoang. Năm 1990, khối Đông Âu sụp đổ, CSVN quay qua đầu phục TQ ở Thành Đô (TQ), đưa đến các hiệp ước 1999 và 2000, mất đất mất biển. Sau đó còn nhiều chuyện tiếp theo, thuê rừng, khai thác bauxite, tấn công ngư dân...

Sau năm 1975, một điểm nổi bật là hầu hết người BVN, từ cán bộ, bộ đội, đến thường dân, khi vào Nam đều học theo cách sống của người Nam, chứ hầu như người Nam không học theo người Bắc. Người Bắc (1975) thích ăn bận theo người Nam, đua đòi thời trang miền Nam, nghe nhạc Nam mà CS gọi là "nhạc vàng", đọc sách Nam, từ tiểu thuyết trữ tình, tiểu thuyết kiếm hiệp đến văn chương, triết học, và làm tất cả các cách để thành người Nam. Ngay cả những cán bộ cao cấp trong Bộ chính trị đảng LĐ (năm 1976 cải danh thành đảng CS) cũng từ bỏ bộ áo quần đại cán cao cổ để ăn bận Âu phục theo kiểu người Nam. Chẳng những thế, hầu như toàn thề BVN cũng được Nam hóa, trang bị bằng sản phẩm của NVN, nghĩa là được đồng hóa theo NVN. Cho đến nay, CSVN muốn trở lại con đường của NVN, duy chỉ muốn bảo vệ quyền lực đảng CSVN. Ngang đây, cũng tạm đủ để cho thấy CSVN có phải là kẻ thắng cuộc hay không?

Về phần VNCH, ngày 30-4-1975, quân đội VNCH bị thiếu tiếp liệu, súng ống, đành phải ngưng chiến đấu. Chính phủ VNCH sụp đổ. Cộng sản đặt ách thống trị lên NVN. Tuy nhiên, dân chúng còn bị kẹt lại ở trong nước, vẫn quy hướng về chính thể VNCH, vẫn mong muốn hít thở không khí tự do dân chủ của VNCH, luôn luôn tưởng nhớ VNCH, nghĩa là linh hồn VNCH vẫn còn đó. Vì bị đàn áp, dân chúng đành lặng thinh, nhưng ai ai cũng mong sẽ có ngày giải trừ CS, tái xây dựng chế độ Cộng hòa. Vậy làm thế nào giải thích hiện tượng nầy? Phải chăng VNCH chỉ tạm thời thất bại năm 1975 nhưng vẫn chưa bị tiêu diệt. Anh linh VNCH còn đó. Ai cũng tin sẽ có ngày VNCH phục sinh. Thời gian sẽ trả lời.

Về các nước ngoài: Hoa Kỳ mang tiếng là đã bị CSVN đánh cho “Mỹ cút”, nhưng thật sự Mỹ không cút, Mỹ cũng chẳng “tháo chạy” (như tựa đề quyển sách Khi đồng minh tháo chạy), mà phải nói cho thật đúng diễn tiến lịch sử là Mỹ tức Hoa Kỳ ngưng, không tiếp tục hiện diện ở Việt Nam vì thay đổi chiến lược toàn cầu của họ, và Hoa Kỳ đã thành công trong các mục tiêu chiến lược của họ: Rút quân khỏi Việt Nam, giải quyết chuyện nội bộ Hoa Kỳ, bắt tay với Trung Quốc, và cuối cùng chiến thắng cuộc chiến tranh lạnh với LX khi LX sụp đổ năm 1991. Riêng nội bộ Hoa Kỳ, nhân dân Hoa Kỳ mất gần 60,000 thanh niên ưu tú trong chiến tranh Việt Nam. Đổi lại Hoa Kỳ thí nghiệm nhiều loại võ khí tối tân tại Việt Nam, kể cả những chuyến oanh kích thử nghiệm đầu tiên của B52. Tư bản kỹ nghệ võ khí Hoa Kỳ thu lợi như thế nào thì không được thống kê đầy đủ.

Ngoài ra, một số đồng minh của Hoa Kỳ cũng hưởng lợi: Nhật Bản phục hưng nhanh chóng nền kỹ nghệ sau thế thiến thứ hai nhờ cung cấp hàng tiêu dùng cho Việt Nam, nhất là cho quân nhân Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam. Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân nhờ VNCH làm lá chắn ngăn chận làn sóng CS và các nước nầy kịp phục hồi kinh tế và an ninh để chống lại sự bành trướng của TQ.

Trung Quốc thu lợi nhiều mặt. Trước hết, thông qua chiến tranh Việt Nam, TQ bắt tay được với Mỹ năm 1972, được Mỹ thừa nhận chỉ có một nước TQ, công nhận Đài Loan là một phần lãnh thổ TQ, công nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy, ý ám chỉ Liên Xô. Đó là những điều TQ mong muốn nhất.

Về biển Đông, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ để TQ viện trợ cho BVN đáng NVN. Vì vậy năm 1974, nhân cơ hội VNCH bị Mỹ bỏ rơi, bị BVN tấn công dồn dập, TQ ra tay cướp đoạt Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH. Sau năm 1975, khi CSVN chạy theo LX, muốn trốn nợ TQ. Trung Quốc liền đánh 6 tỉnh biên giới năm 1979, dạy cho CSVN một bài học. Vì vậy, khi Đông Âu lung lay, CSVN qua Thành Đô xin đầu hàng TQ năm 1990, đưa đến hai hiệp ước 1999 và 2000. Trung Quốc chiếm đất, chiếm biển của Việt Nam. Như vậy, tuy không được tiếng là bên thắng cuộc, nhưng TQ là kẻ thu hoạch nhiều nhất sau chiến tranh Việt Nam.

Liên Xô viện trợ cho BVN không kém gì TQ. Đầu năm 1975, viện trợ của LX cho BVN để BVN đánh NVN tăng gấp bốn lần so với trước. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tr. 481.) Sau năm 1975, Việt Nam gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội đồng Tương trợ Kinh tế) ngày 27-6-1978. Ngày 3-11-1978, Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN, sang Liên Xô và ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX,Hiệp ước Hai mươi lăm năm Hỗ tương và Phòng thủ giữa hai nước. Từ sau hiệp ước nầy, hải quân Liên Xô bắt đầu tiến vào sử dụng hải cảng Cam Ranh làm căn cứ tại Viễn đông.

Có hai ảnh hưởng gián tiếp đáng ghi nhận sau chiến tranh Việt Nam:

1) Khi rời bỏ Việt Nam năm 1975, Hoa Kỳ chủ trương để lại nguyên vẹn và không phá hủy tất cả máy móc thiết bị mà Hoa Kỳ giao lại cho VNCH. Cộng sản rất mừng tiếp nhận được những chiến lợi phẩm nầy. Sau ngày 30-4-1975, đại diện các nước CS trên thế đến thăm viếng NVN, chúc mừng sự thành công của CSVN, rất ngạc nhiên về những chiến lợi phẩm nầy, sự tiến bộ vượt bậc về khoa học, kỹ thuật, y khoa của Hoa Kỳ so với Liên Xô mà lâu nay Liên Xô bưng bít, giấu kín. Nhờ đó, các nước Đông Âu mới biết rõ sự cách biệt giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, khiến họ giảm tin tưởng đối với đàn anh Liên Xô và bắt đầu nhìn về phía Hoa Kỳ, nhập cảng sản phẩm của Hoa Kỳ, tạo tâm lý thuận lợi cho sự sụp đổ của khối CS.

2) Làn sóng vượt biên vĩ đại của người Việt Nam chạy ra nước ngoài tỵ nạn CS sau năm 1975, khiến cho lương tâm thế giới, nhất là các nước Tây Âu, lâu nay thiên tả là một “thời trang”, bừng tỉnh về giấc mộng “xã hội chủ nghĩa”, ghê sợ và chán ghét các chế độ CS. Các nước Tây Âu quay qua giúp đỡ các phong trào kháng chiến ở các nước CS Đông Âu, góp phần dần dần đưa đến sự sụp đổ của hệ thống CS Đông Âu.

III. Kết luận

Đặt kết quả chiến tranh Việt Nam trong chiều rộng của không gian và trong chiều dài của thời gian, mà vẫn khó có thể thẩm định ai là bên thắng cuộc. Tuy nhiên chắc chắn có hai điều rất rõ ràng:

1) Toàn dân Việt Nam ở cả Bắc và Nam Việt Nam đều thua cuộc về nhiều mặt. Ngoài thiệt hại vật chất, nhà cửa, ruộng vườn, hàng triệu gia đình tan nát vì chủ nghĩa CS, hàng triệu người tử vong vì chiến tranh do CS gây ra, nền văn hóa và đạo đức suy đồi trầm trọng.

2) Thủ phạm của tấn thảm kịch nầy chính là kẻ đã du nhập chủ nghĩa CS ngoại lai bạo tàn, chính là kẻ đã rước voi về giày mồ tổ tiên, chính là kẻ chủ trương gây chiến để phục vụ quyền lợi ngoại bang và chỉ làm lợi cho ngoại bang dù là CS hay tư bản. Chúng là những tên phản quốc dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho kẻ thù phương bắc. Đám nầy không ai khác hơn là tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN. Sau năm 1975, chúng dần dần lộ diện. Chúng mất trắng tất cả vốn liếng chính trị mà chúng đã dày công lừa phỉnh toàn dân Việt Nam và thế giới. Chúng không phải là bên thắng cuộc. Chúng chẳng những trở thành kẻ thua cuộc, mà chúng còn là tội đồ dân tộc. Lịch sử sẽ ghi tội, hậu thế sẽ đời đời lên án.



_____________________________

Chú thích

(1) Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 2001, tt. 154-155.

(2) Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

(3) The New Lexicon Webster's Encyclopedic Dictionary of English Language, Nxb. Lexicon, New York, 1988, mục "Brezhnev Doctrine".

(4) La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch. Montreal: Nxb. Tạp chí Truyền Thông (in lại), số 32 & 33, 2009, tr. 27.)
 

Video Ngày cuối của Sài Gòn 30-4-1975

Ngày cuối của Sài Gòn

Square1 (Danlambao) - Đây là trích đoạn của phim tài liệu dài 60 phút tên The fall of Saigon, tập thứ 12 trong bộ phim Battlefield Vietnam do mạng lưới truyền hình Mỹ PBS thực hiện năm 1999. Trước đây, square1 đã dịch, đã đăng trong blog của mình, và chỉ vài ngày sau, video có tiếng Việt bị các... a... người quen xông vào, đập đầu, còng tay, bịt mắt lôi đi đâu mất tích!

Nay nhờ youtube có khả năng ghi lại lời dịch ngay trong youtube, nên square1 dịch lại. Không biết các "người quen" có xông nổi vào nhà youtube mà cưỡng chế cái video này nữa hay không?

Theo youtube, đến hôm nay, video đã được xem 75,775 lần.

Ghi chú: (*) Câu  cái cột đèn ở Sàigòn nói: "giá mà tao đi được... là do square1... thêm vào, không có trong video!

 

30-4-1975 Hồi tưởng

30-4-1975 Hồi tưởng
Hoàng Sơn Long (Danlambao) - Đã 38 năm trôi qua, một thời gian khá dài có những việc với trí nhớ của con người có thể quên đi hoặc có nhớ lại hình như nó rất mơ hồ. Nhưng có những việc người ta không quên được, mỗi một lần có dịp hồi tưởng, nó lại hiển hiện trước mắt y như vừa mới xảy ra. Sự kiện đó trở thành một dấu ấn khắc sâu vào tâm trí con người, và nó mãi mãi in đậm vào lòng có khi đến chết vẫn còn mang theo. Những người thuộc thế hệ 4X của thiên niên kỷ trước được sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh, có thể nói chúng tôi là chứng nhân hay nạn nhân của một cuộc chiến kéo dài trên 20 năm.

Vào đầu thập niên 60 chúng tôi là những thanh niên mang bầu nhiệt huyết. Chúng tôi biết chiến tranh đang xảy ra trên quê hương. Chúng tôi tham gia vào cuộc chiến với lí tưởng muốn phục vụ quốc gia dân tộc. Ở lứa tuổi chúng tôi không có nhiều con đường để lựa chọn, nếu không được vào các trường đại học chuyên nghiệp như kỹ thuật, luật khoa, y, nha, dược, sư phạm… để tiếp tục con đường học vấn thì trước sau gì cũng phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Vào quân trường học bài học đầu tiên “Quân trường đổ mồ hôi, sa trường bớt đổ máu.” Qua thời gian huấn luyện, ra chiến trường chúng tôi đối diện với bom đạn mìn bẫy, với cái chết trong gang tấc. Bao nhiêu người bạn, người đồng đội không trở về hậu cứ sau những cuộc hành quân. Những chiếc khăn tang trên quấn trên đầu người góa phụ. Trong trái tim chúng tôi trở thành chai đá. Bất cần đời, sống nay chết mai. 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi người lính theo khai sinh có 30 năm và 4 tháng tuổi, với 9 năm quân vụ, từ quân khu thuyên chuyển về tiểu khu được 2 tuần. Chưa nhận nhiệm vụ gì hết, mấy ông đơn vị trưởng khi đọc tướng mạo quân vụ của tôi đền ngần ngại không muốn thu dụng tôi. Thế thì, sáng cà phê, trưa hủ tiếu, chiều đi nhậu với bạn bè. Thanh niên trong thời khói lửa chắc không mấy người được như vậy. Hơn nữa lúc này tình hình đang sôi động, an nhàn lúc nào hay lúc đó. Sáng ngày 30 sau khi vào đơn vị cho có mặt xong tôi chuồn ra quán nhâm nhi ly cà phê đen. Nhạc tình ru hồn người buổi sáng nó nhạt nước ốc. Đột nhiên quán tắt nhạc và mở radio để nghe đài phát thanh Sài Gòn phát đi lời kêu gọi của Tổng Thống Dương Văn Minh. Bây giờ trong lời tuyên bố phần đầu, tôi không nhớ rõ lắm nhưng tôi còn nhớ tổng quát lời ông Minh nói: “...Tôi yêu cầu các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó…” Tôi như người vừa tỉnh giấc mơ hư thực thế nào đây? Lập tức trả tiền ly cà phê chạy về đơn vị xem sao. 

Một không khí nặng nề bao trùm cả trung tâm yễm trợ tiểu khu, mọi người đều ngơ ngác, không biết phải làm gì. Quân địch còn chưa đến, vậy đầu hàng với ai? Tôi về nhà ăn trưa và không định trở lại đơn vị. Nằm nhà mở ra radio để nghe tin, nhưng tất cả đều im lặng. Vào lúc 2 giờ trưa hôm đó đài phát thanh Sài Gòn phát bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do chính tác giả hát sau đó ông còn kêu gọi mọi người nên họp tác với chánh quyền cách mạng. Tôi tự hỏi Trịnh Công Sơn là Việt cộng hay là kẻ cơ hội. 

Tình hình ở đây vào lúc nầy giống như các tỉnh miền Trung. Việt cộng chưa đến, chính quyền bỏ dân chạy trước. Không riêng gì tỉnh lỵ tôi, hầu hết quân khu IV quân lính và vũ khí vẫn còn đầy đủ. Mặc dù chúng tôi nghe đài phát thanh bảo bỏ súng đầu hàng Việt cộng, nhưng buổi trưa hôm đó ông Đại tá tỉnh trưởng đứng trước Tòa Hành Chánh bảo binh sĩ phải tử thủ. Tôi không biết ông nhận lệnh ai. Cá nhân tôi cũng không biết nghe ai. Mỉa mai thay đến chiều tối lại mới hay tin ông Tỉnh trưởng lấy máy bay trực thăng đi mất. Tội thật sự thất vọng về vị chỉ huy nầy, tôi có cảm tưởng như mình bị lừa dối. Một hình ảnh luôn ám ảnh tôi cho đến ngày hôm nay, tôi muốn tìm một lí do để giải thích. Tiếp quản đơn vị tôi không phải là những anh bộ đội mà là những tên du kích cộng với dân nằm vùng và một vài tên 30/4 trên cánh tay buộc khăn đỏ. Giá như trước đây tôi chỉ ho một tiếng thì mấy tên này cũng chạy té khói. Bây giờ đúng là mèo vuốt râu cọp. 

Cuộc chiến tranh kéo dài từ bao năm nay, bỗng dưng chấm dứt một cách đột ngột. Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh làm mọi người hoang mang, mới nghe tưởng như lời nói đùa, nhưng có lời chấp thuận đầu hàng của phía bên kia và những lời phát thanh nầy được phát liên tục. Như vậy cuộc chiến nầy không đánh nữa mà phải bỏ vũ khí đầu hàng kẻ địch. Với tôi việc ra trận mà buông súng đầu hàng địch trong khi chưa bắn một viên đạn nào là một điều sỉ nhục trong lòng tôi tự hỏi và rất băn khoăn. Đời mình sẽ ra sao? Con đường binh nghiệp coi như chấm dứt, chắc phải về nhà đuổi gà cho vợ. Cái suy tính đầu tiên là làm sao tìm một lối thoát an toàn cho cá nhân. Câu hỏi đi đâu bây giờ? Tổ chức nào dung chứa mình. Chạy ra nước ngoài phương tiện đâu? Hoàn cảnh mình bây giờ có thể ví như con cá trong rọ. 

Năm 1973 Hiệp định Paris được bốn bên tham chiến ký kết nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình cho Việt Nam đã không được thi hành. Chỉ có người Mỹ thực thi là rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam và cắt giảm viện trợ cho chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 17 tháng 4 năm 1975 Thượng Viện Hoa Kỳ từ chối viện trợ khẩn cấp 722 triệu đô la mà Tổng Thống Gerald Ford đề nghị. 

Ngày 20 tháng 4 năm 1975 Đại sứ Mỹ ông Martin thuyết phục ông Thiệu từ chức. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức trước Quốc hội và trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Trong bài diễn văn của Tổng Thống Thiêu, ông không quên tố cáo người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Ông còn hứa sẽ trở về với quân đội để cùng anh em chiến sĩ để chiến đấu chống quân xâm lược. Nhưng lời hứa của ông không thực hiện, sau đó ông và gia đình được tòa đại sứ Mỹ bí mật đưa ra phi cơ trong đêm tối để rời Việt Nam. Việc ông rời Việt Nam không mang theo 16 tấn vàng đã bạch hóa về sau. 

Ngày 19 tháng 4 năm 1975 quân trú phòng Xuân Lộc được lệnh rút về phòng thủ Sài Gòn. Mười ngày trước đó cộng sản đã tập trung 3 sư đoàn đánh chiếm thị xã Xuân lộc. Nhưng bên VNCH đưa Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Sư Đoàn 18 bộ binh, tiểu đoàn 83 Biệt Động Quân với sự yễm trợ của Sư đoàn 3 Không Quân đã đánh bật quân cộng sản ra khỏi cứ địa Xuân Lộc. Đây là trận thư hùng cuối cùng của hai bên trước khi chiến tranh kết thúc. Trên võ đài hai võ sĩ đấu với nhau phải có sự cân xứng thì trận đánh mới phân biệt cao thấp. Phía Việt Nam Cộng Hòa bị trói chặt tay chân phải lệ thuộc vào quân viện từ 2,1 tỷ năm 1973 đến năm 1975 chỉ còn 700 triệu nhưng Quốc hội Hoa Kỳ không chịu tháo khoán. Như vậy làm sao quân đội Việt Nam Cộng Hòa có thể đánh trận được? 

Ngày 10 tháng 3 năm 1975 miền Nam mất Ban Mê Thuộc. Quân Đoàn II bị áp lực của cộng sản. Tổng Thống Thiệu ra lệnh triệt thoái khỏi cao nguyên. Phía Bắc lính Bắc Việt vượt sông Bến Hải trắng trợn xâm lăng miền Nam. Ngày 23 tháng 3 mất Huế rồi Đà Nẵng. Trong khi đó Mỹ không có một hành động can thiệp nào nhưng Tổng thống Mỹ vẫn cam kết với Tổng thống Thiệu luôn đứng sau lưng Việt Nam Cộng Hòa. Ban đêm nghe đài phát thanh BBC tường thuật các thành phố miền Trung bỏ ngỏ trước khi quân Bắc Việt tiến vào. Ngày hôm sau hoặc ngày kế tiếp đài phát thanh bên ta mới cho biết tình hình chiến sự. Quân trang quân dụng của ta bị quân địch chiếm dụng và tiếp tục đánh mạnh thêm. Quân lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt làm tù binh lên đến mấy chục ngàn người. 

Ngày 27 tháng 4 năm 1975 thành phố Sài Gòn bị quân đội cộng sản pháo kích. Ba loạt hỏa tiển rơi vào trung tâm Sài Gòn báo cho biết quân đội Bắc Việt đang tiến gần đến thủ đô. Trung tuần tháng 4 năm 1975 sứ quán Mỹ bắt đầu cho người Mỹ và thân nhân của họ rời Việt Nam với một thủ tục đơn giản, tốc độ ra đi càng nhanh theo đà tiến quân của Việt cộng. Người Mỹ bắt đầu cho di tản các công dân Mỹ và những người Việt làm cho các cơ quan Mỹ một cách ồ ạt sau khi ông Vũ Văn Mẫu yêu cầu người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Làn sóng người Việt chạy đến các sứ quán ngoại quốc, đến phi trường Tân Sơn Nhất hay các bến tàu để tìm đường vượt thoát khỏi Việt Nam đã tạo ra cảnh hỗn loạn. Trong khi đó ngoài mặt trận các sĩ quan và quân lính Việt Nam Công Hòa vẫn còn chiến đấu ngăn chận quân địch. Họ không hay biết gì về tình hình thủ đô Sai Gòn đang thay đổi từng giờ. 

Ngày 28 tháng 4 năm 1975 Đại tướng Dương Văn Minh nhận lãnh vai trò Tổng Thống để điều đình với Việt cộng. Tướng Vĩnh Lộc thay thế Đại tướng Cao Văn Viên. Tướng Lộc kêu gọi binh sĩ phải chiến đấu đến cùng và không được bỏ chạy như một số tướng tá đã làm. Nhưng cuối cùng ông cũng phải tìm đường thoát thân trước với những phương tiện có sẵn trong tay. 

Sáng ngày 29 tháng 4 một số lớn cứ điểm phòng thủ trong vòng đai Sài Gòn đã bị quân Bắc Việt phá vỡ. Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích nặng nề và một số phi cơ bị hư hại khiến cho cuộc di tản trở nên khó khăn. Một số phi cơ đi yễm trợ các đơn vị bạn khi trở về không thể hạ cánh ở phi trường nên đành phải bay qua Thái Lan hay ra hạm đội 7 của Mỹ đang chờ ngoài bờ biển Việt Nam. Họ ra đi một cách bất ngờ không có dự tính trước. 

8 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi nóc nhà tòa đại sứ Mỹ. Ông Graham Martin Đại sứ Mỹ là người rời sứ quán sau cùng. 10 giờ 45 phút chiến xa T54 mang số hiệu 843 tiến vào cổng phụ của dinh Độc Lập và dừng lại đây, cùng trong lúc đó một chiếc T54 khác mang số 390 húc vào cổng chính của Dinh Độc Lập và chạy thẳng vào phủ Tổng Thống. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã được treo lên nóc Dinh Độc Lập. Kể từ giây phút đó chế độ Việt Nam Công Hòa không còn nữa. 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong lòng mỗi người Việt Nam mang một nghĩa khác nhau. Người Việt tị nạn Cộng sản gọi Ngày Quốc Hận, Ngày Quốc Nhục hay Tháng Tư Đen. Riêng cán binh Cộng sản thì họ ăn mừng ngày chiến thắng. Đặc biệt có một nhà văn nữ miền Bắc sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi bà vào tham quan thành phố Sai Gòn đã phát biểu: “Sau ngày 30 tháng 4 người miền Bắc tràn vào Sài Gòn và vui mừng như điên dại. Chỉ riêng Bà như một con điên. Bởi vì mọi người đang vui mừng thì bà lại khóc như Bố chết.” Bà giải thích tại sao bà khóc, vì bà cảm thấy cuộc chiến tranh nầy là một trò đùa rất ngu xuẩn của lịch sử. Tất cả năng lực của một dân tộc bị dồn vào cuộc chiến phi lí. Bà còn nói thêm “Bên quân thắng trận lại thuộc một thể chế man rợ hơn bên người thua trận. Bà cảm thấy tuổi trẻ của bà đã mất đi một cách oan uổng, đồng thời mang theo một nỗi hoang mang và cay đắng‎.” Bà còn chiêm nghiệm thêm không phải bao giờ cái đẹp (cái thiện) cũng chiến thắng cái xấu. Có khi nó còn bị tan nát, vùi dập. Nền văn minh phải chịu thua đôi khi phải qui hàng những thứ man rợ rừng rú!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 người dân miền Nam phải chịu những nỗi nhọc nhằn. Tủi nhục nhất là những người đã làm việc cho chế độ VNCH bị những người chủ mới phân biệt đối xử. Bị gọi là bọn ngụy quân, ngụy quyền làm tay sai cho đế quốc Mỹ..., và còn nhiều tên gọi rất khó nghe. Người dân miền Nam không sợ mấy ông cách mạng (cán binh cộng sản được gọi cách mạng) bằng bọn 30/4 là những người cơ hội chủ nghĩa làm cách mạng một ngày 30. Chính thành phần nầy thừa dịp trắng đen lẫn lộn, ám hại người ngay để trả thù riêng. Còn biết bao nhiêu việc làm sai lầm khác mà người Cộng sản đang áp đặt cho người dân từ mấy chục năm nay. 

Mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 cá nhân tôi cũng như các anh em đồng đội khác xin thắp nén nhang thơm để tưởng nhớ năm vị tướng lãnh anh hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang tuẫn tiết, xứng danh “Sanh Vi Tướng Tử Vi Thần”. Ngoài 5 vị tướng lãnh còn có những binh si, sĩ quan khác đã tự sát trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Việc làm của các Anh đã rửa mặt cho anh em chúng tôi. Ai là Ngụy Quân xin để lịch sử ngàn sau phán xét. Không phải chờ lâu thêm nữa, ngay bây giờ người dân Việt Nam đã thấy rõ Cộng sản là thứ Ngụy cực kỳ tàn ác, man rợ hơn dã thú.