Posts tonen met het label Asean. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Asean. Alle posts tonen

woensdag 14 november 2018

Quan niệm mới ''Ấn Độ - Thái Bình Dương'' : Một thách đố với ASEAN + Trọng tâm Chiến Lược An Ninh mới của Mỹ


Quan niệm mới ''Ấn Độ - Thái Bình Dương'' : Một thách đố với ASEAN


mediaKhu vực Đông Nam Á và Biển Đông nằm ở trung tâm vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương (phần đại dương màu xanh sẫm)Ảnh : Wikimedia Commons
Liệu khối ASEAN có tham gia tiến trình xây dựng một khu vực « Ấn Độ - Thái Bình Dương mở và tự do », mà Mỹ và các đồng minh đang khởi xướng, để tận dụng được cơ chế an ninh mới, đề kháng được các đe dọa từ Trung Quốc, nhưng không bị kẹt trong thế đối đầu giữa hai khối ?
Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (bao gồm vùng Viễn Đông, Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ và Châu Đại Dương) ngày càng khẳng định là đầu tầu kinh tế của thế giới, nhưng thách thức lớn đối với khu vực là thiếu đi một kiến trúc an ninh và hợp tác quốc tế. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đi kèm với nhiều đe dọa về an ninh, đặc biệt với các hoạt động quân sự hóa của Bắc Kinh tại Biển Đông.
Từ hai năm nay, quan niệm mới về một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương « rộng mở và tự do, dựa trên luật pháp quốc tế », trong đó Biển Đông là một tâm điểm, được Hoa Kỳ, Nhật Bản cũng như Ấn Độ cổ vũ, đang ngày càng thu hút sự chú ý của các quốc gia châu Á, đặc biệt là các nước ASEAN.
Tuy nhiên, cho đến nay, trong vấn đề này, dường như khối ASEAN vẫn đang tìm kiếm một tiếp cận riêng, để vừa tận dụng được hậu thuẫn của các cường quốc bên ngoài, nhằm ngăn chặn sự lấn lướt của Trung Quốc, nhưng lại vừa không để bị kẹt vào thế đối đầu giữa hai khối, một bên là Bắc Kinh, và bên kia là các cường quốc dân chủ châu Á, trong đó Hoa Kỳ đóng vai trò trụ cột. ASEAN có tham gia tiến trình xây dựng khu vực « Ấn Độ - Thái Bình Dương » không ? Và nếu có, thì tham gia như thế nào ? Đây là một thách đố hàng đầu đối với Hiệp Hội các nước Đông Nam Á hiện nay.
1 – Khu vực « Ấn Độ - Thái Bình Dương » cụ thể là gì ?
Ý tưởng về một khu vực nối liền hai vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương từng được lãnh đạo một số quốc gia thai nghén từ nhiều năm nay. Đặc biệt đáng chú ý có ý tưởng của thủ tướng Nhật Bản, được nêu ra lần đầu tiên vào năm 2007. Trong chuyến công du Ấn Độ, thủ tướng Shinzo Abe đã nhắc đến tác phẩm « Majma ul-Brahrain/Hợp lưu hai biển lớn » của nhà tư tưởng Ấn Độ Dara Shikoh thế kỷ 17, như một ẩn dụ cho khát vọng lâu đời, tìm kiếm liên thông giữa hai thế giới, hai vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, thúc đẩy quan hệ toàn diện Nhật - Ấn.
Tuy nhiên, phải cho đến hồi tháng 12 năm ngoái, dự án này mới bắt đầu có được hình thù cụ thể hơn, với việc lần đầu tiên khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương được đưa vào Chiến Lược An Ninh Quốc Gia của chính phủ Mỹ. Cùng với sự thay đổi này, Ấn Độ được Hoa Kỳ coi như là một đối tác chiến lược hàng đầu. Trong chiến lược mới của Mỹ, khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương xếp số một, đứng trên châu Âu và Trung Đông. Đây là điều mà một số nhà nghiên cứu đáng giá là « thay đổi lớn nhất » so với thời tổng thống tiền nhiệm Obama (1). Về mặt lý thuyết, chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương có thể coi như là một bước tiến mới của chính sách xoay trục sang châu Á của tổng thống Obama.
Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, được Mỹ và các đồng minh cổ vũ, bao gồm vùng biển phía bắc Ấn Độ Dương và toàn bộ vùng biển giữa Thái Bình Dương, kéo dài đến bờ tây Hoa Kỳ, trong đó Biển Đông nằm ở vị trí trung tâm. Đối với chính quyền Trump, khu vực « dân cư đông đúc nhất và năng động nhất hành tinh về mặt kinh tế » này là nơi cạnh tranh của hai quan điểm đối kháng, một bên cổ vũ cho « tự do », « dựa trên luật pháp quốc tế », bên kia chủ trương dùng « vũ lực ». Washington chỉ đích danh Trung Quốc như là bên chủ trương dùng vũ lực để thao túng con đường hàng hải chiến lược, với việc « thúc đẩy quân sự hóa tại Biển Đông », thách thức chủ quyền của nhiều quốc gia ven bờ.
2 - Từ đó đến nay, dự án xây dựng một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương như vậy có thêm những diễn tiến gì mới ?
« Tiến trình Ấn Độ - Thái Bình Dương » của Mỹ lấy Bộ Tứ Mỹ-Nhật-Úc-Ấn (Quad) làm trụ cột. Giữa bốn quốc gia nói trên đã có một số phối hợp (2). Nhưng để thật sự có được chân đứng tại khu vực và được sự tin cậy rộng rãi, dự án nói trên phải được sự hậu thuẫn của khối các quốc gia Đông Nam Á, bởi ASEAN được coi là tâm điểm của kiến trúc an ninh khu vực hiện nay. Từ nhiều năm nay, ASEAN là nơi diễn ra các tiếp xúc, đối thoại mở rộng bao gồm các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), Nga, các nước Nam Á…. Nếu trong tương lai có một cơ chế an ninh hợp tác quốc tế lớn bao trùm tại khu vực này, thì ASEAN chắc chắn sẽ phải đóng một vai trò trọng yếu (mời xem thêm : « ASEAN sinh nhật 50 tuổi : Bài học cũ để vượt qua thách thức mới » ).
Trong thời gian gần đây, Indonesia – nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, cũng thường được coi là quốc gia dân chủ đông dân thứ ba thế giới (sau Ấn Độ và Hoa Kỳ) – đang nổi lên như là một đối tác cơ bản cho phép kết nối phần đóng góp của ASEAN với tiến trình xây dựng một khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương mở và tự do (3). Vấn đề « Ấn Độ - Thái Bình Dương » sẽ là một trong các chủ đề chính được thảo luận tại Thượng đỉnh Đông Á (East Asia Summit) lần thứ 13, sẽ diễn ra trong hai ngày 14 và 15/11/2018 này tại Singapore. Ngoại trưởng Retno Marsudi sẽ trình bày lập trường của Indonesia.
Cần nói thêm là, trước đó, hồi tháng 8/2018, ngoại trưởng Indonesia đã đề nghị triệu tập khẩn một cuộc họp cấp ngoại trưởng của khối, để xác định một lập trường chung của ASEAN đối với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, tuy nhiên, lời đề nghị cho đến nay chưa được hồi đáp. Theo tờ Strait Times, Indonesia đã thảo ra một tài liệu mang tựa đề « Indo-Pacific Outlook », đã được chuyển đến 9 thành viên còn lại của Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Thượng đỉnh Đông Á tại Singapore là cơ hội để các thành viên ASEAN tìm kiếm đồng thuận (3).
3 – ASEAN đối mặt với các thách thức nào trong vấn đề này ?
Trở ngại lớn nhất đến từ phía Trung Quốc. Bắc Kinh sợ rằng « tiến trình Ấn Độ - Thái Bình Dương » sẽ được sử dụng như một phương tiện để lập ra một liên minh chính trị chống Trung Quốc, với trụ cột là Bộ Tứ Mỹ - Nhật - Ấn – Úc, cộng thêm một số thành viên ASEAN. Indonesia và các nước ASEAN sẽ phải rất mềm dẻo để có thể tìm ra một tiếp cận phù hợp, trước hết là vấn đề tên gọi. Các thương lượng cho việc tham gia vào một tiến trình như vậy hiện mới đang trong giai đoạn khởi đầu.
Theo nhiều nhà quan sát, tên gọi Ấn Độ - Thái Bình Dương cần được điều chỉnh để dung chứa được phần đóng góp của các nước ASEAN, với tư cách khu vực nằm ở trung tâm của vùng địa lý nói trên. Trong số các tên gọi, có « ASEAN Inter-Oceanic Concept » của Malaysia, hay « ASEAN’s Indo-Pacific Concept » của Indonesia. Jakarta cũng đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ « tính trung lập » khi tham gia vào tiến trình này (4).
Một thách thức lớn khác đến chính từ phía Hoa Kỳ. Theo một số nhà quan sát, sau khi cổ vũ cho dự án mới này, Washington chưa có thêm các nỗ lực mới để xác định rõ hơn quan điểm, đặc biệt trong quan hệ với các đồng minh và đối tác ASEAN. Công luận ASEAN chờ đợi phó tổng thống Mỹ Mike Pence, khi tham dự Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN vào ngày mai 14/11/2018 tại Singapore, sẽ trình bày rõ tiếp cận của Washington.
Chuyên gia về an ninh khu vực, ông Anthony Milner (5), người Úc, thậm chí còn lo ngại là dự án Ấn Độ - Thái Bình Dương sẽ tàn lụi, nếu không được khối ASEAN ủng hộ. Chuyên gia Úc cũng chỉ ra cụm từ Ấn Độ - Thái Bình Dương có điểm yếu là không bao hàm cụm từ « châu Á », vì vậy khó chinh phục được cảm tình của dân chúng tại nhiều nước ASEAN.
Nhà nghiên cứu Pháp Victor Germain (6) trong một bài nhận định trên Asialyst mới đây ghi nhận tình trạng bất lợi hiện nay cho tiến trình xây dựng khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương mở và tự do, khi nhiều quốc gia châu Á hoài nghi về đóng góp thực chất của Mỹ, trong bối cảnh tổng thống Donald Trump vừa quyết định rút Hoa Kỳ ra khỏi dự án Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hồi 2017, để ngỏ không gian cho Trung Quốc tung hoành.
Tuy nhiên, chuyên gia Pháp Victor Germain cũng dự đoán trong bối cảnh nhiều nước ASEAN còn phân vân, các thảo luận trong nội bộ ASEAN sẽ kéo dài, thì tiếp cận của Ấn Độ sẽ có vai trò rất quan trọng. Lập trường của New Delhi - ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, phối kết chặt chẽ với Úc và Việt Nam, nhưng không chấp nhận loại trừ Trung Quốc - ắt hẳn sẽ xóa tan được hoài nghi của nhiều thành viên ASEAN về một khu vực rộng lớn trên biển nối liền hai đại dương, cần được bảo vệ (7).
Ghi chú
  1. Cơ chế đối thoại về an ninh của Bộ Tứ không chính thức được thiết lập năm 2007-2008, sau một thập niên chìm đi, đã được tái lập hồi tháng 11/2017, bên lề Thượng đỉnh Đông Á ở Philippines. Mời xem thêm : « Nhật dùng viện trợ thúc đẩy một vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và rộng mở », 23/2/2018 ; « Ngoại trưởng Mỹ đi châu Á để quảng bá chính sách Ấn Độ - Thái Bình Dương », 31/7/2018, « Ấn Độ cụ thể hóa chiến lược Đông Nam Á thách thức Trung Quốc », 6/6/2018.
  2. « Indonesia và Ấn Độ sẽ xây quân cảng ở Ấn Độ Dương», 30/5/2018.
  3. « Time for Asean to drive the Indo-Pacific process: Jakarta Post writers », Strait Times, ngày 7/11/2018.
  4. « Can Indonesia rescue the idea of the ‘Indo-Pacific’, and should it? », trang mạng Aspistrategist, ngày 2/11/2018.
  5. «L’ASEAN est-elle soluble dans "l'Indo-Pacifique" ? », Asialyst, ngày 7/11/2018.
  6. « Biển Đông: Ấn Độ - ASEAN yêu cầu giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế », 26/1/2018.

  7. http://vi.rfi.fr/viet-nam/20181113-du-an-an-do-thai-binh-duong-mot-thach-do-voi-asean

“Ấn Độ-Thái Bình Dương”: Trọng tâm Chiến Lược An Ninh mới của Mỹ

mediaĐội hình chiến hạm Mỹ, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore nhân cuộc tập trận Malabar năm 2007. Ảnh tư liệu chụp ngày 05/09/2007.Ảnh : US Navy
Ngày 18/12/2017, chính phủ Mỹ công bố Chiến Lược An Ninh Quốc Gia (NSS) mới, chiến lược đầu tiên thời tổng thống Trump. Bên cạnh vấn đề được chú ý hàng đầu là việc Washington coi Nga và Trung Quốc như hai đối thủ chính (1), đe dọa trực tiếp « các giá trị và lợi ích » của Hoa Kỳ, có một điểm ít được chú ý hơn nhưng không kém phần ý nghĩa. Đó là « lần đầu tiên khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương » được đưa vào Chiến Lược An Ninh Quốc Gia, như nhận xét của một chuyên gia về Nam Á và quan hệ Mỹ-Ấn Độ. Cùng với sự thay đổi này, Ấn Độ trở thành một đối tác chiến lược hàng đầu của nước Mỹ.
Bà Alyssa Ayres, chuyên gia viện tư vấn CFR (Council on Foreign Relations), một tổ chức tư vấn độc lập có trụ sở tại New York, nhận định : « đây là lần đầu tiên khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương được dẫn ra trong một Chiến Lược An Ninh Quốc Gia (của Mỹ), cho dù văn bản năm 2002 của tổng thống George W. Bush từng nói đến các hành lang biển Ấn Độ Dương » (2). Trong chiến lược mới lần này, khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương được xếp số một, đứng trên châu Âu và Trung Đông, đây là điều mà nhà nghiên cứu đáng giá là « thay đổi lớn nhất » so với thời tổng thống tiền nhiệm Obama.
Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương là một khái niệm địa lý chiến lược mới được Mỹ và các đồng minh cổ vũ trong ít năm gần đây. Khu vực này bao gồm vùng biển bắc Ấn Độ Dương và toàn bộ vùng biển giữa Thái Bình Dương, kéo dài đến bờ tây Hoa Kỳ, trong đó Biển Đông nằm ở vị trí trung tâm. Đối với chính quyền Trump, khu vực « dân cư đông đúc nhất và năng động nhất hành tinh về mặt kinh tế » này là nơi cạnh tranh của hai quan điểm đối kháng, một bên cổ vũ cho « tự do », bên kia chủ trương dùng « vũ lực ».
Washington chỉ đích danh Trung Quốc như là bên chủ trương dùng vũ lực để thao túng con đường hàng hải chiến lược, với việc « thúc đẩy quân sự hóa tại Biển Đông », thách thức chủ quyền của nhiều quốc gia ven bờ. Nhiều nước trong khu vực đang kêu gọi Mỹ can dự mạnh mẽ hơn, để bảo vệ ổn định khu vực, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Chiến Lược An Ninh Quốc Gia mới của Mỹ hoan nghênh việc Ấn Độ đang trỗi dậy như « một cường quốc hàng đầu thế giới », « một đối tác về quốc phòng và chiến lược có trọng lượng hơn », đồng thời kêu gọi gia tăng hợp tác giữa Mỹ-Ấn Độ-Nhật-Úc, tức nhóm đồng minh Bộ Tứ, tại khu vực chiến lược này (cùng với các đồng minh hay đối tác Đông Nam Á, như Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Singapore).
Về thay đổi lớn nói trên, chuyên gia Felix K. Chang, viên tư vấn Foreign Policy Research Institute (có trụ sở tại Philadelphia, Pennsylvania, Mỹ), nhận xét : trong Sách Trắng về đối ngoại của chính quyền Úc – một thành viên của Bộ Tứ -, công bố hồi tháng 11, cụm từ Ấn Độ - Thái Bình Dương được nhắc đến tổng cộng 74 lần, trong khi đó, cái tên châu Á – Thái Bình Dương chỉ được dẫn bốn lần. Tổng thống Mỹ Donald Trump trước đó cũng nhiều lần cố tình sử dụng cụm từ Ấn Độ - Thái Bình Dương để thay thế cho châu Á – Thái Bình Dương, vốn được coi là trọng tâm của chủ trương tái bố trí chiến lược nổi tiếng thời tổng thống Obama, với tên gọi « xoay trục ».
Phản ứng của Ấn Độ
Chiến lược mới của tổng thống Trump có thể nói là sự nối tiếp chiến lược xoay trục sang châu Á của tổng thống tiền nhiệm - cho dù thay đổi tên gọi, nhưng khác biệt lớn nhất ở đây là Ấn Độ trở thành một trung tâm trong chiến lược hợp tác giữa Mỹ và các đồng minh, nhằm đối phó hiệu quả hơn với trọng lượng ngày càng gia tăng về kinh tế và quân sự của Trung Quốc tại châu Á. Ấn Độ phản ứng ra sao trước thay đổi nói trên trong chiến lược an ninh mới của Mỹ ?
Theo báo chí Ấn Độ, ngày hôm qua 19/12, ngay sau khi chiến lược mới được Washington công bố, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Ấn Độ Raveesh Kumar đã đánh giá cao việc Mỹ khẳng định quan hệ Mỹ-Ấn có một ý nghĩa chiến lược « quan trọng », đồng thời nhấn mạnh « hai quốc gia dân chủ có trách nhiệm (tức Ấn Độ và Hoa Kỳ) chia sẻ các mục tiêu chung, bao gồm cuộc chiến chống khủng bố, cổ vũ cho hòa bình và an ninh trên toàn cầu », trong đó có khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.
« Hội nhập toàn diện » hay « Chiến tranh Lạnh mới » : Hai viễn cảnh
Tuy nhiên, việc Mỹ đưa Ấn Độ trở thành trọng tâm trong chiến lược an ninh mới, với vùng địa chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương, cũng nhận được một số phản ứng dè dặt từ giới chuyên gia.
Nhà chiến lược hàng hải người Ấn Độ Gurpreet S. Khurana, giám đốc điều hành của Quỹ National Maritim Foundation (có trụ sở tại New Delhi) dự đoán về hai triển vọng tương lai của chiến lược « Ấn Độ - Thái Bình Dương », nhằm đối trọng với Trung Quốc. Chiến lược gia Gurpreet S. Khurana, được coi là người đầu tiên đề xuất khái niệm địa chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương, tỏ ra hết sức dè dặt (3).
Theo ông, kịch bản tích cực của chiến lược này là coi « Ấn Độ - Thái Bình Dương » là một « vùng mở rộng cho hội nhập ». Với quan niệm như vậy « khuôn khổ lý thuyết » này sẽ cho phép hội nhập Trung Quốc vào các chuẩn mực ứng xử quốc tế tại một khu vực địa lý, vốn là nơi có nhiều tranh chấp giữa các cường quốc, và hòa bình và thịnh vương chung sẽ được bảo đảm, nếu làm được như vậy. Ngược lại, khu vực kinh tế trung tâm của hành tinh sẽ trở thành đấu trường giữa các thế lực, nhằm áp đặt sự thống trị của mình. Ấn Độ - Thái Bình Dương rất có thể sẽ trở thành trận địa chính của « cuộc Chiến tranh Lạnh mới », giữa Mỹ cùng các đồng minh, chống lại Trung Quốc.
Nhật : Vừa mở rộng cửa, vừa sẵn sàng ứng phó
Trước mắt, mở rộng cánh cửa để Trung Quốc hội nhập vào dự án Ấn Độ - Thái Bình Dương cũng là quan điểm hiện nay của chính phủ Nhật, một thành viên trụ cột của Bộ Tứ, cùng với Hoa Kỳ.
Theo hãng tin Kyodo, chính phủ Nhật Bản hôm Chủ nhật 18/12 thông báo lập trường của Tokyo hiện nay là cổ vũ việc phối hợp dự án khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương với dự án phát triển xuyên biên giới tại châu Á của Trung Quốc, mà Bắc Kinh gọi là « Một Vành Đai, Một Con Đường ». Mà thông tin tại chỗ ở nhiều nơi cho thấy đang gặp khó khăn (4).
Cũng trong đầu tháng 12 này, thủ tướng Nhật Shinzo Abe khẳng định ông « tin tưởng » Nhật Bản có thể hợp tác hiệu quả với Trung Quốc, trong dự án mà Trung Quốc chủ trì, cùng lúc với việc thúc đẩy một vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương « rộng mở và tự do ».
Theo Kyodo, thái độ nói trên của chính phủ Nhật có phần gây lo ngại cho nhiều giới chức trong bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng nước này, họ sợ rằng chính phủ Nhật - ưu tiên các lợi ích kinh tế - sẽ có những nhân nhượng với Trung Quốc.
Trên thực tế, Tokyo một mặt mở rộng cửa với Trung Quốc, mặt khác cũng chuẩn bị các biện pháp đề phòng tham vọng của Bắc Kinh. Vẫn Kyodo cho hay hôm 14/12 vừa qua, lãnh đạo Ngoại Giao và Quốc Phòng Nhật Bản đã có cuộc họp với các đồng nhiệm Anh Quốc tại Luân Đôn. Bên cạnh hồ sơ Bắc Triều Tiên, dự án Ấn Độ - Thái Bình Dương là một trọng tâm của cuộc hội đàm. Luân Đôn không loại trừ triển khai hải quân trong tương lai tại khu vực này, để đối phó với đà bành trướng của Trung Quốc.
----
(2) Trong bài : "More Prominence for India and the Indo-Pacific in the U.S. National Security Strategy", đăng tải trên trang của viện tư vấn CFR (cfr.org), ngày 19/12/2017.
(3) "Trump’s new Cold War alliance in Asia is dangerous", Mục "quan điểm" báo washingtonpost.com, ngày 14/12/2017.
http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171220-«-an-do-thai-binh-duong-»-trong-tam-chien-luoc-an-ninh-quoc-gia-moi-cua-my

zondag 21 januari 2018

ASEAN sinh nhật 50 tuổi : Bài học cũ để vượt qua thách thức mới + Trung Quốc : Động lực chia rẽ ASEAN ?

ASEAN sinh nhật 50 tuổi : Bài học cũ để vượt qua thách thức mới

mediaCác quốc gia thành viên ASEAN.Ảnh : Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á.
Cách đây đúng 50 năm, Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời (1). Khối ASEAN - bao gồm một nửa số quốc gia Đông Nam Á lúc đó - hình thành trong bối cảnh chiến tranh dữ dội trên phần đông bán đảo Đông Dương. Hiện nay, toàn bộ các nước Đông Nam Á đã trở thành thành viên của ASEAN (2), và khối này từng bước trở thành một trụ cột trong kiến trúc an ninh khu vực Châu Á -Thái Bình Dương. Tuy nhiên, những thách thức trong hiện tại đối với ASEAN là hết sức lớn. Ôn lại các bài học trong quá khứ để hướng về tương lai là quan điểm của nhà chính trị học Thái Lan Thitinan Pongsudhirak, được đăng tải trên báo mạng Nhật Bản Nikkei, hôm 04/08/2017, nhân dịp ASEAN kỷ niệm sinh nhật vàng tròn 50 tuổi. RFI xin giới thiệu.
Duy trì hòa bình giữa các nước thành viên
Trong bài « To survive another 50 years, ASEAN must learn from its past/Để tiếp tục tồn tại thêm 50 năm nữa, ASEAN phải học hỏi từ quá khứ », nhà chính trị học Thái Lan nhấn mạnh trước hết đến khả năng duy trì hòa bình giữa các quốc gia thành viên, một phẩm chất quan trọng của khối : « Bất chấp những tranh chấp lãnh thổ thỉnh thoảng bùng lên, hay những tranh cãi ngoại giao, có một thành tựu hết sức quan trọng của ASEAN, nhưng thường ít được chú ý. Đó là khả năng tránh được chiến tranh giữa các quốc gia thành viên, từng là những kẻ thù không đội trời chung ».
Đại diện 5 quốc gia sáng lập khối ASEAN, trong cuộc gặp tại Bangkok, ngày 07/08/1967. Từ trái qua phải, các ngoại trưởng Philippines (Narciso Ramos), Indonesia (Adam Malik), Thái Lan (Thanat Khoman), Malaysia (Abdul Razak) và Singapore (Sinnathamby Rajar)Ảnh chụp màn hình : print.kompas.com

Ông Thitinan Pongsudhirak nhắc lại giai đoạn phôi thai của khối, sau nhiều nỗ lực thành lập một tổ chức khu vực thất bại, lý tưởng về ASEAN đã trở lại khi Thái Lan đứng ra đóng vai trò hòa giải, nhằm dập tắt cuộc chiến giữa Indonesia và Malaysia (3). Theo nhà chính trị học Thái Lan, chính hai quốc gia sáng lập ASEAN, là Thái Lan có dân cư chủ yếu theo đạo Phật và Philippines chủ yếu theo đạo Thiên Chúa, « đã mang lại một sự cân bằng cho khu vực, về phương diện tôn giáo, ngôn ngữ và sắc tộc, cân bằng lại với tiềm năng thống trị của khối dân cư chủ yếu theo Hồi giáo tại Indonesia và Malaysia, hai quốc gia vốn cùng chia sẻ một ngôn ngữ (tiếng Mã Lai) ».
Trong hơn một nửa thời gian tồn tại đầu tiên, ASEAN hoạt động trong một Đông Nam Á chia rẽ. Miến Điện trở nên cô lập sau cú đảo chính quân sự 1962, trong lúc Đông Dương bị tàn phá vì chiến tranh. Các thành viên sáng lập ASEAN, bao gồm bốn quốc gia ra đời vào thời kỳ « hậu thực dân », gồm Indonesia, Philippines, Malaysia, Singapore, và vương quốc Thái Lan có truyền thống độc lập lâu đời, đã thành công trong việc tạo dựng được một « sức mạnh tập thể khu vực », nhằm hỗ trợ cho nỗ lực xây dựng quốc gia ở mỗi nước, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.
Sức bật hậu Chiến tranh Lạnh
Phải đến thập niên 1990, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á mới bao gồm toàn bộ 10 thành viên của khu vực (không kể tiểu quốc Brunei gia nhập trước đó năm 1984). Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, Miến Điện, Lào 1997, Cam Bốt 1999.
Nhà chính trị học Thái Lan nhấn mạnh đến hai cơ chế hợp tác quốc tế, ra đời vào thời điểm khối cộng sản giải thế, là Diễn Đàn Hợp Tác Châu Á Thái Bình Dương APEC, thành lập năm 1989 (với trụ sở đặt tại Singapore), và Không Gian Mậu Dịch Tự Do ASEAN (ASEAN Free Trad Area), khai sinh năm 1992. Đây là hai cơ chế giúp cho khối ASEAN non trẻ có điều kiện trở thành một trung tâm nối kết của châu Á, với tiềm năng hợp tác rộng lớn hơn. Trên đà này, trong những năm sau, ASEAN đã có một loạt sáng kiến quan trọng mở rộng hợp tác quốc tế.
Cụ thể là Diễn Đàn Khu Vực ASEAN ARF, ra đời năm 1994 (hiện tại gồm hơn 50 thành viên, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên Hiệp Châu Âu…). Cơ chế ASEAN + 3, tức hợp tác giữa Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á với ba nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), khởi sự từ năm 1997. Hội nghị cấp cao Đông Á (East Asia Summit), với hạt nhân là khối ASEAN, với sự tham gia của ba nước Đông Bắc Á, cùng Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Úc và New Zealand, bắt đầu tổ chức từ năm 2005. Hội nghị bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng (ADMM-plus), gồm các thành viên ASEAN và đại diện 8 cường quốc, trong đó có Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Hội nghị khởi sự từ năm 2006.
Năm 2007, Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á thông qua Hiến Chương ASEAN, khẳng định tính thống nhất cao của khối, tạo lập nền tảng pháp lý cho việc xây dựng cộng đồng ASEAN về chính trị, cũng như an ninh, kinh tế và xã hội văn hóa. Nhiều người nuôi hy vọng ASEAN trong tương lai sẽ trở thành một cộng đồng gắn bó như kiểu Liên Hiệp Châu Âu.
Trung Quốc : Chính sách chia để trị
Tuy nhiên, điều mà nhà chính trị học Thái Lan muốn lưu ý là, sau nửa thế kỷ tồn tại, khối ASEAN hiện nay lại tiếp tục phải đương đầu với các thách thức mới, tương tự với những thách thức ở giai đoạn đầu tiên. Ông Thitinan Pongsudhirak nhấn mạnh đến thế đối đầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ tại Biển Đông, và ở một mức độ nhỏ hơn, giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại khu vực Đông Nam Á lục địa.
Sự trỗi dậy đầy tham vọng của Trung Quốc được coi là mối đe dọa chính. Dưới ngọn cờ sứ mạng khai hóa và mở mang, chiến lược Con Đường Tơ Lụa Mới của Bắc Kinh đưa các ảnh hưởng của Trung Quốc vươn xa khỏi châu Á.
Theo tác giả, trong thế kỷ 21 này, « lịch sử » và « địa lý » là các sức mạnh dẫn đường nhiều hơn là các ý thức hệ, dù là « toàn trị » hay « dân chủ », quan điểm « cộng sản » hay « tư bản ». Riêng tại châu Á, Bắc Kinh đang sử dụng « các quyền lịch sử » để biện minh cho việc xây dựng đảo nhân tạo tại Biển Đông, ở một khu vực « không xa với các vùng biển của các thành viên ASEAN, nhất là Philippines và Việt Nam ». Trên vùng Đông Nam Á lục địa, Bắc Kinh xây hàng loạt đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mêkông, bất chấp các thiệt hại đối với các cộng đồng hạ lưu, ở Cam Bốt và Việt Nam (xem thêm : « Trung Quốc muốn độc chiếm Mêkông »).
Nhà chính trị học Thái Lan nhấn mạnh đến thực tế phân hóa cao độ của khối ASEAN, giữa khu vực đất liền và khu vực hải đảo. Thực tế này đã được Bắc Kinh khai thác để áp dụng chính sách « chia để trị ». Trong khi Cam Bốt, Lào, Miến Điện và Thái Lan thờ ơ với việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, thì các con đập Trung Quốc xây trên dòng Mêkông cũng không thu hút sự chú ý của Philippines hay Indonesia (xem thêm bài : « Chuyên gia Nhật : Các nước ASEAN bên Biển Đông hãy đoàn kết lại ! »).
Tác giả ghi nhận việc năm 2016 Philippines giành thắng lợi lớn trong vụ kiện Trung Quốc về Biển Đông lên một tòa án quốc tế (4), tuy nhiên mọi nỗ lực đưa phán quyết lịch sử này vào các tuyên bố chung của ASEAN đều thất bại, do vai trò của Cam Bốt. Bắc Kinh cũng tranh thủ được sự ủng hộ của Thái Lan cũng như Miến Điện.
Đoàn kết trước Trung Quốc và vị thế quốc tế của ASEAN
Trong phần kết của bài viết, nhà chính trị học Thitinan Pongsudhirak nêu lại một bài học cổ điển từng giúp nhiều nước nhỏ đứng vững, đã được ASEAN thực thi trước đây, đó là dùng cường quốc chế lại cường quốc. Cụ thể là việc nhờ đến sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và Nhật Bản để đối trọng lại với Trung Quốc. Việc chính quyền Trump tiếp thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và những lời mời tương tự của Washington gửi đến các đồng nhiệm Philippines, Singapore và Thái Lan được đánh giá là những bước đi đúng hướng, để « phục hồi thế cân bằng địa chính trị của ASEAN ».
Tuy nhiên, tác giả lưu ý rằng là nếu không xây dựng được « sự thống nhất » của khối đối diện với Trung Quốc, ASEAN sẽ không thể đảm nhận được vai trò « môi giới » và « tạo lập các định chế » của châu Á. Mà một ASEAN không thống nhất sẽ không chỉ tổn hại cho chính các thành viên ASEAN, mà còn cho cả các cường quốc, vốn cần đến một « vùng đệm », một « thế lực môi giới mang tính khu vực ».
Đoàn kết, xây dựng hòa bình, cân bằng các cường quốc, đặc biệt là tìm được tiếng nói thống nhất trước Trung Quốc - cường quốc đang là mối đe dọa lớn nhất -, theo tác giả, các thách thức đối với ASEAN trong hiện tại cho thấy quá khứ 50 năm qua chắc chắn vẫn còn nhiều bài học cần được « đào sâu ».
----
(1) Ngày 08/08/1967, tại Bangkok, thủ đô Thái Lan, năm quốc gia Đông Nam Á, gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore ra một tuyên bố chung (còn gọi là Tuyên Bố Bangkok), khai sinh ra Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (tên tiếng Anh là Association of South East Asian Nations, gọi tắt là ASEAN).
(2) Không kể Đông Timor, độc lập năm 2002.
(3) Việc thành lập Liên Bang Malaysia, bao gồm phần lãnh thổ Malaysia lục địa hiện nay, Singapore và miền bắc đảo Borneo, bị Indonesia chống lại. Cuộc chiến giữa hai láng giềng kéo dài từ năm 1963 đến 1966. Singapore tuyên bố độc lập năm 1965.
(4) Xem thêm bài « Biển Đông : Năm kết luận quan trọng của phán quyết PCA » (RFI).

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170808-asean-sinh-nhat-50-tuoi

Trung Quốc : Động lực chia rẽ ASEAN ?

mediaHội nghị thượng đỉnh ASEAN -Trung Quốc ngày 29/10/2010. Ảnh tư liệuREUTERS/Na Son Nguyen/Pool
Dù phương châm của mình là "Một Tầm nhìn, Một Bản sắc, Một Cộng đồng", nhưng do ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng mạnh tại Đông Nam Á, ASEAN hoàn toàn có thể bị phân đôi thành hai khối “lục địa” và “hải đảo”.
Đây chính là phân tích của sử gia Geoff Wade trong bài “ASEAN có thể phân đôi hay không ?” (Could ASEAN Drift Apart ?) đăng trên trang mạng YaleGlobal của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa của Đại học Yale (Hoa Kỳ) ngày 25/02/2011.
Năm ngoái (2010), Hiệp hội các nước Đông Nam Á tổ chức kỷ niệm 43 năm ngày thành lập một cách hoành tráng, nhưng lại để lộ nhiều vết nứt. Do sự phát triển thiếu cân xứng của Tiểu vùng sông Mêkông, được Trung Quốc thúc đẩy với sự giúp đỡ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), khu vực dọc theo biên giới với Trung Quốc đã biến thành một vùng riêng biệt - một xu hướng có thể vĩnh viễn chia cắt ASEAN.
Tiểu vùng Mêkông, hoặc GMS, bao gồm Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam, cũng như hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong thực tế, chính Trung Quốc mới là thành viên , với các chuyên viên cấp quốc gia tham gia vào mọi sáng kiến do GMS đề ra, và thông qua hệ thống thành viên mất cân xứng nghiêm trọng đó, đất nước 1,3 tỷ dân đã lấn át các chính thể và nền kinh tế của các nước trên lục địa Đông Nam Á.
Khoảng 11 tỷ đô la đã được đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong khu vực GMS trong thập kỷ qua, với một phần ba đến từ Ngân hàng Phát triển châu Á. Khoản tài trợ này đã được chuyển thành ba cái gọi là hành lang kinh tế - các trục giao thông đa quốc gia hiện đang được xây dựng trên lục địa Đông Nam Á.
Hành lang kinh tế Bắc-Nam nối liền Côn Minh với Bangkok, trong khi hành lang Đông-Tây nối bờ biển Ấn Độ Dương của Miến Điện với các hải cảng của Việt Nam trổ ra biển Đông. Hành lang kinh tế phía Nam thì gắn liền Bangkok với Phnom Penh, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu. Trung Quốc công khai tuyên bố rằng GMS là cơ chế kinh tế hiệu quả nhất trong khu vực.
Bản thân sông Mêkông – vốn đã được nhóm này lấy làm tên – lại là một đầu mối gây tranh chấp. Trung Quốc đã xây bốn con đập trên vùng thượng nguồn của con sông, và hiện đang đầu tư vào ba dự án đập thủy điện tại Lào và một tại Cam Bốt, và có kế hoạch làm thêm 12 con đập khác ở vùng hạ nguồn.
Theo một sáng kiến mới do Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đưa ra vào tháng 07/2009, tỉnh Vân Nam đã được chỉ định là đầu cầu nối Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, thông qua các tuyến đường giao thông vận tải, hầm mỏ, cơ sở hạ tầng năng lượng và cơ sở thương mại xuất khẩu tại Đông Nam Á.
50% thương mại giữa ASEAN với Vân Nam dùng đồng yuan để thanh toán
Hiệp định tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, đã giúp Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ trao đổi thương mại và đầu tư vào các quốc gia Đông Nam Á. Trong bối cảnh giao thương ngày càng tăng, một trong các mục tiêu mà Trung Quốc nhắm tới là phát huy việc dùng đồng nhân dân tệ trong các giao dịch thương mại giữa các đối tác GMS.
Hồi nửa đầu năm 2010, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc bắt đầu một chương trình dùng đồng nhân dân tệ làm đơn vị thanh toán cho các giao dịch thương mại xuyên biên giới với vùng Vân Nam. Đây là một phần trong kế hoạch của Trung Quốc muốn quốc tế hóa đồng tiền của mình. Hiện nay, khoảng 50% thương mại xuyên biên giới với Vân Nam được thanh toán bằng đồng nhân dân tệ.
Kinh phí để phát triển kinh tế các nước Đông Nam Á lục địa xuất phát từ cả ngân quỹ của ADB lẫn các khoản tín dụng và đầu tư của Trung Quốc, vốn thường khó phân biệt. Trung Quốc đã thiết lập quỹ Hợp tác đầu tư Trung Quốc-ASEAN trị giá 10 tỷ đô la để hỗ trợ việc phát triển cơ sở hạ tầng của khu vực. Các biện pháp kết nối bao hàm lãnh vực thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng giao thông.
Một mạng lưới đường sắt hòa nhập, sẽ nối kết tất cả các nước thuộc Tiểu vùng Sông Meekoong GMS vào khoảng năm 2020, với Trung Quốc đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp kỹ năng và kinh phí. Hệ thống đường sắt cao tốc và đường bộ do Trung Quốc tài trợ sẽ kết nối Côn Minh với Yangon, Bangkok, Vientiane và Phnom Penh, trong khi một hệ thống đập thủy điện, mạng lưới truyền tải điện và đường ống dẫn năng lượng cũng sẽ gắn các quốc gia lục địa Đông Nam Á vào Trung Quốc. Khi được hoàn thành vào năm 2013, đường ống dẫn dầu khi Kyaukphyu-Côn Minh, chạy từ bờ biển Miến Điện đến Vân Nam, sẽ giảm sự lệ thuộc của Trung Quốc vào eo biển Malacca để nhập khẩu các loại nhiên liệu mà họ rất cần.
Các khoản đầu tư cũng đã từ Trung Quốc chảy vào các nước Đông Nam Á với khối lượng lớn hơn nhiều. Hơn 8 tỷ đô la đã được Trung Quốc đầu tư vào Miến Điện kể từ tháng Ba năm 2010 trong các ngành thủy điện, dầu khí, và khai thác mỏ. Tính đến tháng Bảy 2010, Cam Bốt đã có 360 dự án đầu tư Trung Quốc, tổng trị giá cam kết khoảng 80 tỷ đô la. Vào tháng Mười một năm 2010, Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc đã đến thăm Cam Bốt và ký kết 16 thỏa thuận với tổng giá trị hơn 6,4 tỷ đô la.
90% hợp đồng tổng thầu EPC tại Việt Nam về tay các công ty Trung Quốc
Quy mô quyền lợi mà Trung Quốc đang giành được trên hầu hết đầu vào của các ngành công nghiệp tại Việt Nam, được thể hiện rõ qua những ước tính chính thức, theo đó có khoảng 90% Hợp đồng tổng thầu EPC (thiết kế, mua sắm, trang bị kỹ thuật và xây dựng) về tay các công ty Trung Quốc.
Số lượng người Trung Quốc di chuyển qua các nước Đông Nam Á đang gia tăng. Tại Lào, một quốc gia 7 triệu dân, ước tính có đến 400.000 người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp. Trong lĩnh vực văn hóa, các quốc gia trong khu vực ghi nhận hiện tượng giáo dục bằng tiếng Hoa gia tăng, với Cam Bốt hiện tự nhận là nước có chương trình giảng dạy tiếng Trung tốt nhất Đông Nam Á với hàng trăm giáo viên đến từ Trung Quốc.
Các cường quốc trong khu vực cũng đã nhận thấy đà phát triển ồ ạt dọc theo biên giới Trung Quốc và sự can dự ngày càng tăng của nước này vào các quốc gia Đông Nam Á – với hệ quả là chia rẽ ASEAN. Nhật Bản đã gặp riêng các quốc gia vùng lưu vực sông Mekong là Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan và Việt Nam, mà không mời Trung Quốc tham gia, để bảo đảm là sẽ trợ giúp các nước này. Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cam kết cho khu vực sông Mekong trong ba năm tới lên đến 5,9 tỷ đô la, và các khoản đầu tư tư nhân của Nhật Bản vào khu vực GMS được khuyến khích.
Hàn Quốc cũng đã tuyên bố ý định tham gia phát triển vùng GMS, đặc biệt là trong việc chuyển đổi các hành lang vận tải thành hành lang kinh tế và giải quyết các vấn đề môi trường.
Trong một bài phát biểu vào tháng 07/2010 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói về lợi ích của Mỹ trong vùng biển Đông và ghi nhận rằng Hoa Kỳ đã thấy rằng quan hệ với Việt Nam "không chỉ quan trọng về giá trị tự thân, mà còn quan trọng với tư cách là một phần của chiến lược nhằm tăng cường sự dấn thân của Mỹ vào châu Á-Thái Bình Dương và đặc biệt là vào Đông Nam Á." Sự kiện Mỹ gần đây gia nhập Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á một phần cũng nhằm mục đích chống lại điều được xem là quyền bá chủ của Trung Quốc ở khu vực lục địa Đông Nam Á.
Ý tưởng về “tính chất trung tâm của ASEAN" trong cấu trúc khu vực, đang được phương Tây thúc đẩy, dựa trên hai điều kiện: ASEAN phải đủ sức để tạo thành một khối, và các thành viên sẽ có lập trường chung trên các vấn đề quan trọng.
Trong một tương lai gần, không một điều kiện nào có thể được thực hiện, thậm chí chưa chắc đã được duy trì. Các quốc gia ASEAN hiện cho thấy là họ không muốn chuyển giao bất cứ chủ quyền nào cho một chính quyền trung ương. Họ cũng chứng tỏ sự bất lực trong việc thống nhất quan điểm về các vấn đề quốc tế.
Quan hệ chính trị và quân sự mật thiết với Trung Quốc : một yếu tố chia rẽ ASEAN lục địa với hải đảo
Ngược lại, việc được kết nối chặt chẽ với nhau về mặt hạ tầng cơ sở vật lý, quan hệ tương tác với nhau về mặt kinh tế, và quan hệ mật thiết về mặt chính trị và quân sự với Trung Quốc, các nhân tố này ngày càng tách biệt các nước Đông Nam Á lục địa ra khỏi các quốc gia ASEAN hải đảo.
Miến Điện, Cam Bốt và Lào đã mặc nhiên trở thành các quốc gia khách hàng của Trung Quốc, trong khi Việt Nam và Thái Lan cũng đang chịu ơn chàng khổng lồ Trung Quốc về mặt kinh tế.
Phản ứng gần đây nhất của ASEAN đối với mối đe dọa chia rẽ là một lời kêu gọi "kết nối" nhiều hơn giữa các thành viên. Một kế hoạch tổng thể - công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 17 ở Hà Nội vào tháng 10 năm 2010, kêu gọi thiết lập sự kết nối về mặt địa lý, định chế và con người – đã công khai thừa nhận hiện tượng chia rẽ đang manh nha : "Hành trình không hẳn là suôn sẻ, nhất là kể từ khi hai chương trình [ASEAN và GMS] đã theo đuổi các nỗ lực song song và đã đánh chìm nhiều khoản đầu tư đáng kể trong một số lĩnh vực hợp tác."
Với khoảng cách ngày càng tăng giữa các quốc gia lục địa và các nước hải đảo, khả năng của một Cộng đồng ASEAN ra đời vào năm 2015 ngày càng mong manh.
Cùng với Trung Quốc, các nước Đông Nam Á lục địa đang hình thành một khu vực Đại Mêkông, và các mối liên kết đang được phát triển sẽ lấn át những gì hiện có và đang được dự kiến giữa các nước ASEAN. Trong thực tế, ASEAN đang chia rẽ. Những thay đổi này có thể chỉ đơn thuần phản ánh sự gần gũi về địa lý giữa các nước Đông Nam Á với Trung Quốc, hoặc có thể là một biểu hiện của một truyền thống lâu đời của Trung Quốc là chia rẽ chính thể của các lân bang hoặc kết hợp chúng vào chính thể của Trung Quốc.
Trong cả hai trường hợp, một hệ thống phân cấp thứ bậc đang hồi sinh trong vùng Châu Á lục địa, một hiện tượng mà một số người cảm nhận như là một dấu hiệu cho thấy là châu Á không thích hợp với hệ thống tổ chức nhà nước theo mô hình Westphalia.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110304-trung-quoc-dong-luc-chia-re-asean