Posts tonen met het label 40 năm. Alle posts tonen
Posts tonen met het label 40 năm. Alle posts tonen

maandag 13 april 2015

40 năm Văn Học Hải Ngoại, 1975-2015

40 năm Văn Học Hải Ngoại, 1975-2015
Wednesday, April 08, 2015 3:30:14 PM


Viên Linh
Sau ba tiếng đồng hồ rời trại tạm cư Indiantown Gap ở Pennsylvania, lúc 5 giờ 15 chiều ngày 3 tháng 8, 1975 chiếc xe buýt Trailways đổ bến thủ đô Washington, D.C., nơi nhà thờ Mount Vernon ở đường số 9 East đã bảo trợ gia đình chúng tôi.

Hình bìa một số những tờ tạp chí Việt ngữ xuất bản sớm nhất sau 1975 tại hải ngoại: Lửa Việt (Nguyễn Ngọc Bích-Viên Linh, 1975), Hồn Việt (Nguyễn Hoàng Ðoan-Ngọc Hoài Phương, 1975), Ðuốc Tuệ (Giác Ðức-Viên Linh,1976), Trắng Ðen (Việt Ðịnh Phương, 1976), Người Việt Tự Do ở Nhật (Ngô Chí Dũng, 197...), Việt Nam Hải Ngoại (Ðinh Thạch Bích, 1977), Thời Tập (Viên Linh-Nguyễn Hữu Hiệu, 1979). (Hình: Viên Linh)

Hôm ấy nhằm cuối Tháng Sáu âm lịch, tôi không thể ngờ rằng chỉ vài tháng sau mình đã thư từ điện thoại với bằng hữu văn chương và thực hiện được Giai phẩm Xuân Bính Thìn, phát hành trước Tết Nguyên Ðán, nhằm ngày 31 tháng 1, 1976. Ðó là báo Xuân của Trung Tâm Phối Hợp Ðịnh Cư Việt Kiều, tôi là người thực hiện tờ báo, từ việc liên lạc với các nhà văn nổi tiếng miền Nam, đặt ra những câu hỏi của bài phỏng vấn đầu tiên, xin bài vở, trình bày sắp xếp, từ việc dàn cột báo tới kẻ chữ các nhan đề bài, họa sĩ Ngọc Dũng vẽ tranh minh họa, phụ bản của Thái Bá, hí họa có Long Ân; anh Nguyễn Ngọc Bích người của trung tâm là chủ bút. Hẳn nhiên lúc ấy tại nhiều nơi trên thế giới người tị nạn Cộng Sản cũng đã có thể làm báo Xuân theo truyền thống báo chí miền Nam, riêng tại miền Ðông Bắc Mỹ, theo sự hiểu biết của tôi, tờ “Lửa Việt Xuân Bính Thìn (1976)” là giai phẩm văn học đầu tiên của Văn Học Hải Ngoại. Tờ giai phẩm ấy in hệt một tờ báo Xuân của miền Nam, cái khác chính yếu là nhận định của các nhà văn nhà thơ cộng tác về đất nước người, về tâm sự lưu vong. Tháng 4 này 2015, hình dung tổng quát về 40 năm Văn Học Hải Ngoại, tốt nhất xin hãy bắt đầu tìm hiểu nền văn học ấy bằng những sáng tác nhận định đầu tiên xuất hiện trong năm lưu vong đầu tiên.

Sáng tác có:
Nghiêm Xuân Hồng: Xuân Thực hay Xuân Mộng, tùy bút.
Mặc Ðỗ: Cái Áo Len Màu Rêu, truyện ngắn.
Hùng Lân (nhạc sĩ): bản nhạc Tuyết Rơi.
Võ Phiến: Mưa Giăng Tuyết Ðổ.
Viên Linh: Cố Hương, thơ.
Trần Phong Vũ: Về Một Cái Hẹn Nơi Quê Cũ, truyện ngắn.
Nguyễn Ðức Nam: Mùa Xuân Không Trở Lại, truyện ngắn.
Kim Y: Hờn Vong Quốc.
Vi Khuê: Hoang Vu.
Huyền Vũ (ký giả thể thao): Hướng Nhớ Người Ði.
Sau gần một năm trên xứ người
(Cuộc phỏng vấn của Viên Linh và trả lời của các trí thức văn nghệ sĩ: Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ, Phạm Duy, Hà Mai Phương, Võ Phiến, Lê Văn Khoa, Vi Khuê, Trần Phong Vũ, Lê Tuấn, Trùng Dương, Ngô Vương Toại. Câu hỏi nòng cốt là: “Ðối với anh chị, khác biệt đáng kể nhất giữa đời sống ở Việt Nam trước kia và đời sống của anh chị ở Hoa Kỳ hiện nay?”)

Xin trích dẫn vài nhận định. Chúng ta sẽ thấy những nhận định khác biệt của mỗi người, chúng tôi chỉ lọc ra một vài câu ngắn gọn.
Nhà văn Nghiêm Xuân Hồng, Seattle:

“Câu này có lẽ nhiều người di cư khác cũng trả lời như tôi. Tôi nghĩ điểm khác biệt nhất là ở đây đời sống tuy ít sợ đói kém chiến tranh, nhưng lại sợ nhất là buồn. Xã hội Mỹ này quá tổ chức, tổ chức đến độ không để lại một bất ngờ nào cho cuộc đời. Tôi thấy hình như Mỹ thiếu một cái gì. Thiếu một chút thơ mộng, một chút phi lý, một chút hỗn độn, một chút tình người, một chút nhân sinh quan tiêu dao. Trước kia sống ở Sài Gòn bấp bênh loạn lạc nhưng vui hơn. Nhưng bây giờ chắc Sài Gòn cũng chẳng vui gì.”
Nhà văn Mặc Ðỗ, Houston:

“Tôi thấy đáng kể nhất là không gian, ở Sài Gòn kích thước thành phố nhỏ hơn, ở đây rộng lớn hơn nhiều quá. Ở Sài Gòn, Mai Thảo với tôi đi kiếm một người bạn từ trung tâm thành phố qua trường đua Phú Thọ đã thấy xa, ở đây hễ đi đâu cũng hàng nửa giờ chạy xe trên freeway. Kích thước rộng lớn nhưng cũng chẳng tạo ảnh hưởng mới tới tâm hồn. Ở miền Nam (Hoa Kỳ) này không có nhiều tuyết, nếu có thì cảnh đạp tuyết đi mua rượu về uống với bạn có lẽ khác với Sài Gòn ra tiệm cô bé Tầu đường Lê Lợi xách một chai whiskey về. Khác vì giống như cảnh trong truyện Tầu vừa đọc vừa mê hồi mới lớn.”
Nhà nhiếp ảnh Lê Văn Khoa:

“Ở Việt Nam tôi làm việc như điên, cả ngày lẫn đêm. Mỗi ngày chỉ ngủ được 4 hoặc 5 giờ, tuy mệt nhưng thích thú vì làm được việc cho quê hương dân tộc và nhất là cho thế hệ trẻ đáng yêu của mình. Hiện tại ở đất Mỹ này tôi chưa có gì làm ở không buồn muốn điên. Tôi sẽ cố làm cho người Mỹ biết đến văn hóa và những khía cạnh đẹp của Việt Nam.”
Nhạc sĩ Phạm Duy, Cali:

“Ðời sống của tôi ở đâu cũng chỉ có một mục đích: Ca hát! Khi hát bài buồn khi hát bài vui, tùy theo cảm xúc! Có khác biệt thì chỉ ở chỗ khi ở Việt Nam thì ít lo về đời sống, còn ở đây thì phải lo nhiều.”
Nhà văn Võ Phiến, Minnesota:

“Ở Sài Gòn tôi là một người hữu ích; ở đây tôi là một cục nợ. Ở Sài Gòn tôi trưởng thành, tự do; ở đây phải có kẻ dìu dắt, đón dẫn, và đếm từng đồng ‘xen’ trong túi tôi. Ở đây người ta cố gắng tìm cho tôi một công việc là để cho tôi khỏi nằm vạ ăn báo xã hội, chứ không phải vì cần đến một khả năng nào đó của tôi. Mặt khác, ở Sài Gòn tôi sống; ở Minnesota tôi giương mắt xem người ta sống. Không bạn bè thân thuộc, không có một góc phố quen, không có một cái quán cũ kỹ mà quen thuộc, một công viên một dặng cây, một khúc sông quen thuộc, không có những người láng giềng thân tình. Không có tất cả những cái ấy thì sống làm sao?”
Ký giả Trần Phong Vũ, Kansas City:

“Câu hỏi của anh thật dễ mà cũng thật khó trả lời. Tôi không biết phải chọn cái khác biệt nào là ‘đáng kể nhất’ vì đối với tôi đời sống ở đây hoàn toàn khác biệt với những năm tháng cũ khi tôi còn sống ở Sài Gòn. Cho tới giờ phút này khi đã thực sự sống kiếp tha phương tôi mới chợt nhận ra một điều nghịch lý là giữa một quê hương súng đạn thường bị coi là chậm tiến và bị bắt buộc phải hạn chế nhiều quyền tự do thì tôi lại cảm nhận thấy đời sống của mình có phần phong phú, phóng túng hơn trong khi ở đây Kansas City, MO, tôi vẫn không giấu được nỗi ngậm ngùi vì đời sống bị vây hãm mất mát một cách đáng sợ... Ở Sài Gòn tụi mình hình như không có ngày cuối tuần... nhưng tôi vẫn thường có cái cảm giác nôn nóng náo nức khi nghĩ tới một buổi chiều Thứ Bảy, một buổi sáng Chủ Nhật được la cà trên hè phố, tán gẫu trong một quán cà phê hay cùng dăm ba người bạn cắm cúi nặn quân bài bên bàn xì phé... Ngày cuối tuần của tôi ở đây bây giờ chỉ còn mang ý nghĩa đơn thuần của một ngày nghỉ, không phải lao động. Ngày được ở nhà... để ngủ hay để nhìn lũ con cũng đang loay hoay tù túng như cha nó. [...] Một người bạn đồng nghiệp cũ ở Sài Gòn hiện làm cu-li trong một nhà máy ở Ohio biên thư than thở đủ điều về những đảo lộn trong đời sống hiện tại của anh. Cuối thư anh viết; ‘Dù sao qua đây vì không có chỗ chạy rông nên mình có dịp gần gũi vợ con hơn hồi ở Sài Gòn. Âu cũng là một cái may, phải không anh?’”
Kịch sĩ Lê Tuấn, Virginia Beach:
“Tôi có thể làm lại tất cả, có lại tất cả những gì tôi mất về mặt vật chất nhưng còn về tinh thần thì tôi bất lực. Ðó là nỗi đau đớn nhất của tôi trong cuộc đời này.”
Một bài lục bát làm trong năm 1975 tại hải ngoại:
Cố Hương
Viên Linh
Xa nhau thôi nhé thu vàng
Lá rơi trên tuyết hồn tan dưới đường
Nhớ gì nơi ấy cố hương
Tóc xanh em gái dặm trường trung du.
Lộ cao con mắt sương mù
Hồn xa nam bộ mùa thu có về
Về trong gốc rạ thân tre
Ðứng trên bên bắc nằm bè vòm sông.

Theo xe hồn xuống phố phường
Trục quay hồn chạy yêu thương chốn nào
Ngõ này đây bạn ta sao
Ðèn kia đã tắt lối vào quán khuya
Trong thân thảo mộc hồn về
Rưng rưng sắc đỏ ủ ê màu đà
Mùa xuân hồn ở trong hoa
Hồng soi nhan sắc vàng pha áo đời.

Qua đồng cỏ lác hồn ơi
Kinh xưa nổi váng đây rồi phù sa
Nhập vào thôi nhé thân ta
Bình minh rạch nhỏ chiều tà biển khơi
Tỉnh ra ta ở quê người
Hiên nay vắng bạn lòng thời thiếu ai
Cửu Long ơi chín sông dài
Lao xao đất gọi hoài hoài nước kêu.

Trôi đi viễn xứ, đời chiều
Mên mông tâm trí tiêu điều cảnh hoang
Nhớ nhau còn chút canh tàn
Gửi nhau cái bóng trên tường đêm nay.

(Virginia, 1975)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=205551&zoneid=16#.VSu1K-mJi70


Mai Phi Long phỏng vấn Tài tử Kiều Chinh

1,873 Views0 Comments
Mai Phi Long phỏng vấn Tài tử Kiều Chinh, vai bà Đồng trừ ma quỉ trong film Đoạt Hồn của đạo diễn Hàm Trần

Gặp gỡ Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh

641 Views0 Comments
Mai Phi Long phỏng vấn Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh về phim Nước-2030 chiếu trong Viet Film Fest-2015


Viet Film Fest 2015

Viet Film Fest 2015

990 Views0 Comments

Giọng nói và quyền lực

1,297 Views0 Comments
“Từ nhà đến trường” với Tiến sỹ Lê Nguyên Phương, người dẫn chương trình: Đặng Hoàng Quân. Chương trình thực hiện về các đề tài về giáo dục và giải đáp các thắc mắc về giáo dục, trường học V.V... cho các bậc phụ h...

Bán nước cho tàu

Bán nước cho tàu

5,558 Views0 Comments
Chương trình "Giờ Giải Ảo" với Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, mỗi Thứ Bảy hàng tuần. Thực hiện: Đinh Quang Anh Thái Đề tài kỳ này: Bán nước cho tàu

Xuất Cảng Là “Bán Nước”

9,685 Views1 Comments
Chương trình "Giờ Giải Ảo" với Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, mỗi Thứ Bảy hàng tuần. Thực hiện: Đinh Quang Anh Thái Đề tài kỳ này: Xuất cảng là bán nước

Ả Rập và Iran đối đầu tại Yemen

Ả Rập và Iran đối đầu tại Yemen

2,882 Views0 Comments
Ả Rập và Iran đối đầu tại Yemen


Bệnh Quai bị

Bệnh Quai bị

773 Views0 Comments
Bác sĩ của bạn - Chương trình do Bác sĩ NGUYỄN TRẦN HOÀNG phụ trách. Thực hiện: phóng viên Thiên An (Người-Việt TV). Phát hình vào mỗi thứ Ba hàng tuần. Chương trình tuần này: Bệnh quai bị

vrijdag 13 maart 2015

Nhà văn Dương Thu Hương: 40 năm, nhìn lại về ngôn từ

Nhà văn Dương Thu Hương: 40 năm, nhìn lại về ngôn từ

Tường An, thông tín viên RFA
2015-03-11
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
DTH-tai-vp-RSF.jpg
Nhà văn Dương Thu Hương tại văn phòng RSF
Photo by Tuong An
Trong hồi ức 40 năm, đài Á Châu Tự Do hỏi chuyện nhà văn Dương Thu Hương về quan điểm của bà về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến Bắc-Nam cũng như những hệ luỵ của nó.
Tường An: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?

Dương Thu Hương: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn, vì họ có thể văn minh hơn vì văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.
Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà  chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»
Tường An: Thưa bà, cuộc chiến dài 21 năm mà miền Bắc gọi là «Chống Mỹ cứu nước» đã chấm dứt vào ngày  30/4, bà có nhận xét gì về cái ngày mà Việt Nam ngưng tiếng súng, ngày mà đại tướng Văn Tiến Dũng gọi là «thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân Việt Nam trong thế kỷ XX » ạ?
Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại?
-  Bà Dương Thu Hương
Dương Thu Hương: Đối với tôi ngày 30/4 có 2 phía : phía những người Việt ở miền nam thì gọi là ngày «Quốc hận», phía những người Việt ở miền Bắc thì gọi là «ngày Giải phóng của dân tộc» thì tất cả 2 cái đó thì tôi cho là cần phải xét lại ngôn từ , bởi vì ngôn từ nó cũng bấp bênh và nó cũng chao đảo với thời gian, nói tuỳ theo quan niệm con người , tuỳ theo cách nhìn con người để mà thay đổi.
Về phía những người miền Bắc tưởng rằng đó là một sự sung sướng, một chiến công lừng lẫy, một thắng lợi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử. Bây giờ nhìn lại tôi thấy nó chỉ là một ánh đèn loé lên trên một chặng đường, mà cái chặng đường ấy phía sau khi ánh đèn ấy loé lên  thì nó đã dần dần trôi vào bóng tối. Thắng lợi ngày 30/4 là một thứ mà người ta gọi là « illusion » tức là một ảo ảnh. Bởi vì sau cái ảo ảnh ấy thì có những thực tại chồm đến và người Cộng sản ngập trong những cái thực tại ấy.
Sự thất bại liên tục của họ trên tất cả những chính trường, trên ngoại giao cũng như là đối nội.
Tường An: Bà có thể giải thích tại sao từ một chiến thắng mà người Cộng sản gọi là «cuộc kháng chiến thần thánh » họ lại trở nên thất bại sau này như bà nhận định ?
Dương Thu Hương: Cái sự chiến thắng đó đem cho họ một lòng kiêu hãnh quá độ. Cho nên cái chiến thắng ấy là mở màn cho tất cả những thất bại sau này. Và bây giờ, mặc dù họ còn giữ được chính quyền nhưng cái thất bại thì rõ ràng không ai có thể chối cãi được là họ đã trở thành một bộ phận nô lệ của triều đình Cộng sản phương Bắc và cái sự bán nước của họ dù diễn ra trong bóng tối, nhưng nhân dân và tất cả nh người có lương tâm đều đoán được một cách chính xác.
Chiến thắng 30/4 khiến cho những người Cộng sản có món mồi bở béo giống như ông Nguyễn văn Trấn viết trong cuốn «Viết cho Mẹ và Quốc hộ » - tôi cho ông Nguyễn văn Trấn là một người rất chính trực - ông ấy nói : nhà của người ta lấy, vợ của người ta ngủ v.v… và tức là một sự chiếm đoạt về mặt tài sản đối với tất cả những người mà đã chiến bại.
Họ đã thực hiện phương sách của Mao Trạch Đông, tức là «Toạ sơn quan hổ đấu» tức là để chọ người Việt đánh nhau với người Mỹ, một cuộc chiến tranh sức tàn lực kiệt để mà dễ biến thành một thứ thuộc địa nghìn năm Bắc thuộc lần thứ hai.
Tường An: Tại sao bà cho là phải xét lại chữ «Quốc hận" của những người miền Nam, những người đã thua trong cuộc chiến này,  thưa bà ?
Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ?  Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.
Tường An: Từ khi sang Pháp năm 2006 cho đến nay, có vẽ như bà ít tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại, phe chống Cộng cũng như phe thân Cộng, chắc là phải có lý do nào đó có phải không ạ?
Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc.
- Bà Dương Thu Hương
Dương Thu Hương: Bây giờ nhìn lại những phong trào chống Cộng của người Việt hải ngoại, ta thấy cái gì ? Trừ những vụ treo đầu dê bán thịt chó như Hoàng Cơ Minh ra, rất nhiều chính khách khác chỉ chờ cơ hội để về Việt Nam thương thuyết với Cộng sản để chia ghế. Những nhà chống Cộng ở đây tôi biết thì hoàn toàn là một thứ trò du hí để thoả mãn cái lòng tự tôn của họ. Bởi vì sống ở nước ngoài họ không có một gương mặt hãnh diện, một vị trí xứng đáng cho nên là họ nêu chiêu bài chống Cộng, nhưng lúc nào cũng ngóng chờ Cộng sản chìa tay ra để trở về chia ghế. Và có những ông Cộng sản chưa cần mời đã vội vàng đến sứ quán làm lành trước . Vì sao . vì họ thấy đấu tranh mệt mỏi quá, hàng Cộng sản đi kiếm được một chút vui thú trong cuối đời. Cho nên bây giờ muốn chiến thắng Cộng sản thì trước tiên phải chiến thắng chính bản thân mình.
Bây giờ rất nhiều Việt kiều ở nước ngoài chửi Cộng sản nhưng về trong nước lại vui thú, bởi vì Cộng sản cho làm ăn, cho kiếm tiền, cho chơi gái rẻ. Cho nên cái tinh thần chống Cộng của rất nhiều người theo tôi nó cũng giống như cái đuôi con chó, vẫy lên rồi vẫy xuống theo cái lợi ích của họ.»
Tường An: Từ sự phân tích những tiêu cực của  phe Cộng sản cũng như phe chống Cộng, bà có kết luận gì về cuộc đấu tranh trên chiến trường mới này ạ ?
Dương Thu Hương: Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc . Bởi vì bây giờ, cái đứa ngu nhất thì cũng hiểu là họ đang bán nước và sẽ còn bán nước một cách trầm trọng hơn. Và nếu không có một sự kiện nào có thể thay đổi được vận mệnh quốc gia thì chắc chắn 1000 năm Bắc thuộc lần thứ hai sẽ diễn ra. Không phải với một đoàn quân phương Bắc kéo sang nữa mà là một sự khống chế toàn bộ về mặt chính trị và kinh tế bắt đầu từ đảng Cộng sản Trung quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó là hai nhà nước cùng một hệ thống mà tôi gọi là một thứ phong kiến trá hình.
Tường An: Xin cám ơn bà đã dành thì giờ cho đài Á Châu Tự Do.

zondag 17 november 2013

40 năm nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc) của danh ca Pháp Dalida

Thứ sáu 25 Tháng Mười 2013
Paroles Paroles : Giai thoại ly kỳ, một thuở hàn vi
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Tuấn Thảo
Năm 2013 đánh dấu 40 năm ngày ra đời của nhạc phẩm Paroles Paroles, phiên bản tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, bài từng được tác giả Phạm Duy chuyển dịch thành Những lời mê hoặc. Trong nguyên tác, đây lại là một ca khúc tiếng Ý. Nhưng giới yêu nhạc trên thế giới chủ yếu biết bài này trong tiếng Pháp, qua phần diễn đạt của ngôi sao ca nhạc Dalida với thần tượng điện ảnh Alain Delon.
Đúng 40 năm sau ngày ra đời (1973-2013), ca khúc tiếng Pháp vừa được tái bản với lối hòa âm mới và được phát hành nhân 25 năm ngày giỗ của Dalida, trên bộ toàn tập Les Diamants sont éternels (Kim cương ngời sáng muôn thuở), bao gồm tổng cộng là 25 cuộn CD. Bản nhạc tiếng Ý với tựa đề nguyên gốc là Parole Parole đã được phát hành vào năm 1972.
Nhạc sĩ Gianni Ferrio là người đã soạn ra giai điệu bài hát, còn lời ca là của hai tác giả Leo Chiosso và Giancarlo Del Re. Cả ba gương mặt này làm việc chung với nhau, hợp tác sản xuất chương trình ca nhạc nổi truyền hình quốc gia Ý (RAI). Được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1964, nhưng Teatro Dieci không đủ ăn khách để trở thành một điểm hẹn hàng tuần với khán thính giả.
Sau nhiều lần bị gián đoạn, chương trình này chính thức kết thúc vào tháng Tư năm 1972. Chính trong cái bối cảnh đó mà nhóm sáng tác Ferrio – Chiosso – Del Re mới soạn nhạc phẩm Parole Parole cho nữ danh ca Mina và Alberto Lupo, một nam diễn viên nổi tiếng của làng điện ảnh truyền hình thời bấy giờ. Nhờ vào bản song ca mà chương trình Teatro Dieci kết thúc một cách rực rỡ, sự nghiệp ca hát của Mina cũng tăng thêm một bậc. Bản song ca trở thành tình khúc ăn khách nhất nước Ý mùa hè năm 1972.
Đến tháng 10 năm 1972, Dalida quyết định ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Tác giả Jacqueline Misrahi, cũng xuất thân từ một gia đình gốc Ý sinh trưởng tại Ai Cập như Dalida, mới chấp bút soạn lời gần sát với nguyên tác tiếng Ý. Câu hỏi đặt ra vào lúc đó là người đàn ông nào sẽ ghi âm bài hát tiếng Pháp với Dalida ?
Các nhà sản xuất mới nghĩ tới một số nam diễn viên trứ danh. Dalida thì nhất quyết muốn ghi âm bài này với Alain Delon, ngôi sao màn bạc Pháp nổi tiếng nhất trên thế giới thời bấy giờ. Trong giới sản xuất, không ai tin rằng Alain Delon sẽ nhận lời, trước hết là vấn đề thù lao, kế đến nữa là lịch làm việc.
Cùng với Jean Paul Belmondo, Alain Delon là diễn viên ăn khách và sáng giá nhất từ thập niên 1960, cứ mỗi năm là có đến ít nhất bốn dự án quay phim. Vào đầu mùa thu năm 1972, Alain Delon đang bận đóng phim bên Ý (cuộn phim La Prima Notte di Quiete – Đêm yên tĩnh đầu tiên của đạo diễn Valerio Zurlini). Do vậy mà các nhà sản xuất nghĩ rằng dự án ghi âm của Dalida với thần tượng điện ảnh này sẽ khó mà hoàn thành.
Điều mà không ai biết được là Dalida và Alain Delon đã quen nhau từ gần 20 năm về trước. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là vào năm 1955. Vào thời đó, Dalida chân ướt chân ráo đến Paris lập nghiệp sau khi đoạt chiếc vương miện hoa hậu Ai Cập năm 1954.
Dalida từng cho biết là cô mướn một căn hộ nhỏ bé trên con đường Jean Mermoz ở Paris quận 8, và anh bạn hàng xóm ở ngay bên cạnh không ai nào khác là Alain Delon. Dalida thành danh từ năm 1956 nhờ một loạt ca khúc ăn khách, còn Alain Delon đóng bộ phim đầu tay vào năm 1957, và chỉ thật sự nổi tiếng hai năm sau.
Theo lời kể của nhà sản xuất Eddie Barclay, người đã sáng lập hãng đĩa Barclay, thì Dalida và Alain Delon rất quý mến nhau. Một điều cũng khá dễ hiểu, vì cả hai khởi đầu sự nghiệp trong cùng một hoàn cảnh : diễn viên hay ca sĩ mới vào nghề đều khổ nhọc kiếm đồng lương, vất vả chạy show trả tiền nhà. Vì thế cho nên khi nhận được cú điện thoại của Dalida mời anh hợp tác ghi âm, Alain Delon liền nhận lời ngay.
Buổi ghi âm diễn ra trong bầu không khí ấm cúng thân tình, cả hai ngôi sao ít nói đến chuyện làm việc mà chủ yếu nhắc tới cái thuở hàn vi ban đầu. Tuy mỗi người sau đó đã chọn cho mình một hướng đi khác nhau, nhưng do từng trải cùng một hoàn cảnh, cho nên cả hai vẫn có cảm tưởng ngồi cùng một ghe, chèo cùng một thuyền.
Sau buổi ghi âm trong phòng thu vào tháng Mười năm 1972, Alain Delon chỉ có đủ thời gian để thực hiện các bức ảnh chụp với Dalida để làm hình bìa cho đĩa nhựa. Dự án quay một bộ phim ngắn với hai ngôi sao để minh họa cho ca khúc này rốt cuộc không thành. Nhưng sự hiện diện của Alain Delon, dù là ngắn ngủi chớp nhoáng, phủ lên trên ca khúc một lớp hào quang lộng lẫy.
Có nhân vật nào thời đó mà lịch lãm đào hoa hơn Alain Delon, hình tượng của người đàn ông đa tình lại càng nhấn mạnh cái ý tứ của tình nhân không chung thủy. Thời nay, việc hội tụ hai ngôi sao trên cùng một ca khúc thường là do quảng cáo tiếp thị tài tình. Thời của Dalida, đằng sau chuyện ghi âm với Alain Delon, lại có nhiều giai thoại đáng kể.
Được phát hành vào đầu năm 1973, làm ca khúc trích đoạn đầu tiên từ album thứ sáu của Dalida, nhạc phẩm Paroles Paroles phá kỷ lục số bán tại châu Âu do Giọng ca vàng Frank Sinatra nắm giữ từ năm 1966 nhờ ca khúc Strangers in the Night. Bài hát này cũng chiếm hạng đầu thị trường Nhật Bản và phá luôn kỷ lục của bài Tombe la Neige (Tuyết rơi) của Adamo.
Hàng loạt phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau lần lượt ra đời không lâu sau đó, kể cả tiếng Nhật, tiếng Đức, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ba Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ. Một số phiên bản dịch thẳng từ nguyên tác tiếng Ý. Một số khác chuyển dịch từ phiên bản tiếng Pháp và đôi khi có đến hai hoặc ba lời khác nhau như trường hợp của phiên bản tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt (khác biệt trong tiếng Việt không nằm trong câu hát mà chủ yếu ở trong lời thoại).
Nếu như trong nguyên tác, bản nhạc tiếng Ý Parole Parole đã được viết với những ý tứ hóm hĩnh hài hước, thì phiên bản tiếng Pháp lại khai thác tâm trạng mất mát buồn bã của người đàn bà, khi họ bị lừa dối đến đỗi phải đột qụy vấp ngã.
Bản song ca tiếng Ý ban đầu được viết một tiết mục sân khấu truyền hình, qua đó, một người đàn ông đào hoa nói dối một cách trơ trẽn, tìm cách dỗ ngọt người yêu với bao lời thề thốt muôn đời chung thủy, nhưng người đàn bà ở đây không hề nhẹ dạ cả tin.
Về hoàn cảnh đời tư, thì vào đầu những năm 1970, Dalida yêu nhà văn nổi tiếng Arnaud Desjardins, ông là người đã giúp phổ biến ở Pháp triết học Ấn Độ và thuyết Phật giáo Tây Tạng. Sau ba năm quan hệ tình cảm từ năm 1969 đến năm 1972, hai người rốt cuộc đành phải chia tay nhau.
Mối bất đồng đến từ việc Arnaud Desjardins đã có gia đình và ông không chịu ly hôn với vợ để sống chung với Dalida. Một thời gian sau đó, Dalida làm quen với một người đàn ông khác là nam ca sĩ trẻ tuổi Richard Stivell. Sau vài tháng quen biết lui tới, Dalida tưởng rằng cô có thể làm lại cuộc đời, nhưng để rồi khám phá ra là tình nhân của mình (Richard Stivell) cũng là một người đàn ông đã có vợ.
Buồn tình, chán nản, thất vọng, Dalida vùi đầu vào công việc. Không phải ngẫu nhiên mà trên cùng một album phát hành vào năm 1973, Dalida ghi âm nhiều ca khúc nói về nỗi sầu tương tư hay tình buồn đơn phương là nhạc phẩm Je suis malade của Serge Lama, Il venait d’avoir 18 ans cũng như bài Rien qu’un home de plus với gợi ý là Dalida lại có thêm một người đàn ông bạc nghĩa trong đời.
Còn trong nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc), Dalida hóa thân vào vai một người đàn bà bị phản bội bỏ rơi, diễn đạt ca khúc với tâm trạng cay đắng bồi hồi, lời giả dối càng ngọt bùi, nỗi ngậm ngùi càng làm cho đau nhói. Số phận oan nghiệt đang đẩy dần người đàn bà đến sát gần bờ vực thẳm tội lỗi. Cho đến cái ngày định mệnh khi Dalida tự kết liễu cuộc đời để lại một lời di chúc, một bức tâm thư : “Hãy tha thứ cho tôi, cô đơn, tôi không còn chịu đựng nổi”. Một lời tạ tội nhức nhối cho bao mất mát thiệt thòi.
 

zaterdag 12 oktober 2013

40 năm nhạc phẩm Love Story với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt

Thứ bảy 19 Tháng Ba 2011
Giai thoại tình ca : 40 năm nhạc phẩm Love Story
Ryan O'Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story (DR)
Ryan O'Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story (DR)
Tuấn Thảo
Cách đây 40 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.
Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.
Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.
Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại
Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962 – 1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài dũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva)
Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.
Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim
Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.
Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim ("Love means never having to say you're sorry"...) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết : Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles…và Tôi. Có người nói đùa rằng : Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.
Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).
Thân thế tác giả bài hát
Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.
Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao giồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.
Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.
Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.
Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca
Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story ? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.
Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.
Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.
 
TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa
 

vrijdag 20 september 2013

40 năm đưa hài cốt quân nhân Mỹ từ Việt Nam 'về nhà'

40 năm đưa hài cốt quân nhân Mỹ từ Việt Nam 'về nhà' Wednesday, September 18, 2013 5:00:02 PM








Thiên An/Người Việt

WASHINGTON, D.C. (NV) -
Quốc Hội mỗi năm đều trích ngân sách cho JPAC và DPMO tiếp tục tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trên chiến trường. Lời hứa “khi họ ngã xuống chiến trường, chúng tôi sẽ làm tất cả, và bất kỳ điều gì, để mang họ về nhà trong nhân phẩm và danh dự” được Hoa Kỳ thực hiện thầm lặng, không ngơi nghỉ trong suốt 40 năm qua.

Một đội tìm kiếm của DPMO gồm nhân viên Hoa Kỳ và địa phương làm việc tại Quảng Trị. (Hình: AFP/Gettyimages)


Dù đã có cơ quan Joint POW/MIA Accounting Command (JPAC) tìm kiếm quân nhân hy sinh tại chiến trường Việt Nam ngay từ năm 1973, Quốc Hội Hoa Kỳ vẫn quyết định thành lập thêm một cơ quan tương tự nhưng hoạt động song song, hỗ trợ. Cơ quan Defense Prisoner of War/Missing Personal Office (DPMO) ra đời vào năm 1993, cũng dưới sự kiểm soát của Bộ Quốc Phòng.
Năm nay đánh dấu hành trình 40 năm hoạt động của JPAC và 20 năm của DPMO. Nỗ lực của cơ quan này trong hai thập niên qua giúp đưa tổng cộng hơn 100 thi hài binh sĩ Hoa Kỳ từ Việt Nam “được về nhà.”

Quy trình tìm kiếm


Cho tất cả quân lính trở về sau cuộc chiến, Hoa Kỳ có nhiều chương trình giúp hòa nhập với cuộc sống thường ngày. Cho những người mất tích hoặc tử nạn trên chiến trường, chính phủ nhờ đến JPAC và DPMO làm “bất kỳ điều gì, để mang họ về nhà.”
Nguyên tắc của JPAC là “Until they are home,” tạm dịch, “Cho đến khi họ về nhà.” Nguyên tắc của DPMO là “Keeping the promise,” - “Giữ đúng lời hứa.”
Câu chuyện của hạ sĩ quan y tá Michael Judd là một trong những bản tin mới nhất của DPMO đến từ Việt Nam.
Ông mất tích từ 46 năm trước trong một lần bay bị Việt Cộng oanh kích, khi vừa 21 tuổi. Một ngày đầu Tháng Bảy, 2013, gia đình ông bất ngờ nhận được thư và điện thoại từ DPMO, báo “đã tìm được thi hài người thân của gia đình tại Thừa Thiên- Huế."
Đội DPMO bắt đầu truy tìm chiếc trực thăng CH-46A của ông Judd từ năm 1993, nhưng bất thành trong nhiều năm. Hầu hết thông tin do dân địa phương cung cấp không sử dụng được. Chính quyền Việt Nam nói không hợp tác nếu chương trình tìm kiếm bị họ cho là “ảo.”
Với một số thông tin ít ỏi là sử dụng được, năm 1999, DPMO quay lại để điều tra và tìm thấy chiếc trực thăng CH-46A. Năm 2012, DPMO cho người đào xới hiện trường. Hài cốt cuối cùng được tìm thấy và xác nhận DNA là của hạ sĩ quan Judd.
Những người bạn của thanh niên Judd ngày nào nay đã lên chức ông nội, bà ngoại. Họ cùng làm lễ tiễn đưa ông tại nghĩa trang quốc gia Arlington National Cemetery, gần thủ đô Washington, vào ngày 15 cùng Tháng Bảy.
Việc xác nhận tên tuổi  một bộ hài cốt chỉ cần vài giờ đồng hồ nhờ kỹ thuật DNA tân tiến. Nhưng, việc tìm ra một bộ hài cốt mất nhiều thời gian và công sức hơn.
Sau hai thập niên hoạt động, DPMO chỉ thành công với 96 trường hợp đưa được “về nhà,” Hoa Kỳ.
Gần 600 quân nhân khác, tuy tìm ra được tung tích, không thể chuyển về Hoa Kỳ vì đã phân huỷ nặng. DPMO liệt số người này vào danh sách “no further pursuit” (không làm gì thêm nữa.) Còn lại, có tổng cộng 1,276 người vẫn  trong danh sách “mất tích” mà DPMO đang tìm kiếm.
“Thử thách lớn nhất là tìm thông tin từ thời điểm trải qua đã lâu, và thông tin mơ hồ về địa điểm chính xác cho cuộc tìm kiếm.” Trung tá Melinda Morgan, phát ngôn viên của DPMO, cho biết.
Tuy nhắc đến các khó khăn khi làm việc với chính phủ Việt Nam, bà Morgan nói DPMO có nhận được sự hợp tác từ chính phủ này để hoàn thành các bước tìm kiếm hài cốt quân nhân.
Quy trình tìm kiếm khác nhau từng trường hợp, nhưng bao gồm: thu thập thông tin, làm việc với chính phủ Việt Nam và người địa phương, điều tra hiện trường và phỏng vấn nhân chứng, cử đội khai quật đến hiện trường. Hài cốt một khi được tìm thấy sẽ được chuyển đến phòng thí nghiệm của Bộ Quốc Phòng tại Hawaii để xét DNA. Khi thông tin được xác nhận, DPMO sẽ báo lại cho gia đình quân nhân. Gia đình có quyền quyết định cách chôn cất theo ý riêng hoặc theo nghi thức của quân đội Hoa Kỳ.

Hai trung sĩ Hoa Kỳ ghi chép trước khi cho khai quật một địa điểm tại Quảng Trị. (Hình: AFP/Gettyimages)

40 năm làm việc với Việt Nam

Tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích tại Việt Nam là lý do mà Quốc Hội thành lập JPAC và DPMO. Tuy nay hai cơ quan này mở rộng, phụ trách việc truy tìm các quân nhân Hoa Kỳ trên toàn thế giới, Việt Nam vẫn là quốc gia mà DPMO dành nhiều nhân lực, thời gian và kinh phí.
Năm 1987, Đại Tướng John W. Vessey đến Hà Nội để thương thảo về vấn đề quân nhân Mỹ mất tích tại Đông Nam Á.
Năm 1993, Cơ quan Joint Task Force-Full Accounting (bây giờ là JPAC) thành lập đội chuyên truy tìm những quân nhân “còn sống khi được thấy lần cuối,” bao gồm nhân viên điều tra của cả Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cũng trong 1993, Quốc Hội thành lập thêm cơ quan DPMO hoạt động song song và hỗ trợ JPAC. Hai cơ quan tuy hoạt động động lập trong các công tác điều tra, nhưng sẽ thảo luận qua “Fate Determination” để đưa ra kết luận cuối cùng trong nhiều trường hợp.
Năm 2004, đại diện của Hoa Kỳ, Việt Nam, và Cambodia họp tại Hà Nội để thảo luận về các quân nhân mất tích trong khu vực biên giới Việt Nam - Campodia. Năm 2005, một cuộc họp tương tự được mở để bàn về khu vực biên giới Việt Nam - Lào.
Năm 2012 và 2013, Hoa Kỳ tiếp tục làm việc với Bộ Quốc Phòng Việt Nam để kêu gọi họ thay đổi các quy định và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho chính phủ Hoa Kỳ tìm kiếm quân nhân mất tích của mình.
“Những cố gắng tìm quân nhân tại Việt Nam không thay đổi so với giai đoạn mới thành lập năm 1993, khi DPMO tập trung hoạt động tại Việt Nam.” Bà Morgan cho biết. “Chính phủ Việt Nam nay có hỗ trợ  cho phía điều tra cũng như các mặt khác.”
Mỗi năm, DPMO và JPAC có khoảng bốn đợt tìm kiếm tại Việt Nam. Từng đội có 95 người , hầu hết là người Việt Nam với một số nhỏ nhân viên Hoa Kỳ, tiến hành điều tra và khai quật trong vòng 30 ngày mỗi đợt. 
Đợt tìm kiếm mới nhất vừa bắt đầu từ 2 Tháng Tám và kết thúc vào 4 Tháng Chín, tại Quảng Nam, Quảng Tri, Quảng Binh, và Thừa Thiên-Huế. Kết quả còn cần qua giám định tại Hawaii.
Đợt tìm kiếm tiếp theo sẽ diễn ra vào hai tháng cuối năm nay, tại các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Hà Tĩnh, Nghệ An và Sơn La.
Bên cạnh các thông tin liên quan trực tiếp đến quân nhân mất tích do đội tìm kiếm thu thập được, các điều tra viên của DPMO và JPAC cũng thực hiện hơn 300 cuộc phỏng vấn khác nhau với giới tướng lãnh miền Bắc, có cả Tướng Võ Nguyên Giáp, để tìm hiểu thêm về các chi tiết xoay quanh cuộc chiến.
–

Liên lạc tác giả: vu.an@nguoi-viet.com

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=173580&zoneid=1#.UjzLSvnCS70
 

zaterdag 27 juli 2013

Giai thoại tình ca : 40 năm nhạc phẩm Love Story, Une histoire d’amour do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác

Thứ bảy 19 Tháng Ba 2011
Giai thoại tình ca : 40 năm nhạc phẩm Love Story
Ryan O'Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story (DR)
Ryan O'Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story (DR)
Tuấn Thảo
Cách đây 40 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.
Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.
Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.
Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại
Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962 – 1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài dũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva)
Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.
Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim
Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.
Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim ("Love means never having to say you're sorry"...) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết : Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles…và Tôi. Có người nói đùa rằng : Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.
Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).
Thân thế tác giả bài hát
Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.
Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao giồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.
Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.
Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.
Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca
Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story ? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.
Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.
Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20110319-giai-thoai-tinh-ca-40-nam-nhac-pham-love-story

zaterdag 20 juli 2013

Tưởng niệm Lý Tiểu Long đánh dấu 40 năm ngôi sao võ thuật này mất, ngày 20/7/2

Tưởng niệm Lý Tiểu Long
Tượng đồng Lý Tiểu Long gần Cảng Victoria ở Hồng Kông trong ngày đánh dấu 40 năm ngôi sau võ thuật này mất, ngày 20/7/2013.
Tượng đồng Lý Tiểu Long gần Cảng Victoria ở Hồng Kông trong ngày đánh dấu 40 năm ngôi sau võ thuật này mất, ngày 20/7/2013.

Ðịa điểm


CỠ CHỮ- +
Nhiều người hâm mộ cùng với thân nhân của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long đã làm lễ tưởng niệm 40 năm ngày ngôi sao võ thuật này mất.

Chị gái của Lý Tiểu Long cùng với những người hâm mộ hôm nay đã đặt hoa tại bức tượng của ngô sao này gần Cảng Victoria ở Hồng Kông.

Lý Tiểu Long sinh ra ở Mỹ nhưng lớn lên ở Hồng Kông. Lý Tiểu Long chết vì bị một chứng sưng ở não năm 32 tuổi. Một tuần sau cái chết của tài tử này vào năm 1973, bộ phim “Long tranh Hổ đấu” nổi tiếng nhất của Lý Tiểu Long được tung ra và đã mang lại danh tiếng cho ngô sao võ thuật Hồng Kông này trên toàn thế giới.
 

dinsdag 23 april 2013

20 điện thoại bán chạy nhất thế giới 40 năm qua

20 điện thoại bán chạy nhất thế giới 40 năm qua


Nokia chiếm lĩnh phần lớn các vị trí trong danh sách lẫn ngôi đầu nhờ các mẫu điện thoại di động cơ bản, trong khi Apple và Samsung tạo ấn tượng với các dòng smartphone iPhone và Galaxy.
Dựa trên những số liệu thống kê tốt nhất có được, báo Telegraph (Anh) đã đưa ra danh sách 20 điện thoại di động bán chạy nhất thế giới nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày mẫu điện thoại di động đầu tiên xuất hiện chính thức (3/4/1973).
20. Nokia 2650
Nokia-2650-jpg-1365137212_500x0.gif
Ra mắt lần đầu năm 2004 và là một trong những mẫu điện thoại hiếm hoi của Nokia sở hữu thiết kế nắp gập, Nokia 2650 thành công khi tính đến nay đã có tới gần 35 triệu máy được bán ra.
19. iPhone 3GS
apple-iphone-3gs-01-jpg-1365137212_500x0
Dù là thế hệ thứ ba của Apple, iPhone 3GS lại là chiếc smartphone có mức tiêu thụ ấn tượng với số lượng máy bán ra tính ra trên toàn cầu đã vượt 35 triệu chiếc. Ra mắt từ năm 2009, tuy nhiên, đến cuối năm ngoái khi iPhone 5 xuất hiện iPhone 3GS mới được Apple dừng sản xuất và thay thế bằng iPhone 4 bản 8 GB.
18. Samsung Galaxy S II
Samsung-Galaxy-S-II-jpg-1365137212_500x0
Galaxy S II là sản phẩm đã mở ra thành công cho Samsung và dòng sản phẩm Galaxy S. Với thiết kế mỏng, màn hình rộng 4,3 inch cùng cấu hình mạnh mẽ với chip lõi kép, lúc ra mắt năm 2011, S II là biểu tượng của làng điện thoại Android và là đối thủ đáng gờm nhất của iPhone 4 và 4S. Tính đến tháng 4/2013, đã có khoảng 40 triệu chiếc Galaxy S II được tiêu thụ toàn cầu.
17. Samsung Galaxy S III
s3fronts-jpg-1365137213_500x0.jpg
Thành công của Galaxy S II khiến Samsung tiếp tục trình làng Galaxy S III vào năm 2012. Đây cũng chính là chiếc smartphone Galaxy và điện thoại Android thành công nhất từ trước đến nay, thậm chí từng có doanh số bán ra vượt cả iPhone trên toàn cầu trong quý III/2012. Số lượng máy bán ra hiện hơn 40 triệu chiếc.
16. Nokia 6230
Nokia-6230-phone-jpg-1365137213_500x0.jp
Cuối 2003, khi ra mắt Nokia 6230 là chiếc điện thoại sành điệu khiến nhiều người dùng mong  muốn sở hữu, nhờ thiết kế đẹp, màn hình màu, camera VGA và khe cắm thẻ cho phép chơi nhạc. Thành công của 6230 khiến Nokia tung ra bản nâng cấp 6230i ít lâu sau đó. Đến nay, đã có tổng cộng khoảng 50 triệu chiếc Nokia 6230 tiêu thụ trên toàn cầu.
Tuấn Anh
 
 
 
15. Nokia 3100
Nokia-3100-jpg[1024083416].jpg
Thiết kế nhiều màu sắc, màn hình màu có thể chớp sáng theo điệu nhạc cùng hàng loạt vỏ máy có thể thay thế khiến cho hơn 50 triệu điện thoại dòng cơ bản Nokia 3100 đã được tiêu thụ trên toàn cầu.
14. Motorola StarTAC
Motorola-StarTAC-jpg[1024083416].jpg
Một trong những cụ tổ của làng điện thoại là Motorola StarTAC khi lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1996 và đến nay đã có tới 60 triệu chiếc được bán ra. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của StarTAC gắn liền với thời kỳ đầu của việc sử dụng điện thoại di động và điều này khiến cho không ít người hoài cổ tìm lại StarTAC để sưu tập.
13. Motorola C200
Motorola-C200-jpg[1024083416].jpg
Không còn nắp gập vỏ sò, ăng-ten nổi bên ngoài như StarTAC mà thay vào đó, Motorola C200 lại có thiết kế dạng thanh phổ biến của điện thoại di động. Tuy nhiên, sức hút của model này cũng không hề kém cạnh đàn anh khi tính trên toàn cầu cũng có tới 60 triệu máy được bán ra.
12. iPhone 4S
lrg-iphone4S-b-1-jpg[1024083416].jpg
4S vẫn là chiếc smartphone có lượng tiêu thụ kỷ lục và đứng đầu hiện nay. Sau khi ra mắt vào năm 2011, nay đã có tới hơn 60 triệu chiếc được bán ra trên toàn cầu và Apple hiện tại vẫn sản xuất và cung cấp sản phẩm ra thị trường, hứa hẹn doanh số vẫn còn tiếp tục tăng lên.
11. Nokia 5130
 
nokia-5130-jpg[1024083416].jpg
Ra mắt vào năm 2007, thời điểm mà Nokia đang thống trị làng điện thoại di động toàn thế giới, dù là điện thoại phổ thông không sử dụng hệ điều hành, 5130 vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt với người trẻ, thích tính năng giải trí khi nằm trong dòng sản phẩm Xpress Music. Đã có tổng cộng 65 triệu chiếc Nokia 5130 được bán ra tính đến nay.
Tuấn Anh
Thứ sáu, 5/4/13, 14:19 GMT+7


Xem nhiều nhất
http://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/san-pham/dien-thoai/20-dien-thoai-ban-chay-nhat-the-gioi-40-nam-qua-2649109-p2.html

10. Nokia 6010
6010-jpg[1024083416].jpg
Ra mắt ngay sau Nokia 6230 vào năm 2004, "người anh em" Nokia 6010 cũng có tới 75 triệu máy được bán ra trên toàn thế giới. Không có camera, 6010 chỉ có màn hình màu và những tính năng cơ bản.
9. Nokia 1208
Nokia-1208-jpg[1024083416].jpg
Với thiết kế và tính năng đơn giản giống hệt 1200, Nokia 1208 có sự khác biệt duy nhất là sở hữu màn hình màu. Tuy nhiên, từ khi ra mắt (năm 2007), nay đã có tới 100 triệu sản phẩm được bán ra.
8. Nokia 1600
imgnokia-16001-jpg[1024083416].jpg
Trình làng năm 2006, không tạo được sự nổi bật về tính năng hay công nghệ nhưng với thiết kế đơn giản, dễ sử dụng và thời lượng pin tốt, Nokia 1600 vẫn có doanh số bán cao gấp đôi iPhone 4S.
7. Motorola Razr V3
v3-big-jpg[1024083416].jpg
Với hơn 130 triệu máy bán ra trên toàn thế giới, Razr V3 là biểu tượng mang tới cho Motorola sự nổi tiếng và phổ biến trên toàn cầu. Thậm chí, sau một thời gian ngừng sản xuất dòng Razr và V3, tới năm 2011, Motorola đã hồi sinh lại thương hiệu này bằng một số model Android.
6. Nokia 2600
96nokia2600-jpg[1024083416].jpg
Đã có 135 triệu chiếc Nokia 2600 được bán ra trên toàn thế giới kể từ khi sản phẩm ra mắt vào năm 2004. 2600 nằm trong dòng điện thoại phổ thông Series 2 của Nokia, trang bị đáng chú ý nhất là màn hình màu. Ngoài phiên bản gốc, Nokia cũng từng hồi sinh lại sản phẩm với model 2600 Classic vào năm 2008.
Tuấn Anh
 
5. Nokia 3310
nokia-3310-old-gold-jpg[1024083416].jpg
Giống như StarTAC, Nokia 3310 cũng là model gắn liền với người dùng Việt Nam trong thời kỳ đầu sử dụng điện thoại di động. Với nhiều người, 3310 cũng còn được nhớ đến khi là một trong những điện thoại đầu tiên của Nokia có trò chơi rắn săn mồi. Sau hơn 10 năm xuất hiện, đã có khoảng 136 triệu chiếc 3310 đã lên kệ.
4. Nokia 5230
5230-jpg[1024083416].jpg
5230 ra mắt vào năm 2010, thời điểm iPhone đang tung hoành và thị phần của Nokia bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Với mức giá rẻ hơn đàn anh 5800 Xpess Music cùng với thương hiệu vốn được người dùng rất tin tưởng, 150 triệu chiếc điện thoại 5230 đã được bán ra.
3. Nokia 1200
1200-jpg[1024083416].jpg
Giá rẻ, pin lâu và có đèn pin tích hợp, đó có thể là những điều khiến cho chiếc điện thoại cực kỳ đơn giản của Nokia có mức tiêu thụ lên tới 150 triệu chiếc.
2. Nokia 3210
3210-jpg[1024083416].jpg
Với 160 triệu chiếc bán được, 3210 là model đứng thứ hai trong danh sách. Thiết kế của Nokia 3210 (ra mắt 1999) với nhiều màu sắc trẻ trung có thể khiến nhiều người liên tưởng tới những chiếc Lumia đời mới của Nokia hiện nay.
1. Nokia 1110
1110-jpg[1024083416].jpg
Không bất ngờ nếu Nokia là hãng điện thoại đứng ở vị trí đầu tiên nhưng điều thú vị là Nokia 1110 lại là chiếc điện thoại di động bán chạy nhất từ trước đến nay trên toàn thế giới. Thậm chí, so với các đối thủ còn lại, doanh số tiêu thụ của Nokia 1110 cũng lập kỷ lục thuyết phục với 250 triệu máy trên toàn cầu.
Tuấn Anh