Posts tonen met het label Tưởng nhớ. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Tưởng nhớ. Alle posts tonen

donderdag 6 februari 2020

Tưởng nhớ Kobe Bryant, cầu thủ bóng rổ lừng danh, tử nạn do rớt trực thăng ngày 26/1/2020 ở Calabasas (gần Los Angeles), California, hưởng dương 41 tuổi


Tưởng nhớ Kobe Bryant, cầu thủ bóng rổ lừng danh



Cầu thủ Kobe Bryant qua đời ở tuổi 41. (Hình: AP Photo/Jeff Lewis, file)
LOS ANGELES, California (NV) – Cầu thủ bóng rổ lừng danh Kobe Bryant của đội Los Angeles Lakers cùng con gái 13 tuổi và 3 người khác thiệt mạng ngày 26 Tháng Giêng, 2020, trong vụ rớt trực thăng ở Calabasas, California.
Khi nhắc đến môn bóng rổ, hầu như không ai không biết đến tên tuổi của ông.
Ông sinh ngày 23 Tháng Tám, 1978 ở Philadelphia, Pennsylvania, là con trai của cố cầu thủ bóng rổ Joe Bryant.
Trong những năm trung học ở Pennsylvania, ông được coi là cầu thủ bóng rổ hay nhất ở Mỹ và được giải NBA mời vào năm 1996 để chơi cho đội Charlotte Hornetts, nhưng sau đó được chuyển nhượng qua đội Los Angeles Lakers.
Từ những năm đầu của sự nghiệp bóng rổ chuyên nghiệp, Bryant đã chinh phục được rất nhiều khán giả và các thành tích của ông khó có người nào đạt được.
Ông vô địch giải NBA được tổng cộng năm lần từ năm 2000 đến 2002, vào năm 2009 và năm 2010. Cầu thủ mang áo số 8, sau đó số 24 này được chọn vào trận đấu của các cầu thủ hay nhất (All-Star) tổng cộng 18 lần.
Khi 34 tuổi, ông trở thành cầu thủ trẻ nhất của giải NBA ghi được tổng cộng 30,000 điểm trong sự nghiệp. Ông còn là cầu thủ ghi điểm trong một trận đầu nhiều thứ nhì trong lịch sử, ghi đến 81 điểm trong trận đấu với Toronto Raptors vào ngày 1 Tháng Hai, 2010.
Kỷ lục này chỉ thua ông Wilt Chamberlain, ghi đến 100 điểm hồi năm 1962.

Kobe Bryant tại buổi trao giải Osca lần thứ 90, Tháng Ba, 2018, Hollywood, California. (Hình: FREDERIC J. BROWN/ AFP/Getty Images)
Ông Bryant ký hợp đồng với đội Los Angeles Lakers hồi năm 1996. (Hình: AP Photo/Susan Sterner, file)
Ông Bryant lao vào khán giả để cứu bóng trong một trận đầu hồi năm 2001. (Hình: AP Photo/Pat Sullivan, file)
Người hâm mộ tưởng nhớ Bryant trước bức tranh tường ở Los Angeles. (Hình: Rodin Eckenroth/Getty Images)
Người hâm mộ dán tên ông Bryant lên một ngôi sao trống ở Đại Lộ Danh Vọng. (Hình: Rodin Eckenroth/Getty Images)
Người hâm mộ khóc thương cho cầu thủ Bryant tại sân vận động Staples Center, sân nhà của đội Lakers. (Hình: FREDERIC J. BROWN/AFP via Getty Images)

Ông chính thức giải nghệ vào năm 2016 và đội Lakers quyết định không cho ai khác mặc số áo 8 và 24 sau ông.
Sau khi giải nghệ, ông làm phim hoạt họa ngắn “Dear Basketball” để nói ý nghĩa của môn bóng rổ đối với bản thân mình và thắng giải Oscar.
Vì rớt máy bay trực thăng, cầu thủ Kobe Bryant qua đời ở tuổi 41. (Th.Lê)
https://www.nguoi-viet.com/photo/tuong-nho-kobe-bryant-cau-thu-bong-ro-lung-danh/

Siêu sao bóng rổ Mỹ Kobe Bryant tử nạn trong vụ rớt trực thăng gần Los Angeles


Ngôi sao bóng rổ Kobe Bryant vừa thiệt mạng trong vụ trực thăng rớt gần Los Angeles. (Hình: AP Photo/David J. Phillip)
CALABASAS, California (NV) – Cựu siêu sao bóng rổ Mỹ, Kobe Bryant, 41 tuổi, người chơi trong đội Los Angeles Lakers trong 20 năm, vừa thiệt mạng khi chiếc trực thăng chở ông bị rớt xuống đồi và bốc cháy ở thành phố Calabasas, cách Los Angeles chừng 22 dặm (khoảng 35 km), vào sáng Chủ Nhật, 26 Tháng Giêng.
Theo bản tin của tờ Los Angeles Times, tin tức nói rằng có bốn người khác trên chiếc trực thăng, gồm cả người con gái của ông Bryant là Gianna, mới 13 tuổi, cũng đều thiệt mạng.
Cái chết của ông Bryant làm Los Angeles cũng như cả thế giới thể thao phải bàng hoàng. Các nguồn tin thông thạo cho biết chiếc trực thăng cất cánh từ Orange County, nơi ông Bryant cư ngụ.
Chiếc trực thăng rớt lúc khoảng 10 giờ sáng, gần Las Virgenes Road, nằm về phía Nam đường Agoura Road, theo một chỉ huy cao cấp thuộc Văn Phòng Cảnh Sát Trưởng Los Angeles County.
Có bốn người khác ở trên chiếc trực thăng bị rớt trong thời tiết sương mù và không ai sống sót.
Hiện trường nơi xảy ra vụ trực thăng rớt ở Calabasas, California. (Hình: AP Photo/Mark J. Terrill)
Các nhân chứng nói rằng họ nghe thấy tiếng động cơ của chiếc trực thăng loại Sikorsky S-76 khựng lại, rồi sau đó đâm đầu xuống đất, theo lời Đại Úy Cứu Hỏa Tony Imbrenda.
Đám cháy trên đồi, bùng lên sau tai nạn này, đã được dập tắt vào lúc khoảng 10 giờ 30 phút sáng.
Các điều tra viên thuộc cơ quan An Toàn Vận Chuyển Quốc Gia (NTSB) đã đến hiện trường để khởi sự cuộc điều tra, theo lời ông Allen Kenitzer, phát ngôn viên cơ quan Điều Hành Hàng Không Liên Bang Mỹ FAA.
Cầu thủ Kobe Bryant qua đời ở tuổi 41. (Hình: AP Photo/Jeff Lewis, file)
Cầu thủ bóng rổ lừng danh Kobe Bryant sinh ngày 23 Tháng Tám, 1978, ở Philadelphia, Pennsylvania, là con trai của cố cầu thủ bóng rổ Joe Bryant.
Trong những năm trung học ở Pennsylvania, ông được coi là cầu thủ bóng rổ hay nhất ở Mỹ và được giải NBA mời vào năm 1996 để chơi cho đội Charlotte Hornetts, nhưng sau đó được chuyển nhượng qua đội Los Angeles Lakers.
Từ những năm đầu của sự nghiệp bóng rổ chuyên nghiệp, Bryant đã chinh phục được rất nhiều khán giả và các thành tích của ông khó có người nào đạt được.
Ông vô địch giải NBA được tổng cộng năm lần từ năm 2000 đến 2002, vào năm 2009 và năm 2010. Cầu thủ mang áo số 8, sau đó số 24 này được chọn vào trận đấu của các cầu thủ hay nhất (All-Star) tổng cộng 18 lần.
Ông Bryant ký hợp đồng với đội Los Angeles Lakers hồi năm 1996. (Hình: AP Photo/Susan Sterner, file)
Khi 34 tuổi, ông trở thành cầu thủ trẻ nhất của giải NBA ghi được tổng cộng 30,000 điểm trong sự nghiệp. Ông còn là cầu thủ ghi điểm trong một trận đầu nhiều thứ nhì trong lịch sử, ghi đến 81 điểm trong trận đấu với Toronto Raptors vào ngày 1 Tháng Hai, 2010.
Kỷ lục này chỉ thua ông Wilt Chamberlain, ghi đến 100 điểm hồi năm 1962.
Ông chính thức giải nghệ vào năm 2016 và đội Lakers quyết định không cho ai khác mặc số áo 8 và 24 sau ông.
Sau khi giải nghệ, ông làm phim hoạt họa ngắn “Dear Basketball” để nói ý nghĩa của môn bóng rổ đối với bản thân mình và thắng giải Oscar. (V.Giang & Th.Lê)
https://www.nguoi-viet.com/hoa-ky/sieu-sao-bong-ro-my-kobe-bryant-tu-nan-trong-vu-rot-truc-thang-gan-los-angeles/

zondag 13 oktober 2019

Tưởng nhớ nhà thơ Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Tuấn Kiệt qua đời ngày 8/10/2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi

Tưởng nhớ nhà thơ Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Tuấn Kiệt

Vương Trùng Dương

Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. (Hình: Người Việt Bốn Phương)
“Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đạt tới cõi nguồn trường mộng tinh anh nên gợi dậy rất nhiều chân trời hoài niệm. Dựng lên những câu hỏi huyền hoặc. Lời thơ pha đủ mọi dư vang của triều rộng. Con cháu Nguyễn Du đã gặp Hoelderlin Nerval – và đón suy tư hướng vọng vĩnh thể của thiên tài Tây phương. Niềm chiêm nghiệm bát ngát vô song…” (Nhà thơ Đức Friedrich Hölderlin, 1770-1843, nhà thơ Pháp Gérard de Nerval 1808-1855 – Bùi Giáng).
“Chỉ riêng với thơ, Trần Tuấn Kiệt đã dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đến những xứ sở chỉ có những tâm hồn như anh mới khám phá ra được” (Trần Áng Sơn: Trần Tuấn Kiệt – từ nhà thơ, nhà văn đến võ sĩ, 2007).
“Nếu có ai hỏi tôi, hãy chọn một thi sĩ miền Nam đáng trọng đáng quý nhất, và thi sĩ nhất, tôi chọn Sa Giang Trần Tuấn Kiệt” (Viên Linh: Bằng hữu cuối trời: Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, 2012).
“Trần Tuấn Kiệt là thi sĩ suốt đời mang nghiệp thi ca. Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dường như ông song hành giữa lãng mạn thi ca và hiện thực đời sống. Ðọc thơ ông, là chia sẻ với những mẫu đời của một thời đại đặc biệt với những tâm cảm đặc biệt và của những người có trái tim nhạy cảm. Trần Tuấn Kiệt làm thơ rất dễ dàng, viết cả năm ngàn bài thơ với cả nét lãng mạn và thực tế trộn lẫn” (Nguyễn Mạnh Trinh: Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca & Cuộc Đời, 2016).
“Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đi vào khung trời riêng, của hơn 50 năm hòa nhập với thi ca, chất chứa đầy khí lực tạo dựng một vũ trụ thơ của anh” (Ngô Nguyên Nghiễm: Chân Dung Văn Nghệ Sĩ 2018).
***
Trần Tuấn Kiệt qua đời vào chiều ngày 8 Tháng Mười, 2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Mồ côi mẹ lúc 8 tuổi nên thuở bé ông sống với bà ngoại tại vùng tản cư ở Đồng Tháp Mười. Năm 1950, lúc 11 tuổi lên Sài Gòn, theo học ở trường Tân Thanh với các giáo sư như Tam Ích, Thiên Giang, Bùi Giáng, Đồng Tân… và sau học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc về bộ môn thổi sáo và đàn tranh, theo học một năm rồi bỏ ngang.
Với năng khiểu bẩm sinh, khởi đầu nghiệp cầm bút, thơ xuất hiện trong mục Hoa Hàm Tiếu, giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh; gia nhập Văn Ðàn Bạch Nga và cộng tác tờ bán nguyệt san Phổ Thông (1958-1971) của Nguyễn Vỹ… Tam Ích giới thiệu vào làng báo ở Sài Gòn. Từ cuối thập niên 1950 ông đã cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cho đến Tháng Tư, 1975.
Bút hiệu Sa Giang ghép từ quê nhà Sa Đéc và Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất có nhiều dòng sông với Cửu Long Giang. Với thơ ông ký Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, với văn ông ghi Trần Tuấn Kiệt. Ngoài ra ông còn nhiều bút hiệu khác như: Việt Thần, Việt Long, Việt Hoàng, Duy Thức, Lan Sơ Khai, Xuân Thu, Hồng Lĩnh,… tùy theo lãnh vực sáng tác. Sau năm 1975, trải qua thời gian lao tù, ông dùng nhiều bút hiệu viết từ võ hiệp đến gia chánh, vô thưởng vô phạt, in sách để mưu sinh.
Trần Tuấn Kiệt viết đủ các thể loại, như thơ, biên khảo, truyện dài, võ thuật, dã sử kiếm hiệp, tín ngưỡng thần đạo Việt Nam… nhưng gọi ông là thi sĩ bởi vì từ thi phẩm đầu tay “Thơ Trần Tuấn Kiệt” (1963), kế tiếp với 26 tập thơ, trong đó tập thơ “Lời Gởi Cây Bông Vải” (1969) được Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật năm 1970, bộ môn Thơ của Tổng Thống VNCH tTập thơ chừng 70 trang, gồm những bài thơ 5 chữ và lục bát). Hơn nữa, trong thi ca là tiếng lòng, tâm sự và nguồn cảm hứng của cuộc đời để trang trải với tha nhân.
Ông đã xuất bản khoảng hai trăm tác phẩm trong nhiều thể loại trong lãnh vực từ Văn Học Nghệ Thuật đến Võ Thuật. Ngoài 27 tập thơ (sau năm 1975 ông tự in một số tập thơ phổ biến hạn chế để tiếp tục cuộc hành trình từ thuở ban đầu) còn có:
Truyện dài: “Sa Mạc Lan Dần,” “Tiếng Đồng Nội,” “Hồng Cẩu Quẩy”…
Dã sử: “Quật Mộ Tào Tháo,” “Quật Mộ Tần Thủy Hoàng,” “Linh Sơn Nghĩa Sĩ.”
Biên khảo: “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại,” Khai Trí xuất bản 1965, Trần Tuấn Kiệt mới 26 tuổi. Gồm hai phần: Phần I – Thi Ca Tiền Chiến có 43 nhà thơ; Phần II – Thời Chiến Tranh có 26 nhà thơ. Sau này ông viết thêm “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965),” dày gần 1,200 trang, rất công phu, tài liệu về thi ca ngắn gọn để tìm hiểu. (Cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh-Hoài Chân chỉ dày 394 trang từ Tản Đà đến Trần Huyền Trân). “Tác Giả Tác Phẩm trước 1975” và “Tác Giả Tác Phẩm sau 1975” dày hơn 5,000 trang gồm năm quyển, tự in còn dang dở.
Võ thuật: “Dịch Cân Kinh,” “Thái Cực Quyền,” “La Hán Quyền,” “Quyền Thuật Thiếu Lâm Tự”…
Tôn giáo tín ngưỡng: “Tín Ngưỡng Thần Đạo Việt Nam” còn gọi là Đại Việt Thần Đạo viết tay 15,000 trang với sự cộng tác và sưu tầm của nhiều người bạn và các tác giả khác. Chỉ in được vài tập ở Luân Đôn năm 2010.
Quyển “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, 1880-1965” của Trần Tuấn Kiệt. (Hình: quansachmuathu.vn)
Cuộc đời Trần Tuấn Kiệt sống chết với nghiệp cầm bút nhưng số phận không thoát khỏi lao tù.
Năm 1970, Trần Tuấn Kiệt được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật. Vài nguồn tin cho rằng ông bị kẻ khác đố kỵ đả kích “trao thân lầm trốn lính.” Năm 1971 khi ông đang ở tù, với mức án 10 năm lao công đào binh vì không chịu đi lính, vợ ông cùng với họa sĩ Nghiêu Đề xin chữ ký của 100 vị nhân sĩ, trong đó người đứng đầu ký tên Bản Kiến Nghị do Linh Mục Thanh Lãng (chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1963-1975), ông đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ân xá còn một năm tù treo và được cho về nhà vào ngày Ba Mươi Tết năm 1971.
Sau 1975, ông cũng bị đi tù cải tạo gần 10 năm, ở trại giam Phan Đăng Lưu, Chí Hòa, Sài Gòn rồi đổi lên trại tù Gia Trung ở Gia Lai, Kon Tum đến Tháng Mười, 1985, mới được về. Sách vở của ông rất nhiều nhưng ông đã đốt vào thời điểm Tháng Tư, 1975, cho nên thơ và truyện của ông trước kia, hiện nay rất khó tìm. Ông chia sẻ: “Lúc Kiệt đi tù gần 10 năm ở trại Gia Trung về ở nhà, các bạn thường giúp đỡ: Trần Lam Giang, Bùi Ngọc Tuấn, Phương Triều, Thái Dương, Đào Trường Phúc… gởi về.” Bản án dành cho ông mười năm từ Chí Hòa đến Gia Lai thật là phi lý, đó cũng là thảm kịch cho văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trước năm 1975!
Trần Tuấn Kiệt sống rất giản dị, đầu tóc rối bù, ăn mặc xuềnh xoàng. Tuy sáng thật nhiều, sống với nghề cầm bút nhưng vẫn nghèo. Cư ngụ căn nhà trong hẻm, vợ bán bắp nướng và chuối chiên để nuôi cả gia đình. Khi được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật năm 1970 với số tiền khá lớn nhưng bản tính hào sảng, có cơ hội chén tạc chén thù với bạn bè. (Giải thưởng khoảng 400,000 đồng thời bấy giờ (vàng khoảng 25,000 đồng một lượng). Ông đích thực là chàng lãng tử sống với thơ, văn, suốt một đời. Thích đá gà và cũng là đệ tử của Lưu Linh. (Lưu Linh 221-300, trong nhóm Trúc Lâm Thất Hiền, trọng lễ nghĩa, không bao giờ làm phật lòng ai. Ông suốt đời chỉ lấy bạn và rượu làm niềm vui. Để ca ngợi rượu, Lưu Linh đã viết bài Tửu Đức Tụng (ca ngợi đức hạnh của rượu) coi như một tuyên ngôn. Sau này những tửu đồ coi như một áng danh văn về rượu).
Về chuyện đá gà, Trần Tuấn Kiệt viết lại: “Khi không có đề tài gì cho mục Nói Chuyện Với Đầu Gối thì Chu Tử thường đem Kiệt ra làm đề tài. Cho nên mới có chuyện Trấn Tuấn Kiệt nổi tiếng nhất nước là đá gà, còn người thật thứ nhì mới đến Nguyễn Cao Kỳ. Sở dĩ có chuyện đó là vì mỗi chiều Thứ Bảy đi đá gà về, Kiệt đều mua mấy con gà chết trận về cho bà xã nấu cà-ri đãi anh em ăn no nê sảng khoái. Nhằm lúc không có gà chết mà bạn bè tới nhà đông quá, Kiệt phải làm luôn con gà cưng nhất của mình đãi anh em nhậu…”.
Những năm cuối đời, sức khỏe yếu kém, răng rụng gần hết, không còn sáng tác!
Hầu như mọi người đã “Trải qua một cuộc bể đâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du – Truyện Kiều), trong đó Trần Tuấn Kiệt “Hễ đến mùa Xuân thì tôi lại nhớ tới những người tình xưa và nhất là những người bạn thân mà đời mình không thể nào quên.” Trong tùy bút của ông, “Một Mùa Xuân Trở Lại Cho Đời Nghệ Sĩ,” ông bày tỏ kỷ niệm trước năm 1975 và sau này:
“Sau biến cố 75, mọi sự đều thay đổi. Bạn tôi Trầm Tử Thiêng qua Mỹ viết bản trường ca Áo Dài Việt Nam tôi được nghe một lần. Rồi anh mất bên đó.
Mùa xuân này tôi chợt có dịp trở về con đường hẻm Bàn Cờ cũ gần nhà cụ Nguyễn Đức Quỳnh nơi cư xá Đô Thành có trường Tân Thanh xưa nay đã biến thành khách sạn…
…Ngày đó trong khuôn viên đại học Văn Khoa có dựng một gian nhà gỗ nhỏ của nhóm họa sĩ trẻ gồm Mai Chửng điêu khắc, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức… Căn nhà gỗ này do Nguyễn Trung và Hồ Thành Đức xin được trong không quân đem về dựng lại. Hằng ngày Nguyên Khai và Nguyễn Thành Nhơn đến điêu khắc chơi và thoạt tiên cũng là chỗ ngủ của Nguyễn Nghiệp Nhượng và Cù Nguyễn. Sau 75, khi qua đường Lê Thánh Tôn, tôi nhớ lại cái quán cà phê cũ đã thay mới, các cây điệp (phượng đỏ) cội rất lớn, thân cây bị cưa cụt đã đâm ra thêm nhiều cành nhánh mới, có nhánh đã ra hoa. Tôi đứng lặng nhớ về bạn bè hay gặp nhau ở đấy. Trần Lam Giang, Lê Tài Tấn, Phạm Quốc Bảo và Bùi Ngọc Tuấn, nhớ tới các bạn họa sĩ, Khánh Ly, Nguyễn Thụy Long, Lam Thiên Hương thuở còn xuân sắc tươi đẹp. Bây giờ Lam Thiên Hương trở thành bà ngoại già thường dắt cháu ngoại đến Cung Văn Hóa Lao Động chơi…
…Cả mấy chục năm ở Sài Gòn mà tôi cứ quanh quẩn mãi Thị Nghè như một thằng Mán không biết gì nhiều sự đổi thay.”
Những bài tùy bút sau này của Trần Tuấn Kiệt viết rất chân tình và cảm động, ông nhớ lại một thời đã sống bạt mạng, lãng tử trong giới cầm bút với nhiều khuôn mặt đã in sâu vào ký ức.
Người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh đã trở về với cát bụi. Và, hình ảnh Trần Tuấn Kiệt với tha nhân như hai câu thơ của ông:
“Người thi sĩ đã một ngày gặp gỡ
Thì ngàn năm bóng sáng vẫn chưa tan”
Bên kia bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Trần Tuấn Kiệt vừa vĩnh biệt cố hương. Bên này bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Du Tử Lê qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười (10 giờ 6 phút sáng ngày 8 Tháng Mười, giờ Việt Nam), tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi. Năm 1973, Du Tử Lê được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn thơ với thi phẩm “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”
Trong cùng một ngày, hai nhà thơ được giải Văn Học Nghệ Thuật đã vĩnh viễn ra đi! (Vương Trùng Dương)
https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/tuong-nho-nha-tho-nam-ky-luc-tinh-tran-tuan-kiet/

woensdag 2 juli 2014

Tưởng nhớ cố nữ nghệ sĩ Phùng Há

Tưởng nhớ cố nữ nghệ sĩ Phùng Há
Click image for larger version Name: PhungHa150c.jpg Views: 0 Size: 19.5 KB ID: 623665  
Một tấm gương sáng nhắc mãi tinh thần dân tộc Việt Nam
(05/07/2009 – 05/07/2014)

Tôi nhớ ngày mất của cố nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há là ngày 05 tháng 07 năm 2009. Vậy mà khi tôi gởi email về cho một bạn ở báo Sân Khấu thì bạn đó nói năm nay ngày giỗ cố NSND Phùng Há là ngày 13/06/2014. Có phải là giỗ vào tháng 6 là làm theo âm lịch không?
Mà thôi! Cúng giỗ theo âm lịch hay theo dương lịch, dù khác ngày thì cũng chứng tỏ là nghệ sĩ cải lương vẫn nhớ đến ngày mất của cố nghệ sĩ tiền phong Phùng Há.



Cố nữ nghệ sĩ Phùng Há, tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 (Tân Hợi) tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Thân sinh của nữ nghệ sĩ Phùng Há, tên Trương Nhân Trưởng, người làng Phú Lạng, huyện Hạc Sơn, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, thân mẫu là bà Lê Thị Mai, người làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho.

Tính đến ngày bà mất 05/07/2009, bà Phùng Há hưởng thọ được 99 tuổi. Bà đã phụng sự nghệ thuật sân khấu hơn 85 năm kể từ vai hát đầu tiên năm 13 tuổi, đó là vai Giả Thị trong tuồng Hoàng Phi Hổ quy Châu của soạn giả Nguyễn Công Mạnh.

Người chồng đầu tiên của bà là nhạc sĩ Tư Chơi (tức soạn giả Huỳnh Thủ Trung). Bà sanh đứa con đầu lòng là Lý Bửu Trân năm 1927. Bửu Trân không mang họ Huỳnh của cha Huỳnh Thủ Trung vì sau hai năm chung sống, cha mẹ của cô ly dị, cô được mẹ gởi về Huyện Hạc San nhờ dì ruột là bà Trương Liên Hảo nuôi dưỡng. Bửu Trân lấy theo họ Lý của dưỡng phụ trong tờ khai sanh để đi học. Bửu Trân về nước sống với mẹ (bà Phùng Há) từ năm 1954 và mất vào tháng 12 năm 1959 vì bệnh ung thư máu ở nhà thương Grall.

Người chồng thứ hai của bà là ông Lê Công Phước tức Phước George tức Bạch công tử, con của ông Đốc phủ Lê Công Xủng ở Mỹ tho. Bạch công tử lập gánh hát Huỳnh Kỳ, bà Phùng Há vừa là đào chánh vừa là bà bầu trẻ tuổi trực tiếp quán xuyến mọi hoạt động nghệ thuật trên sân khấu. Bà có hai con với ông Phước George (một trai tên Paul, một gái tên Suzanne Lý). Cả hai con bà đều mất khi còn rất nhỏ. Paul và Suzanne Lý từ lúc bệnh cho đến lúc chết, Bạch công tử đều không có mặt ở nhà. Sau khi con mất, bà Phùng Há ly dị với chồng.

Bà Phùng Há là chim đầu đàn trên nhiều lãnh vực liên hệ đến ngành nghệ thuật sân khấu. Bà là diễn viên chánh trong hầu hết những vở tuồng cải lương mà bà có diễn, có nhiều vai hát để đời như vai Mộng Hoa Vương trong tuồng cùng tên, vai Lữ Bố trong Phụng Nghi Đình, vai Lựu trong Đời cô Lựu, vai Tô Ánh Nguyệt trong tuồng Tô Ánh Nguyệt, vai cô gái nhà giàu trong vở Đêm Dài Vô Tận của Năm Châu… Tôi đã xem bà Phùng Há diễn vai cô gái tư sản trong tuồng Đêm Dài Vô Tận hơn sáu chục năm qua rồi mà vẫn còn nhớ như in trong óc lớp diễn giữa cô gái và anh họa sĩ mù (do cố nghệ sĩ Tư Út diễn) Câu chuyện như sau: “Cô gái con nhà giàu vô tình để anh họa sĩ si mê mình phải mù đôi mắt. Cô gái hối hận nên tình nguyện đến làm thư ký cho anh họa sĩ. Có một lớp diễn mà tôi cho là “tuyệt vời”: Cô gái mang xấp thư của người hâm mộ đến đọc cho họa sĩ nghe. Họa sĩ dùng tay và mũi ngửi để chọn thư, cái thì anh chê “toàn là mùi son phấn”, cái thì anh chê “toàn là mùi tiền” và ném hết xấp thư. Lúc đó cô gái mới run run đưa cho anh bức thư của mình. Vừa cầm lấy, anh họa sĩ đã thảng thốt kêu lên: “Đọc, đọc ngay thư này cho tôi, bức thư phảng phất mùi hương cố nhân”. Phùng Há ca liền 20 câu vọng cổ trần tình nỗi hối hận của mình. Nghe những câu đầu, anh họa sĩ cứ cười mỉa mai, anh càng cười, giọng ca Phùng Há càng nghẹn ngào nức nở. Sự tung hứng, kết hợp diễn xuất giữa Phùng Há và Tư Út trong lớp này thật tuyệt vời”. Khán giả cả khán phòng khóc sụt sùi, tôi cũng không cầm được nước mắt. Tôi tin rằng nhiều khán giả và nghệ sĩ đều còn nhớ về những vai diễn để đời của bà Phùng Há, bởi với tài năng tuyệt vời của Bà, những ai đã xem một lần, chắc sẽ chẳng bao giờ quên được.

Bà đã được tặng rất nhiều bằng khen, huy chương, huy hiệu danh dự của các nước mà bà có dịp đến biểu diễn tài nghệ như ở Pháp, Anh quốc, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Maroc, Sénégal, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Liên Xô cũ, Thái Lan, Campuchia…

Bà Phùng Há là chủ nhân của nhiều đoàn hát chuyên hát tuồng Tàu (đoàn Huỳnh Kỳ, đoàn Phi Phụng, đoàn Phụng Hảo 1, 2, 3, 4,), là người đồng sáng lập và là hội trưởng nhiều hội kỳ của Hội Nghệ Sĩ Ái Hội Tương Tế, là giáo sư kịch nghệ của nhiều trường dạy nghề ca hát, là thầy đào tạo nhiều nghệ sĩ cải lương tài danh trong ba thế hệ nghệ sĩ.
Bà Phùng Há cũng là người tổ chức và vận động thực hiện xây dựng chùa nghệ sĩ (Nhựt Quang Tự ở Gò Vấp), xây dựng Nghĩa Trang Nghệ Sĩ ở Gò Vấp và Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ (đường Âu Dương Lân, quận 8).

Hiện nay trong Nghĩa Trang Nghệ Sĩ ở Gò Vấp có hơn 400 ngôi mộ nghệ sĩ cải lương tài danh và trong Chùa Nghệ Sĩ còn giữ 380 hũ hài cốt nghệ sĩ trong nước và ở hải ngoại đem về như hài cốt cố nghệ sĩ Tư Út, Hữu Phước, Hùng Cường, các nghệ sĩ Bắc di cư Túy Định, Phúc Lai,…
Bà là người nghệ sĩ cao tuổi nhất có nhiều hoạt động từ thiện giúp cho đồng bào nạn nhân thiên tai bão lụt (hơn 50 chuyến đi tặng quà cứu trợ cho đồng bào nạn nhân thiên tai bão lụt ở Đồng Tháp Mười, ở Tây Ninh, ở Thủ Dầu Một và vài chuyến ở miền Trung).

Bà là người nghệ sĩ được tất cả nghệ sĩ nhiều thế hệ trong và ngoài nước, và cả đồng bào và các nhà nghiêu cứu văn hóa nghệ thuật cũng như các quan chức chánh quyền của nhiều trào từ năm 1930 đến nay thương yêu và kính trọng.

Nhân ngày giỗ lần thứ 5 của cố nghệ sĩ Phùng Há, ngoài những công đức của bà đối với việc xây dựng nghệ thuật sân khấu, việc giúp đỡ các nghệ sĩ và đồng bào nghèo yếu, neo đơn, nạn nhân của thiên tai bão lụt, tôi nghĩ cần phải nhắc đến tinh thần dân tộc của bà rất cao, thể hiện trong việc học và truyền nghề hát và ngay trong việc ứng xử của bà với các nghệ sĩ tài danh nhất của Trung Quốc là hai nghệ sĩ Mã Sư Tăng và Hồng Tuyến Nữ.

Tôi nhớ năm 2000, khi tôi về thăm quê hương sau hơn mười năm định cư ở Canada, tôi đến thăm bà và hỏi bà về nhiều vấn đề liên quan đến nghệ thuật sân khấu. Tôi hỏi khi bà lập đoàn hát Phi Phụng và đoàn hát Phụng Hảo trong những năm 1934-1936, bà học hát và hát tuồng Tàu như thế nào.

Bà cho biết lúc đó bà rước thầy là nghệ sĩ tài danh Quảng Đông tên là Bạch Cẩm Đường từ Hồng Kông qua Saigon dạy nghề hát tuồng Tàu. “Hồi đó các nghệ sĩ hát tuồng Tàu của mình lấy những điệu bộ kỹ thuật Hát Bội, giản lược đi để diễn tuồng Tàu, tuồng Sử Việt Nam. Sau đó học thêm một số trình thức của các nghệ sĩ Hát Quảng khi họ qua biểu diễn ở Chợ Lớn.

Thầy Bạch Cẩm Đường dạy kỹ thuật cơ bản về lưng, bắp chân, luyện tập té trên sàn diễn, nhào lộn, đó là những kỹ thuật bảo đảm cho nghệ sĩ khỏi tai nạn khi diễn và tăng thể lực. Vì tôi là đàn bà nên việc học tập trung vào cách té, cách múa nhẹ nhàng, cách xoay mình, cách lượn tròn, cách phóng mình lên phía trước. Rôi học kỹ thuật dùng khăn, vẫy khăn, dùng khăn che ngang mày, kỹ thuật vẫy quạt, kỹ thuật sử dụng binh khí, múa kích, múa gươm…kỹ thuật biểu diễn mão có gắn lông chim trĩ, học ca các bài như Xang Xừ Líu, Tấn Phong, Dì Phảnh, Phảnh Phá khi hát tuồng Tàu.

Đến khi ông Bạch Cẩm Đường trở về Hồng Kông, thì tôi theo như sở thích xem hát của người Việt mà lược bỏ những gì mang tính chất Tàu. Ví dụ khi ca Xang Xừ Líu… Ông Bạch Cẩm Đường cho điểm tiếng mõ trong câu ngân và dạy phải ngân À…Á…A… Tôi bỏ tiếng điểm mõ và ngâm câu ngân dài thành tiếng Ờ…Ớ…Ơ… Nghe nó ra Việt Nam, hết giống Tàu. Dàn nhạc hát Quảng, tôi cũng bỏ dàn đồng lố, trống, mõ, hầu cũn nên khi hát Lữ Bố trong Phụng Nghi Đình, lúc múa kích chỉ có tiếng gõ mõ nhỏ hoặc trống chiến theo động tác múa. Sân khấu hát tuồng Tàu bớt ồn ào hơn khi còn dàn bát cấu và đó là cách hát tuồng Tàu theo kiểu sân khấu Việt Nam.

Về sau tôi bỏ hết những bài ca theo giọng Tàu như Xách Xủi, Bạc Cấm Lùn, Mành Bản, Dì Phảnh, Phảnh Phá mà chỉ dùng cổ nhạc Việt Nam và lược bỏ những điệu múa, các động tác như lối hát Quảng khi tôi dạy cho các nghệ sĩ diễn cải lương tuồng cổ”.

Và đây thêm một chuyện đáng ghi nhớ về cố nghệ sĩ Phùng Há.
Năm 1956, Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế đón tiếp phái đoàn nghệ sĩ Ấn Độ và hai nghệ sĩ tài danh của sân khấu Trung Quốc: Mã Sư Tăng và Hồng Tuyến Nữ qua thăm Việt Nam trao đổi nghệ thuật.

Nghệ sĩ Năm Châu, Phùng Há, ban chấp hành Hội NSAHTT, một số soạn giả được mời xem hai tài danh Mã Sư Tăng và Hồng Tuyến Nữ diễn hí khúc Đậu Nga Oan và nhiều trích đoạn khác ở rạp Đại Quang, Chợ Lớn.
Đèn trong khán phòng vừa tắt, tiếng trống, chập chõa, đồng lố, não bạt đánh một chặp chói tai đinh óc. Màn từ từ kéo lên, tiếng đàn tam thập lục, đàn gáo tấu lên một khúc nhạc êm êm, tiếng sáo hòa theo vi vu như gió lay mành lá. Mã Sư Tăng trong y phục nho sinh nghèo, vai mang lều chõng đi thi, thất thểu bước ra. Một tràng pháo tay chào nghệ sĩ tài danh rồi khán phòng được trả lại sự im lặng. Mã Sư Tăng cất tiếng hát, buồn thảm mênh mang như tiếng kêu của một con mểnh hoang lạc trong rừng thẳm. Ông hát, đại ý: “Ta, họ Đậu, tên Thiên Chương, làu thông kinh sử, nhưng thời vận chưa thông, công danh chẳng đạt, vợ lại qua đời nên dẫn con gái lưu lạc đến xứ Lạc Dương này! Muốn vào kinh ứng thí, ta cần tiền lộ phí, đành phải cho con gái vào làm dâu cho lão Thái… Nói là làm dâu, chớ thực ra là bán con đó con ơi! Nghèo nên cha phải bán con. Cha vào kinh ứng thí nếu không đậu bảng vàng thì cha con mình vĩnh viễn khó gặp nhau, đó con…”

Tiếng hát của Mã Sư Tăng nghe như có tiếng nước mắt rào rạt trong lòng. Đâu đó nghe tiếng khóc sụt sùi của khán giả. Một tràng pháo tay nổi lên khen Mã tiên sinh.

Tài danh họ Mã liếc mắt nhìn xuống hàng ghế danh dự dành cho khách là nghệ sĩ Việt Nam. Tôi dõi theo ánh mắt của Mã Sư Tăng… Mọi người vỗ tay nhiệt liệt… Các anh Năm Châu, Tư Trang, Trần Tấn Quốc, Thu An, tôi và các bạn nghệ sĩ khác đều nhiệt tình vỗ tay, trừ cô Bảy Phùng Há! Vâng, trừ cô Bảy Phùng Há đang nhìn Mã Sư Tăng trân trân, ánh mắt lo âu, băn khoăn, bàng hoàng… Cô Bảy nghĩ gì mà quên vỗ tay vậy? Tôi chợt phát hiện ra… và Mã Sư Tăng, ông cũng phát hiện ra… Ông thủ vai một thư sinh nghèo, không tiền đi ứng thí đến độ phải bán con, vậy mà trên tay ông vẫn còn đeo một vòng ngọc thạch quý giá. Vòng ngọc thạch có màu xanh thẳm có vân mây tuyệt đẹp, đáng giá bảo ngọc trân châu. Trong phút giây này, chiếc vòng ngọc thạch bỗng biến thành chiếc còng vô duyên, xích tay chàng nghệ sĩ hào hoa họ Mã.

Thật không hổ danh bậc thầy trong nghề hát, Mã Sư Tăng bình tĩnh, đưa tay cao, nhìn sững chiếc vòng ngọc thạch và hát cương một đoạn thật tài tình: “Hỡi ngọc thạch, bảo vật gia truyền của mấy đời họ Đậu… đến đời ta, hoạn lộ mãi long đong, mỗi lần nhìn mi, ta lại đau lòng, nhớ kỳ vọng của huyên đường khuất núi. Ôi! Ta đã phụ Người! Ta đã phụ ta! Phải hủy đi vòng ngọc với lời thề son sắt, quyết đạt thành ý nguyện của cha mẹ ta nơi chốn suối vàng!” Hát xong, ông đập mạnh tay nơi góc bàn, chiếc vòng ngọc thạch vỡ tan.

Cô Phùng Há bật dậy như bị điện giật, vỗ tay rất mạnh. Cả khán phòng cũng nhiệt liệt vỗ tay theo… Tôi nghĩ là khán giả người Hoa và các nghệ sĩ đại biểu Việt Nam đều thông cảm chỗ sơ xuất của nghệ sĩ Mã Sư Tăng và khâm phục cách ông ta chữa lỗi. Trong khi đó thì Mã Sư Tăng coi như không có gì xảy ra, vẫn tiếp tục ca: “Mang mang đại mộng trung, Duy ngã độc tiên giác!” (Mộng lớn mênh mang, mình ta biết trước!). Phải chăng câu hát nhắn nhủ riêng với cô Phùng Há: “Ta biết lỗi! Ta đã đập vòng ngọc để tạ bạn tri âm!”

Chiếc vòng ngọc, trị giá cả triệu bạc lúc đó, là cả một gia tài đồ sộ đối với nghệ sĩ Việt Nam, vì để bảo vệ danh dự cá nhân hay vì tôn trọng nghệ thuật mà ông Mã đang tay hủy hoại bảo vật của mình? Dù sao thì trong trang sử nghệ thuật sân khấu, hành động của nghệ sĩ tài danh Mã Sư Tăng cũng là một viên ngọc sáng ngời, chói chan phẩm cách của một tài năng lớn.

Chúng tôi thường nhắc giai thoại này để tỏ lòng tôn kính hai bậc danh sư: Mã Sư Tăng khi biết lỗi của mình trong diễn xuất thì sửa chữa liền để tạ lỗi với khán giả, và Phùng Há có thái độ chân chính của người thưởng thức nghệ thuật, khi xem diễn, thái độ cảm thụ và phán đoán công minh, không thiên lệch theo số đông khán giả và vì sự nể phục riêng… Và chính nghệ sĩ Việt Nam Phùng Há đã làm cho bậc tôn sư kịch nghệ Trung Quốc Mã Sư Tăng nể phục ngành nghệ thuật sân khấu Việt Nam.

Nhắc lại những kỷ niệm về nghệ sĩ Phùng Há và giai thoại về chiếc vòng ngọc thạch và bậc tài danh Mã Sư Tăng với tất cả tấm lòng yêu kính và hãnh diện vì nghệ sĩ cải lương chúng tôi có một danh sư, đáng được suy tôn là Hậu Tổ Cải Lương, đó là nghệ sĩ tài danh Phùng Há, người đã rời bỏ cuộc đời 5 năm rồi để về nơi vĩnh hằng.
Thương nhớ mãi không nguôi!

Nguyễn Phương, 2014
TB

http://vietsn.com/forum/showthread.php?t=777014

Nghệ sĩ tề tựu tưởng nhớ NSND Phùng Há
Click image for larger version Name: 46.jpg Views: 0 Size: 84.5 KB ID: 623235  
(NLĐO) - Trưa 10-6, đông nghệ sĩ sân khấu và khán giả đến Nghĩa trang Chùa Nghệ sĩ TP HCM tham dự giỗ thứ 5 của NSND Phùng Há.
Hoài Linh viếng mộ cố NSND Phùng Há



NSƯT Nam Hùng – con trai nuôi của cố NSND Phùng Há cho biết: “Đông đảo nghệ sĩ, khán giả đến tham dự và thắp hương trên bàn thờ mẹ tôi. Trước ngày cúng giỗ, tôi tìm lại hình ảnh và băng tư liệu của bà để xem, nhận thấy những vai diễn của bà mãi mãi giá trị, chúng là thành quả minh chứng cho sự rèn luyện không ngừng của một nghệ sĩ”.


NSƯT Thanh Thanh Tâm và con trai viếng mộ NSND Phùng Há

Nhân dịp này MC Thanh Bạch, nghệ sĩ Kiều Tiên, Phú Quý, Chí Hải, NSƯT Thoại Miêu, Bích Hạnh, Lệ Thu, Minh Minh Tâm… đã tổ chức chương trình văn nghệ, biểu diễn những trích đoạn cải lương ca ngợi truyền thống yêu nước, tinh thần bảo vệ chủ quyền của dân tộc.

Thanh Bạch xúc động cho biết: “Năm nào tôi cũng dành thời gian cho ngày cúng giỗ của bà. Với tôi, bà là nghệ sĩ đã cống hiến cả đời cho sân khấu và là tấm gương sáng không chỉ với ngành cải lương”.


NSƯT Thanh Sang đến thăm NSND Phùng Há nhân dịp ông thực hiện bộ phim chân dung sự nghiệp của của ông do Hãng Phim Trẻ thực hiện năm 2009 (đạo diễn Trần Cảnh Đôn)

Soạn giả Kiên Giang và NSND Đinh Bằng Phi đã đến dự lễ cúng giỗ NSND Phùng Há. Soạn giả Kiên Giang viết trên tấm liễn mạ vàng bài thơ: “Đường nghệ thuật đi hoài không tới/ Dốc vinh quang luôn khắc chữ Tâm” để đặt tại bàn thờ của người chị tinh thần mà ông tôn kính từ thời Hội Ái hữu nghệ sĩ mới thành lập.

Ông nhắc lại ký ức mà giọng vẫn còn nghẹn ngào: “Khi còn là đào chánh cho đến lúc về chiều nương thân cửa chùa, NSND Phùng Há (tên thật là Trương Phụng Hảo) đã luôn đặt chữ Tâm lên hàng đầu trong bất cứ những công việc liên quan đến nghề hát và những hoạt động xã hội do bà khởi xướng".


NSND Bảy Nam, NSND Kim Cương, NSƯT Thành Lộc và NSND Phùng Há năm 2002 tại phim trường HTV - chương trình "Những cánh chim không mỏi".


Nghệ sĩ Thanh Tùng và Thành Được tổ chức suất diễn vinh danh cố NSND Phùng Há tại Mỹ năm 2013.

NSND Đinh Bằng Phi nhấn mạnh: “Cô Bảy Phùng Há đã là cô đào sáng giá của sân khấu cải lương. Cô luôn xông xáo trong các hoạt động đòi quyền lợi cho giới nghệ sĩ. Từng nếm trải tuổi thơ khó nhọc nên cô thấm thía sự cơ cực của cái nghèo, thương và đồng cảm cho số phận người nhiều nghệ sĩ.

Với sự động viên của hai người bạn chí cốt là Tư Trang và Năm Châu, cô suy nghĩ đến việc tìm một chốn nào đó để người nghệ sĩ có nơi yên nghỉ khi nằm xuống. Dựa vào mối quan hệ rộng và tài ngoại giao, cô Bảy đã vận động trường đua ngựa Phú Thọ cho Hội Nghệ sĩ Ái hữu tương tế một ngày thu nhập. Thời đó số tiền được nhận là 139.000 đồng, cô mua đất làm nghĩa trang cho nghệ sĩ. Ngày đó anh Năm Châu và cô Bảy đã xúc động khi nhận mảnh đất với diện tích 6.080 m2 ở xã Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), nay là nghĩa trang và chùa nghệ sĩ”.


NSND Bạch Tuyết và NSND Phùng Há năm 2002 tại phim trường HTV - chương trình Những cánh chim không mỏi

NSND soạn giả Viễn Châu nói rằng NSND Phùng Há là một nhà sư phạm khi tham gia giảng dạy các thế hệ nghệ sĩ vàng của sân khấu cải lương miền Nam. Trên sàn diễn, bà và NSND Năm Châu là một cặp đào kép ăn ý và đẹp đôi nhất lúc bấy giờ với nhiều vở diễn để đời. Nhưng dường như giữa họ chỉ có duyên đào kép mà không có duyên vợ chồng.


Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Bí thư Thành ủy TPHCM đến thăm cố NSND Phùng Há nhân dịp Hội Sân khấu TPHCM tổ chức mừng thọ bà năm 2009.



Cố NSND Phùng Há thắp hương trong ngày Giỗ Tổ truyền thống sân khấu Việt Nam năm 2010.

NLD

http://vietsn.com/forum/showthread.php?t=776617