Posts tonen met het label Điệp viên. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Điệp viên. Alle posts tonen

maandag 15 juli 2013

Điệp viên ngoại cảm - chương trình bất khả của CIA

Monday, July 15, 2013

Điệp viên ngoại cảm - chương trình bất khả của CIA

QLB   - Cục Tình báo trung ương (CIA) và Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA) của Mỹ từng sử dụng một số nhà ngoại cảm trong chương trình gián điệp thử nghiệm để thử khả năng làm "gián điệp từ xa".

Khả năng thấu thị được áp dụng thử nghiệm trong ngành tình báo Mỹ. Ảnh:Redicecreations

Từ dự án ban đầu do CIA chủ trì, sử dụng tất cả 3 loại công năng ngoại cảm gồm thần giao cách cảm, cách không khiển vật và thấu thị, nhưng về sau, chỉ còn công năng thấu thị (remote viewing) được chọn thử nghiệm, vì phù hợp với yêu cầu số 1 của ngành tình báo: nhìn thấu những bí mật của đối thủ từ khoảng cách xa ngàn dặm. Khởi đầu từ thập niên 70, rốt cuộc, chương trình không đi đến đâu và đã buộc phải chấm dứt từ năm 1995, nhưng sau đó thỉnh thoảng nó vẫn được sử dụng lại.Dự án triệu đô "Star Gate"

"Star Gate" là mật danh đặt cho một chương trình nghiên cứu gián điệp ngoại cảm bao gồm nhiều tiểu dự án khác nhau, trong đó có những dự án do CIA, DIA và cả Bộ chỉ huy Tình báo và An ninh quân đội thực hiện trong suốt khoảng thời gian dài hàng chục năm. Tất cả đều cùng chung mục đích là "nhìn từ xa" những thông tin, hình ảnh mà các biện pháp gián điệp thông thường chịu bó tay.

Các cựu điệp viên, những người từng tham gia chương trình "Star Gate" đều đã viết nhiều cuốn sách về chương trình này nhằm giúp mọi người có cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về cái gọi là chương trình gián điệp ngoại cảm - một thuật từ nghe sặc mùi tâm linh, huyền bí. Trong đó, một báo cáo của cựu điệp viên CIA Kenneth A. Kress cung cấp cái nhìn đầy đủ nhất của người trong cuộc về chương trình nghiên cứu gián điệp đặc biệt này. Kress từng làm việc trong Văn phòng Phục vụ kỹ thuật (OTS) và được giao điều phối hoạt động hàng ngày của chương trình "Star Gate".

Theo báo cáo của Kress, dự án đầu tiên của chương trình "Star Gate" được khởi động vào khoảng năm 1974, do một nhóm sĩ quan CIA xây dựng nên tại Tổng hành dinh CIA ở Langley, bang Virginia, nhưng vấn đề gián điệp ngoại cảm thì có lẽ ra đời từ hàng chục năm trước, còn việc CIA quan tâm nghiên cứu tình báo ngoại cảm có thể bắt đầu vào đầu thập niên 60, với một dự án mang mật danh MKULTRA. Kress cho biết, Học viện Nghiên cứu Stanford (SRI), đóng tại California, là nơi khởi phát chương trình "Star Gate" cho CIA, trong đó 2 nhà vật lý học nổi tiếng nhất của SRI là Russell Targ và Harold Puthoff đóng vai trò chính.

Mục tiêu đầu tiên của dự án "Star Gate" là một trung tâm nghiên cứu khoa học bí mật của Liên Xô đặt tại nước Cộng hòa Kazakhstan, mà CIA gọi bằng mật danh là URDF-3 (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển không xác định số 3).

Người tham gia tích cực và quan trọng nhất trong dự án ban đầu này là nhà ngoại cảm Pat Price. Price được cung cấp thông tin về tọa độ địa lý của mục tiêu. Sau khi "nhập tâm", Price bắt đầu mở công năng tìm kiếm và sau đó mô tả lại đã nhìn thấy một "hệ thống cẩu khổng lồ". Về sau, một sĩ quan CIA khi phân tích hình ảnh thám báo về trung tâm URDF-3 đã phải kêu lên thán phục vì sự mô tả của Price chính xác đến từng chi tiết nhỏ.

Và thành công ban đầu đó của Price đã mở ra thời kỳ của các "điệp viên ngoại cảm". Văn phòng OTS của CIA chấp nhận chi tiền mạnh tay, tổng cộng 750 nghìn USD cho dự án "Star Gate", với Price là át chủ bài. Tuy nhiên, không lâu sau thành công ban đầu đó của Price, dự án "Star Gate" dường như dẫm chân tại chỗ, với kết quả thu được rất ít ỏi.

Thêm vào đó, CIA lại đang hứng chịu dư luận chỉ trích mạnh mẽ do vai trò trong vụ bê bối nghe lén Watergate làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của Tổng thống Richard Nixon, từ đó làm cho ban lãnh đạo CIA không còn tâm trạng nào để đầu tư cho "tình báo ngoại cảm". Mặc dù vậy, với vai trò xúc tiến mạnh mẽ của Kress, "Star Gate" vẫn tiếp tục.

Thành công nổi tiếng nhất của Price là vào mùa hè năm 1973, Price được yêu cầu sử dụng công năng ngoại cảm "thấu thị" của mình để kiểm tra các vị trí tọa độ ở bang Virginia. Mục tiêu là một khu nhà nghỉ mát dành cho nhân viên CIA. Thế nhưng, Price không mô tả khu nhà nghỉ mát mà đưa ra một hệ thống nhà kho lưu trữ khổng lồ dưới lòng đất, giống như một kho tên lửa, có cả nhân sự và hệ thống thông tin tín hiệu, một tủ đựng hồ sơ chứa nhiều tập hồ sơ, có cả nhiều viên bi. Sau đó, Kress xác nhận: những mô tả của Price là hoàn toàn chính xác.

Tuy nhiên, vào tháng 7-1975, trong khi đang thực hiện một nhiệm vụ "thấu thị" để khảo sát một cơ sở ở Libya mà người Mỹ nghi là dùng để huấn luyện khủng bố, Price bất ngờ lên cơn đau tim và chết đột ngột. Cái chết bất ngờ này khiến cho CIA mất đi quân át chủ bài. Đồng thời, những tranh cãi trong Quốc hội xung quanh dự án tình báo ngoại cảm đã buộc CIA không còn cách nào khác hơn là phải dừng chương trình.
Tình báo ngoại cảm thành công đến mức nào?

Điệp viên ngoại cảm Pat Price (bên trái) và nhà vật lý Hal Puthoff của Học viện Nghiên cứu Stanford (SRI) làm việc cho giai đoạn sau của dự án Star Gate. Ảnh: Ebdir


Tình báo ngoại cảm thực ra không phải là mới, nó đã từng được sử dụng trong các cuộc chiến tranh trên thế giới từ năm 1919, khi đó một binh sĩ Tiệp Khắc đã bị thôi miên và yêu cầu sử dụng năng lực ngoại cảm để thu thập thông tin về quân đội Hungary. Trong Thế chiến II, phát xít Đức cũng từng lập một bộ phận chuyên trách về gián điệp ngoại cảm, có tên gọi là Cục Ngoại cảm, nhằm mục đích kiểm soát tinh thần đối phương từ xa.

Trước khi cho thành lập Cục Ngoại cảm, Hitler và các bộ tướng đã được một tổ chức bí mật có tên là Thule đào tạo các kỹ năng ngoại cảm kiểm soát ý thức người khác. Ở phía quân Đồng minh, tình báo Anh, Mỹ cũng không chịu lép vế, sử dụng tình báo ngoại cảm để "truyền dẫn" những thông điệp huấn dụ đối với lính phát xít Đức.

Chưa dừng lại đó, tình báo Đồng minh còn sử dụng công năng thấu thị để thu thập thông tin về các vị trí quan trọng bên trong phòng tuyến của đối phương. Sau Thế chiến II, Học viện Tâm lý của Liên Xô đã bắt đầu nghiên cứu khả năng ứng dụng công năng ngoại cảm, chẳng hạn như thôi miên từ xa.

Việc sử dụng công năng ngoại cảm thấu thị cho mục đích gián điệp nếu quả thực mang lại kết quả hoàn toàn như ý muốn thì chắc có lẽ CIA đã có trong tay một công cụ tình báo vô cùng lợi hại, không cần phải sử dụng đến nhiều phương tiện kỹ thuật tiên tiến, kể cả việc cài cắm người làm nội gián hay bỏ tiền ra mua chuộc những điệp viên hai mang.

Thành công cũng có, nhưng thường thì độ chính xác không nhiều. Vả lại, cái chết của "điệp viên ngoại cảm" Price đã để lại nhiều nghi vấn về khả năng ông ta chính là một điệp viên hai mang được đối phương cài vào để quấy nhiễu hoạt động của CIA, do đó những thành công ban đầu của ông ta cũng bị soi kỹ. CIA nghi ngờ ông là người của KGB (tình báo Xôviết), bị thủ tiêu vì công năng ngoại cảm của ông quá mạnh, nhưng cũng có người nghi ngờ theo hướng khác.

Sau khi CIA chính thức dẹp bỏ chương trình, Bộ Quốc phòng Mỹ đã nhảy vào tiếp quản và thậm chí còn đầu tư mạnh tay hơn cho chương trình, giao cho DIA trực tiếp phụ trách. Đến giai đoạn này thì một loạt nhà ngoại cảm từng làm việc cho dự án tại CIA, như Ingo Swann, Joseph McMoneagle, Paul H. Smith và Ed Dames đã quay lại làm việc cho DIA.

Với sự hăm hở của Lầu Năm Góc, "Star Gate" như có một sức sống mới. Các nhà ngoại cảm kỳ cựu từng bị lép vế trước Price ở CIA nay có cơ hội thi thố hết tài năng "siêu phàm" của mình để phục vụ cho ước mơ "nhìn thấy từ xa tất cả mọi điều bí mật của đối phương". Lầu Năm Góc đã sử dụng các "điệp viên ngoại cảm" của mình cho nhiều mục tiêu khác nhau, như tìm kiếm con tin Mỹ ở nước ngoài, truy tìm tàu ngầm Nga, và thậm chí cả việc tìm kiếm xác một chiếc máy bay bị bắn rơi.

Tổng cộng, trong thời gian 20 năm (1975-1995), Bộ Quốc phòng Mỹ đã chi cho "Star Gate" một khoản tiền lên đến 20 triệu USD. Năm 1995, sau 20 năm chẳng mang lại hiệu quả thiết thực nào, "Star Gate" đã chính thức chấm dứt vĩnh viễn. Các "điệp viên ngoại cảm" bỏ đi tứ tán, có người ra ngoài mở công ty chuyên làm dịch vụ ngoại cảm để kiếm sống, người thì gia nhập vào các tổ chức nghiên cứu khoa học để đi tìm câu trả lời cho những hiện tượng huyền bí của công năng ngoại cảm.

Thế rồi chỉ 5 năm sau khi "Star Gate" chấm dứt, công năng ngoại cảm lại được dùng đến trong một chuyên án gián điệp tại Đông Nam Á. Đó là vụ việc điệp viên thuộc Tổ chức Tình báo quốc phòng Australia (ADIO) Jean-Pilippe Wispelaere dự định bán 1.382 trang tài liệu mật lấy cắp của quân đội Mỹ cho Đại sứ quán Singapore tại Bangkok, Thái Lan. Một nhà ngoại cảm nữ tên là Angela Ford đã giúp Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) xác định được danh tính, hình dạng và đặc điểm, tính cách của Wispelaere và dụ y sang Mỹ để bắt giữ.

Tuy nhiên, sau thành công đó, hầu hết các trường hợp khác sử dụng tình báo ngoại cảm đều thất bại, như vụ binh nhì Bowe Bergdahl của quân đội Mỹ mất tích tại khu vực miền Đông Afghanistan vào mùa hè năm 2009. John Alexander, người từng tham gia điều phối chương trình "Star Gate" của Bộ Quốc phòng Mỹ, đã triệu tập hầu như tất cả các "điệp viên ngoại cảm" trước đây đến giúp. Sau nhiều ngày "thấu thị" thu thập thông tin, các nhà ngoại cảm đã cho ra một đáp số… sai bét.

Theo ANTG
 

Các điệp viên tận dụng sex như thế nào?

Monday, July 15, 2013

Các điệp viên tận dụng sex như thế nào?

QLB  - Cựu tướng Nga KGB Oleg Kalugin (hiện định cư ở Mỹ) từng nhận được câu hỏi rằng, tại sao nhiều điệp viên Nga sử dụng sex trong công việc. Ông này trả lời: “Ở Mỹ, ở phương Tây, người ta thỉnh thoảng kêu gọi đàn ông đứng lên bảo vệ đất nước. Ở Nga hơi khác một chút, chúng tôi kêu gọi các cô gái trẻ nằm xuống”.

Trong buổi họp báo mới đây tại Bảo tàng Tình báo Quốc tế ở thủ đô Washington của Mỹ, nhà sử học chuyên nghiên cứu tình báo Keith Melton kể lại một số bí mật tình báo lớn nhất của những điệp viên biết tận dụng sex.

Một trong những vụ việc đình đám nhất trong biên niên sử của giới tình báo diễn ra từ năm 1963, thời kỳ của Chiến tranh Lạnh. Khi đó, nước Anh nhận ra rằng, kết hợp sex với tình báo có thể khiến những kế hoạch được chuẩn bị hoàn hảo nhất đi trật đường ray.Cơ quan tình báo Anh MI5 cử cô gái tên là Christine Keeler biểu diễn khỏa thân trước mặt tùy viên hải quân Nga Yevgeni Ivanov. Tuy nhiên, ông John Profumo, Bộ trưởng Chiến tranh của Anh, cũng có mặt trong bữa tiệc vào mùa hè năm đó và nhìn thấy Keeler bơi lõa thể trong bể, rồi cũng bị người đẹp hớp hồn.

Anna Chapman (năm nay 31 tuổi) từng là điệp viên hoạt động nằm vùng tại Mỹ, bị bắt quả tang do đồng đội phản bội và bị phía Mỹ trục xuất năm 2010 trong một vụ trao đổi điệp viên giữa Mỹ và Nga. Sau khi bị Mỹ trục xuất, Chapman hoạt động nổi bật trong vai trò người mẫu, biên tập viên tạp chí, giảng dạy tại các trường đại học, quản lý một quỹ từ thiện cho trẻ em khiếm thị…

Sau khi ông Profumo kiên quyết phủ nhận quan hệ của mình với Keeler trước Nghị viện, người đẹp quyết định bán những bức thư tình cho báo Express. Ông Profumo từ chức, và chính phủ của ông Harold Macmillan sụp đổ.

Chính phủ Mỹ cũng từng gặp nhiều trường hợp tương tự. Cựu điệp viên của CHDC Đức Ellen Rometsch, vốn là gái gọi ở Câu lạc bộ Quorum (điểm đến ưa thích của nhiều chính trị gia Washington), trở thành người tình của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy.

Dù vị tổng thống này dính nhiều bê bối tình ái, nhưng quan hệ giữa ông với Rometsch khiến anh trai của ông là Robert Kennedy lo lắng hơn cả. Robert Kennedy phải làm công việc không thể tránh khỏi là đưa Rometsch về châu Âu, bảo đảm rằng người phụ nữ này không bao giờ hé răng, và chặn Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) Edgar Hoover điều tra vụ việc.

Nam mỹ nhân cũng nguy hiểm

Markus Wolf, cựu giám đốc cơ quan tình báo CHDC Đức, từng sử dụng cả điệp viên nam, thường được gọi là các Romeo, để thâm nhập trụ sở của NATO bằng cách quyến rũ các thư ký nữ. Ông Wolf từng tiết lộ tiêu chí chọn nam mỹ nhân là người đó phải quyến rũ, biết cách trở thành tâm điểm chú ý và biết cách lắng nghe.

Nếu một Romeo muốn quyến rũ người phụ nữ nào đó, “anh ta không cần tiếp cận họ, mà hãy làm cho họ đến với mình. Anh ta phải trở thành trung tâm của bữa tiệc, mua đồ uống, kể chuyện tiếu lâm. Cô ấy sẽ tự tìm đến. Điều đó có vẻ xảy ra rất tự nhiên”, ông Wolf kể với nhà sử học Melton.

Bước tiếp theo trong chiến lược mà tình báo CHDC Đức sử dụng là đưa mối quan hệ đi xa hơn. Điệp viên sẽ cầu hôn đối tượng, rồi sau đó thú nhận với vợ rằng anh ta là gián điệp, nhưng cho một nước bạn bè (Canada chẳng hạn).

Bước cuối cùng là điệp viên nói với vợ rằng, anh ta sẽ bị gọi về nước và mối quan hệ của họ sẽ phải chấm dứt, nếu anh ta không thể cung cấp thông tin gì đó đáng giá để làm vừa lòng sếp của anh ta ở quê nhà. Chiến thuật này từng rất thành công.

Năm 1978, tình báo CHDC Đức ghi nhận ít nhất 53 phụ nữ rơi vào bẫy tình của các Romeo. Năm 1980, NATO bắt đầu giám sát tất cả thư ký nữ để bảo đảm rằng, họ không kết hôn với điệp viên CHDC Đức.

Chiến thuật kết hợp tình dục với tình báo đến giờ vẫn chưa mất tác dụng. Ba năm trước, FBI bắt được 10 điệp viên Nga ở thành phố New York, trong đó người nổi tiếng nhất là Anna Chapman. Cô gái này tận dụng quan hệ hôn nhân với một người Anh để được cấp hộ chiếu ở Anh, rồi sau đó vào Mỹ.

Theo sử gia Melton, chồng của cô, anh Alex Chapman, sau đó được hỏi rằng liệu anh ta có phát hiện điều gì bất thường ở vợ mình hay không. “Cứ lần nào tôi gọi vào di động của cô ấy thì cô ấy đều gọi lại bằng điện thoại công cộng. Nhưng lúc đó, tôi không thấy bất thường”, anh này kể lại.

Kỷ nguyên kỹ thuật số giúp chiến thuật dùng nhan sắc để thu thập thông tin tình báo càng lợi hại hơn. Ông Melton kể lại trường hợp một cô gái tiếp cận nhà thầu quân sự trong quán bar, uống với anh ta, rồi họ qua đêm ở khách sạn.

Trong khi anh chàng nhà thầu nằm ngủ ngon lành sau cuộc ân ái, cô gái có đủ thời gian để cài đặt các chương trình theo dõi vào máy tính và điện thoại của “con mồi”.

Theo Tiền phong
 

maandag 17 oktober 2011

Điệp viên giấu thông điệp trong vi khuẩn

28/9/2011

Thay vì dùng nước chanh, trong tương lai các nhân viên tình báo có thể mã hóa những thông điệp bí mật bằng vi khuẩn để gửi tới đồng đội hoặc cấp trên.


Một thông điệp được mã hóa bằng màu sắc ánh sáng từ vi khuẩn
Một thông điệp được mã hóa bằng màu sắc ánh sáng từ vi khuẩn. Ảnh: Newscientist.

Mực không màu, nước chanh là những loại dung dịch mà giới điệp viên sử dụng để ghi thông điệp trong suốt vài thập kỷ qua. Đương nhiên, giới tình báo cũng nghĩ ra hàng loạt cách để giải mã những thông điệp được viết bằng các loại "mực" đặc biệt ấy. Tìm ra cách mới để giấu thông điệp là nhu cầu thường xuyên trong thế giới tình báo.

David Walt, một nhà hóa học của Đại học Tuft tại Mỹ, cùng các đồng nghiệp nghĩ tới việc dùng vi khuẩn để cất giấu thông tin mật. Các nhà khoa học gây biến đổi gene đối với vi khuẩn Escherichia coli để chúng sản sinh các protein có khả năng phát sáng huỳnh quang. Nhờ các protein này mà vi khuẩn phát ra ánh sáng có 7 màu, Newscientist cho biết.

Mỗi ký tự của thông điệp được mã hóa bằng hai màu. Do vi khuẩn phát ra ánh sáng có 7 màu nên tổng số ký tự có thể mã hóa là 49 – đủ dùng cho bản chữ cái, các số tự nhiên từ 0 tới 9 và vài biểu tượng khác.

“Bạn có thể mã hóa mọi ứng dụng tình báo bí mật với 7 màu của vi khuẩn”, Walt tuyên bố.

Vi khuẩn được nuôi trên một đĩa thạch trắng trước khi người ta chuyển chúng sang một tấm phim mỏng. Tấm phim mỏng có thể được gửi cho người nhận qua bưu điện. Trong mọi điều kiện ánh sáng người ta không thấy gì trên tấm phim. Song thông điệp sẽ hiện ra khi người nhận đưa phim vào môi trường phù hợp để vi khuẩn trên phim phát sáng.

Ngoài việc làm cho vi khuẩn phát sáng, kỹ thuật biến đổi gene của Walt còn khiến vi khuẩn chỉ có thể phát sáng trong một số môi trường nhất định. Chẳng hạn, nếu một chủng vi khuẩn được biến đổi gene để chống lại một loại thuốc kháng sinh nào đó, chúng sẽ chỉ phát sáng khi phơi nhiễm kháng sinh ấy. Khi đó thuốc kháng sinh được coi là chìa khóa để giải mã thông điệp, Walt nói rằng ông có thể tạo ra hàng nghìn chìa khóa như vậy bằng cách kết hợp một số đặc tính di truyền của vi khuẩn.

Các nhà khoa học cũng có thể làm mất khả năng phát sáng của vi khuẩn sau một khoảng thời gian nhất định, nhờ đó họ sẽ tạo ra những thông điệp có khả năng tự hủy.

Việt Linh