Posts tonen met het label quan hệ. Alle posts tonen
Posts tonen met het label quan hệ. Alle posts tonen

woensdag 22 januari 2014

Trung Quốc còn làm người Pháp mơ tưởng không ?

Trung Quốc còn làm người Pháp mơ tưởng không ?
Ngày 24/01/1964, tướng de Gaulle chính thức công nhận chế độ Mao Trạch Đông. Đánh giá 50 năm quan hệ « đặc biệt », đôi khi sóng gió, giữa hai nước Pháp-Trung, tờ Le Nouvel Observateur phỏng vấn François Godement, Giám đốc nghiên cứu tại Ủy ban châu Âu về quan hệ quốc tế, trong bài : « Trung Quốc còn làm người Pháp mơ tưởng không ? »
Theo François Godement, Pháp vẫn giữ một vai trò quan trọng đối với Trung Quốc. Khi đề cập tới Liên hiệp châu Âu, Bắc Kinh không bao giờ quy thành một khối, mà chú ý tới sự đa dạng của các nước thành viên. Ngay từ năm 1964, sau khi đã cắt đứt quan hệ với Liên Xô, chính quyền của chủ tịch Mao cần những nguồn cung cấp về trang thiết bị lớn. Chủ tịch Mao đã nói thẳng : « Người Pháp có thể trang bị cho chúng ta với giá không đắt ». Thời kì này, nước Đức còn chưa có mặt thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Trong khi đó, nước Anh lại là đồng minh thân cận của Hoa Kỳ. Vì thế, nước Pháp trở thành giải pháp thay thế. Thế nhưng, trong thời gian đầu quan hệ, hai nước chưa thúc đẩy hợp tác kinh tế. Từ khoảng 30 năm trở lại đây, mỗi đời tổng thống Pháp cố để lại dấu ấn trong quan hệ với Bắc Kinh từ chính trị tới kinh tế.
Về vai trò của Pháp trong hai cực Mỹ và Trung Quốc, chuyên gia cho rằng Trung Quốc hiểu sẽ không có lợi ích trong thương lượng song phương với Mỹ. Trong khi đó, với Paris, Bắc Kinh có thể kết hợp tại châu Phi. Ví dụ như tại Mali, người Trung Quốc đã có mặt trong hàng ngũ lính gìn giữ hòa bình. Ngoài vấn đề quân sự, hai nước còn có thể hợp tác trên lĩnh vực nông nghiệp hay y tế. Cho dù Pháp xuất khẩu hàng sang Trung Quốc ít hơn bốn lần so với Đức, chuyên gia vẫn tỏ ra khả quan vào tương lai thương mại song phương. Ông công nhận là Pháp không mạnh và đang đi sau trong lĩnh vực máy móc-công cụ đang rất được thị trường Trung Quốc quan tâm. Thế nhưng, Trung Quốc vẫn còn làm người Pháp mơ tưởng nhờ vào thế hệ tương lai của đất nước đông dân nhất hành tinh. Ngoài ra, nước Pháp còn có lợi thế về nghệ thuật sống quyến rũ giới nhà giàu Trung Quốc. Chắc chắn Đức là đất nước để mua ô tô nhưng nước Pháp là nơi người ta tới.

http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20140119-love-affair-chuyen-tinh-cua-tong-thong-phap

maandag 13 januari 2014

Quan hệ Mỹ-Trung gặp thêm sóng gió do vấn đề Biển Đông

Thứ hai 13 Tháng Giêng 2014

Quan hệ Mỹ-Trung gặp thêm sóng gió do vấn đề Biển Đông

Chiến hạm USS Cowpens trên Biển Đông (U.S. Navy / Josiah Connelly)
Chiến hạm USS Cowpens trên Biển Đông (U.S. Navy / Josiah Connelly)

Thanh Phương
Những quy định mới của chính quyền tỉnh Hải Nam về đánh cá trên Biển Đông không chỉ đã bị các nước trong khu vực Châu Á, Philippines, Việt Nam, Nhật Bản phản đối, mà những quy định này còn gây thêm sóng gió trong quan hệ giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc.


Ngày 10/01, Philippines đã yêu cầu phía Trung Quốc làm rõ ngay lập tức những quy định mới về đánh cá mà chính quyền tỉnh Hải Nam thông qua từ tháng 11 năm ngoái và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014. Đối với Manila, các quy định đó là một sự « vi phạm thô bạo » công pháp quốc tế, làm gia tăng căng thẳng, làm phức tạp thêm tình hình trên Biển Đông, đe dọa hòa bình và ổn định khu vực.
Về phần Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị hôm thứ Sáu tuần trước cũng đã phản đối quy định mới của Trung Quốc về đánh cá trên Biển Đông, xem các quy định này là « bất hợp pháp và vô giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) ».
Về phần Nhật Bản, tuy không có quan hệ trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền Biển Đông, hôm qua cũng đã lên tiếng phản đối những quy định mới của Trung Quốc về đánh cá trên Biển Đông xem đó không phải là « điều được quốc tế chấp nhận ».
Nhưng đáng chú ý nhất là phản ứng cứng rắn khá bất thường của Hoa Kỳ. Ngày thứ Năm tuần trước, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki đã lên án những quy định mới của Trung Quốc về đánh cá trên Biển Đông, xem đó là một hành động « mang tính khiêu khích và nguy hiểm tiềm tàng ». Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh rằng phía Trung Quốc vẫn không đưa ra một lời giải thích hoặc một cơ sở pháp lý quốc tế nào cho những khẳng định chủ quyền của họ trên phần lớn vùng Biển Đông. Bà Psaki nhắc lại lập trường của Washington là « tất cả các bên có liên quan cần tránh mọi hành động đơn phương gây thêm căng thẳng, gây phương hại đến khả năng giải quyết các bất đồng qua con đường ngoại giao hoặc một cách hòa bình ».
Nhưng phản ứng của Bắc Kinh cũng mạnh mẽ không kém. Hôm thứ sáu tuần truớc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Xuân Oánh tuyên bố Trung Quốc « bất bình và phản đối » lời chỉ trích của Mỹ, mà bà xem là « có dụng ý xấu ». 
Trước cuộc đấu khẩu giữa phát ngôn viên Bộ Ngoại giao hai nước, quan hệ giữa Washington với Bắc Kinh đã phần nào căng thẳng thêm do việc Trung Quốc ngày 23/11 năm ngoái loan báo thiết lập một vùng nhận dạng phòng không trên vùng biển Hoa Đông. Một tuần sau đó, chính quyền Obama ra lệnh cho hai chiếc oanh tạc cơ B-52 (không có trang bị vũ khí) bay vào vùng phòng không đó mà không thèm báo trước cho Bắc Kinh.
Thậm chí hai bên đã suýt đụng độ nhau trên biển : Ngày 05/12 năm ngoái, chiếc tuần dương hạm USS Cowpens đã phải bẻ lái tránh một chiến hạm tháp tùng hàng không mẫu hạm Liêu Ninh đang cản đường trên Biển Đông. Có thể xem đó là một sự kiện mang tính biểu tượng : Trung Quốc thách thức Hoa Kỳ tại khu vực mà trong một thời gian dài vẫn nằm dưới ảnh hưởng của Mỹ.
Khi đưa ra những quy định về đánh cá nói trên, Bắc Kinh càng đụng chạm đến « quyền lợi cốt lõi » của Mỹ ở Biển Đông, khu vực mà Washington vẫn chủ trương là phải bảo đảm tự do lưu thông hàng hải và vẫn kêu gọi Trung Quốc cùng với các nước ASEAN thiết lập một bộ quy tắc ứng xử đề ngăn ngừa xung đột.
tags: Biển Đông - Châu Á - Nhật Bản - Phân tích - Quan hệ - Trung Quốc
 
http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20140113-quan-he-my-trung-gap-them-song-gio-do-van-de-bien-dong

maandag 11 november 2013

Việt - Nga thắt chặt quan hệ

Việt - Nga thắt chặt quan hệ



Cập nhật: 09:35 GMT - chủ nhật, 10 tháng 11, 2013

Tổng thống Putin gặp Chủ tịch Trương Tấn Sang ở hội nghị Apec tháng 10 năm nay
Chuyến thăm ngày 12/11 của Tổng thống Nga Vladimir Putin là chuyến thăm chính thức lần thứ 3 của Putin tới Việt Nam.
Việt Nam cũng là quốc gia thứ hai ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ông viếng thăm sau khi quay lại làm chủ điện Kremlin trong vai trò tổng thống vào tháng 3 năm ngoái. Chuyến thăm này một lần nữa cho thấy mối quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” ngày càng chín muồi giữa hai nước.
Mối quan hệ mật thiết của Việt Nam với Liên Xô và ngày nay là Liên bang Nga có gốc rễ từ những thập niên đầu của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Mối quan hệ này đã được tăng cường những năm 1960 và 1970, đánh dấu bằng đỉnh cao là Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác Việt Xô năm 1978, vốn mang tính chất gần như là một hiệp ước đồng minh chiến lược.
Sau một giai đoạn trầm lắng thời kỳ những năm 1990 chủ yếu do các vấn đề nội bộ của Nga sau khi Liên Xô tan rã và việc Kremlin tái định hướng chính sách đối ngoại hướng sang phương Tây, quan hệ hai nước đã lấy lại động lực vốn có với việc Nga trở thành đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam vào năm 2001. Năm ngoái, quan hệ đối tác này được nâng cấp lên tầm “chiến lược toàn diện” nhằm phản ánh sự phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu của mối quan hệ trong thời gian gần đây.
Mối quan hệ đối tác song phương giờ đây bao gồm các cơ chế được thể chế hóa nhằm thúc đẩy hợp tác trên mọi lĩnh vực. Đáng chú ý nhất là việc thường xuyên trao đổi các chuyến thăm cấp cao, cuộc họp thường niên của Ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học và công nghệ, tham vấn chính trị và đối thoại chiến lược, cũng như việc phối hợp thường xuyên trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế.
Khía cạnh nổi bật nhất của mối quan hệ ngày càng chín muồi này chính là lĩnh vực hợp tác quốc phòng. Nga hiện nay là nguồn cung cấp vũ khí và công nghệ quân sự chính cho Việt Nam, chiến hơn 80% giá trị vũ khí và thiết bị quân sự mà Việt Nam đã nhập khẩu trong giai đoạn 1990-2010.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Nga hồi tháng Năm
Chỉ năm ngày trước chuyến thăm của Putin, Nga đã bàn giao tàu ngầm Hà Nội cho Việt Nam. Đây là chiếc đầu tiên trong số 6 chiến tàu ngầm lớp Kilo trị giá khoảng 2 tỉ đô la mà Việt Nam đã đặt mua từ Nga năm 2009. Một số đơn hàng vũ khí đáng chú ý khác mà Nga đã chuyển giao cho Việt Nam gần đây còn bao gồm 20 chiếc máy bay chiến đấu Su-30MK (thêm 12 chiếc được chuyển giao giai đoạn 2014-15), 2 tàu hộ vệ lớp Gepard-3 (thêm 2 chiếc sẽ được chuyển giao năm 2014-16), và hai hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển K-300P Bastion-P.
Nga và Việt Nam cũng được cho là đang hoàn thiện một hiệp định hợp tác quân sự nhằm chính thức hóa mối hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Bên cạnh quan hệ quân sự, hai nước cũng đang thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực quan trọng khác, như thăm dò và khai thác dầu khí cũng như năng lượng hạt nhân. Ví dụ, Nga đã được Việt Nam chọn làm đối tác cung cấp các khoản vay cũng như công nghệ nhằm giúp Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận trong thời gian tới.

Đối tác chủ chốt

Một số yếu tố thuận lợi đã góp phần thúc đẩy quan hệ Việt – Nga thời gian qua. Thứ nhất, nền tảng vững chắc và lâu dài của mối quan hệ từ thời Chiến tranh Lạnh đã mang lại một mức độ tin cậy lẫn nhau cao giữa hai nước. Trong khi Việt Nam coi Nga là một cường quốc lớn trong một thế giới đa cực và là một đối tác ngoại giao quan trọng, thì Nga với chiến lược “xoay trục”sang châu Á của riêng mình cũng coi Việt Nam là một đối tác chủ chốt nhằm mở rộng tầm với của mình tại khu vực Đông Nam Á.
Tượng Lenin ở Hà Nội nhắc nhở quá khứ hữu nghị thời Liên Xô cũ
Khuôn khổ của quan hệ song phương được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh lạnh cũng giúp tạo thuận lợi cho hợp tác giữa hai nước hiện nay cũng như trong tương lai. Ví dụ, quan hệ hợp tác quân sự truyền thống, đặc biệt là số vũ khí Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam cũng như sự quen thuộc của Việt Nam với công nghệ quân sự của Nga, đã khuyến khích Việt Nam chọn Nga làm nguồn cung cấp vũ khí chính. Tương tự, các liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí bắt đầu từ những năm 1970 đã tiếp tục phát triển và gặt hái thành công ngay cả sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc.
Thứ hai, do một phần lớn các nhà hoạch định chính sách cấp cao ở nhiều bộ ngành khác nhau của Việt Nam hiện nay từng được đào tạo tại Liên Xô những năm 1980, sự gắn kết cá nhân này có xu hướng khiến họ có thiện cảm với Nga cũng như vai trò quốc tế của nước này, qua đó khuyến khích họ coi Nga như một đối tác quan trọng được yêu thích của Việt Nam.
"Nền tảng kinh tế yếu của mối quan hệ cho thấy quan hệ song phương vẫn còn khập khiễng và chưa thể hiện đầy đủ ý nghĩa chiến lược thực sự của mối quan hệ này đối với cả hai nước."
Cuối cùng, không giống các cường quốc khác như Trung Quốc vốn có tranh chấp Biển Đông lâu dài với Việt Nam hay Mỹ vốn thường xuyên chỉ trích Hà Nội về vấn đề nhân quyền, Nga hầu như không có vấn đề gai góc nổi bật nào trong quan hệ với Việt Nam. Ngược lại, bản chất chuyên chế ngày càng tăng của hệ thống chính trị Nga dưới thời Putin-Medvedev có xu hướng tạo thuận lợi cho quan hệ song phương khi sự tương đồng về chính trị ngày càng gia tăng sẽ tạo ra những điểm đồng lớn hơn nữa giữa chính phủ hai nước.
Chính vì vậy, quan hệ Việt – Nga nhiều khả năng sẽ còn tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Mặc dù hợp tác chính trị và quân sự vẫn sẽ là điểm nhấn chủ yếu của mối quan hệ, chính lĩnh vực kinh tế mới là nơi nhiều khả năng chứng kiến những bước phát triển mạnh nhất trong tương lai. Hiện nay, quan hệ kinh tế song phương không đáng kể vẫn là một sự thất vọng lớn đối với cả hai bên. Ví dụ, năm 2012, thương mại hai chiều mới đạt 2,45 tỉ đôla, trong khi tổng vốn FDI đăng ký của Nga tại Việt Nam đến năm ngoái mới chỉ đạt hơn 1 tỉ đôla.
Hiện chính phủ hai nước đã cam kết nỗ lực đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên mức 7 tỉ đôla năm 2015 và 10 tỉ đôla vào năm 2020. Trong bối cảnh đó, Việt Nam và Liên minh Thuế quan Belarus, Kazakhstan và Nga gần đây đã khởi động đàm phán một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Nếu thành công, hiệp định này sẽ đóng góp không nhỏ cho việc đạt được các mục tiêu trên cũng như góp phần thúc đẩy các mối quan hệ đầu tư song phương.
Quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” giữa Việt Nam và Nga sẽ tiếp tục phát triển, mà chuyến thăm của ông Putin tới Hà Nội sắp tới chỉ là một trong nhiều minh chứng. Tuy nhiên, nền tảng kinh tế yếu của mối quan hệ cho thấy quan hệ song phương vẫn còn khập khiễng và chưa thể hiện đầy đủ ý nghĩa chiến lược thực sự của mối quan hệ này đối với cả hai nước.
Lê Hồng Hiệp là giảng viên tại khoa Quan hệ quốc tế, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, và là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra.


Thêm về tin này

Chủ đề liên quan

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/11/131110_quan_he_viet_nga.shtml

"Lòng tin" giữa hai nước Việt-Nga


Cập nhật: 08:56 GMT - thứ hai, 11 tháng 11, 2013

Media Player

Tiến sỹ Sokolov nói về "lòng tin" giữa hai nước Việt-Nga.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Ngày thứ Ba 12/11, Tổng thống Nga Vladimir Putin bắt đầu chuyến thăm nhà nước tới Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ chiến lược song phương.
Nhân sự kiện này, BBC đã hỏi chuyện Tiến sỹ Anatoly Sokolov, chuyên gia về Việt Nam tại Viện Đông phương học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.
Theo ông Sokolov, từ cuối thế kỷ 19, giữa hai bên đã có những liên hệ đầu tiên.
"Nhân dân Nga và Việt Nam đều trải qua các cuộc chiến tranh nặng nề. Chiến tranh luôn luôn khiến con người ta cho thấy bản chất thật của mình, chứng tỏ mình, và có lẽ điều đó đã gắn kết hai nước chăng?"

maandag 15 juli 2013

Trung Quốc và những mối quan hệ tại Trung Á

Chủ nhật 14 Tháng Bẩy 2013

Trung Quốc và những mối quan hệ tại Trung Á

(Nguồn : Le Courrier International)
(Nguồn : Le Courrier International)

Thu Hằng
Các tuần báo Pháp quan tâm tới Trung Quốc ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tờ Le Courrier International đăng lại ý kiến của đồng nghiệp Matxcơva về chiến lược bành trướng của Bắc Kinh tại khu vực Trung Á. Tiếp theo là nhận định của một tờ báo nổi tiếng của Hồng Kông về tình hình bạo động ở Tân Cương diễn ra thời gian vừa qua. Về vấn đề xã hội, tạp chí cuối tuần Le Monde phản ánh thực tế quan hệ giữa con cái với bố mẹ trong xã hội Trung Quốc hiện đại.


Người láng giềng Trung Quốc phiền toái
Dưới tiêu đề : « Người láng giềng Trung Quốc phiền toái », tuần báo nổi tiếng tại Nga, Argoumenty i Fakty, quan tâm tới việc Trung Quốc háu ăn một cách đáng sợ tại khu vực Trung Á.
Từ khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, các nước thành viên đã lần lượt trao cho Trung Quốc một phần lớn đất đai lãnh thổ của mình, ví dụ : Tadjikistan giao cho Trung Quốc 1 358 km2, Kirghizistan 1 160 km2 và Kazakhstan 407 km2. Tác giả bài báo đặt câu hỏi liệu Trung Quốc có dừng lại ở đây hay sẽ nuốt hết các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ?
Câu hỏi trên cũng hàm ý việc Trung Quốc ngày càng bành trướng tại các nước trên. Quốc gia lớn nhất thế giới này là chủ nợ quan trọng số một tại Tadjikistan, chiếm 40% các khoản vay và đầu tư vào cơ sở hạ tầng hay nhà máy điện. Ngoài ra, từ năm 2009, 30% lượng dầu mỏ khai thác tại nước láng giềng Kazakhstan thuộc về các tập đoàn Trung Quốc và hàng chục nghìn chủ trang trại Trung Quốc được nhận đất để làm nông nghiệp tại đây. Còn người Kirghizistan cho người Trung Quốc thuê các mỏ sắt khổng lồ ở Jetim-Too với thời hạn 50 năm.
Một doanh nhân ở thủ đô Astana ví mối quan hệ Trung Quốc với các quốc gia Trung Á như con rồng và những con chuột đồng. Dù mọi trao đổi có thoải mái đến mấy thì tất cả đều kết thúc trong miệng con rồng. Còn một nhà phân tích ở Hồng Kông nhận xét : « Hiện nay, Trung Quốc không cần đất đai mà chỉ kiếm các nguồn tài nguyên ». Quả thực, từ sáu năm trở lại đây, đất nước đông dân nhất thế giới không còn khả năng tự cung cấp nguồn than. Chính vì thế mà người Trung Quốc quay sang ve vãn các nước láng giềng. Ở thế kỷ XXI, không nhất thiết phải có quân đội hùng hậu để chiếm một quốc gia : Tiền là giải pháp chắc chắn nhất và ít nguy hiểm nhất.
Tại Tân Cương, Bắc Kinh mất bình tĩnh
Cũng tại khu vực Trung Á, tờ Shun Po (Hồng Kông) quan tâm tới mối quan hệ giữa trung ương và các dân tộc thiểu số, sau vụ bạo động xảy ra ngày 26/06 vừa qua. Với tựa đề : « Tại Tân Cương, Bắc Kinh mất bình tĩnh », le Courrier International đăng quan điểm của tờ báo trên, cho rằng những hành động trấn áp của chính quyền Trung Quốc sẽ không giải quyết được vấn đề một cách sâu sắc.
Từ lâu, Bắc Kinh coi những người ly khai tại Tân Cương là những kẻ khủng bố miền đông Turkistan. Điều nguy hiểm hơn là lần này, phiến quân giết hại cả dân thường. Họ có một quá trình luyện tập kỹ lưỡng cả về tinh thần lẫn thể chất trước khi ra tay hành động tại Tân Cương. Theo thông tin từ chính quyền Trung Quốc, những kẻ ly khai đã tham gia đào tạo với phiến quân Taliban và thậm chí, đứng trong hàng ngũ quân đội nổi dậy tại Syria.
Thế nhưng, không phải một sớm một chiều sẽ tìm ra giải pháp cho các vấn đề nảy sinh từ lâu đời. Từ năm 2009, bạo động bắt đầu bùng phát tại Tân Cương do mâu thuẫn giữa hai tộc người Hán và Duy Ngô Nhĩ. Bí thư tỉnh ủy Trương Xuân Hiền thực hiện rất nhiều chính sách ôn hòa nhằm đảm bảo công bằng và an ninh tại đây : Bảo đảm việc làm cho người Duy Ngô Nhĩ, cử giáo viên, bác sĩ và kĩ sư từ các thành phố lớn kết nghĩa với Tân Cương tới đây công tác, hay ủng hộ các doanh nghiệp tới đầu tư. Cũng năm này, cuộc họp của Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã đưa ra ba ý kiến nhằm làm dịu tình hình tại đây : Thứ nhất, nhất thiết phải phát triển kinh tế ; thứ hai, nâng cao tầm quan trọng các vấn đề đời sống hàng ngày và nâng cao hiệu quả của các hoạt động giáo dục và việc làm, cuối cùng, ổn định trật tự công cộng và bắt buộc phải kiềm chế một cách hiệu quả các lực lượng cực đoan.
Vụ bạo động ngày 26/06 vừa qua làm Bắc Kinh thay đổi hoàn toàn ý kiến. Một cán bộ cao cấp tuyên bố phải thẳng tay đàn áp không thương tiếc các hành động bạo loạn để loại trừ tận gốc các phe phái đòi ly khai. Tờ báo quan ngại liệu các cuộc bạo động xảy ra vừa qua có khiến Bắc Kinh xem xét lại chính sách áp dụng tại khu vực này trong thời gian vừa qua hay không ? Liệu các biện pháp cương quyết, quay ngoắt 180 độ, mà Trung ương đang thực hiện chỉ là giải pháp tạm thời trong lúc chờ đợi các cuộc đụng độ bớt đi ? Tác giả bài báo nhận định rất khó có thể lạc quan về hiệu quả của các giải pháp đưa ra khi mà người ta thay đổi nó cứ như thay áo…
Vì bị phạt tiền nên buộc phải phụng dưỡng cha mẹ
Với tiêu đề khá mỉa mai như trên, phóng viên tạp chí cuối tuần Le Monde phản ánh một thực trạng đáng buồn tại Trung Quốc do xã hội thay đổi một cách chóng mặt.
Tác giả nêu một ví dụ hi hữu tại Trung Quốc. Ngày 01/07, một cụ bà 77 tuổi thắng kiện dựa vào « luật về quyền lợi và lợi ích của người cao tuổi », buộc con gái và con rể phải phụng dưỡng mình.
Sự phát triển kinh tế đã làm mất những giá trị của xã hội Trung Quốc truyền thống. Các thành phố lớn và các khu công nghiệp thu hút giới trẻ các vùng nông thôn tới làm việc. Khoảng 194 triệu người già trên 60 tuổi, chiếm 14% dân số, sống cô đơn tại các vùng nông thôn, miền núi. Con cái họ chỉ về nhà một năm một lần vào dịp Tết. Thậm chí, một số người còn không muốn về vì quá quen với cuộc sống tiện nghi ở thành thị.
Người Trung Quốc lấy làm tiếc giá trị truyền thống này ngày một phai nhạt. Còn một số nhà quan sát thì cho rằng chính phủ đang cố lấy lại uy tín vì không thực hiện được hệ thống hưu trí theo đúng nghĩa. Trên tờ New York Times, nhà văn Dư Hoa trách chính phủ Trung Quốc đang ra sức kêu gọi lòng hiếu thảo của con cái mà chính họ đã xóa bỏ trong quá khứ. Ông tố cáo : « Đó là một điều khoản nực cười », nhằm « che dấu trách nhiệm của mình với tư cách là đảng cầm quyền từ 60 năm nay ».

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130714-trung-quoc-va-nhung-moi-quan-he-tai-trung-a