Posts tonen met het label kinh tế thị trường. Alle posts tonen
Posts tonen met het label kinh tế thị trường. Alle posts tonen

zaterdag 11 juli 2015

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng... đi Mỹ

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-08
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC
AFP
Bên lề chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, phía Việt Nam mong muốn sớm được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường.
Gần 40 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong đó có Nhật Bản và Úc. Tuy nhiên cho đến nay các nước EU và Hoa Kỳ vẫn cho là Việt Nam chưa đáp ứng các điều kiện để được công nhận là nền kinh tế thị trường.
Kinh tế quốc doanh không thể là kinh tế thị trường
Tháp tùng phái đoàn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viếng thăm Hoa Kỳ, ông Hoàng Bình Quân Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương có bài phổ biến trên Washington Post với lời kêu gọi Hoa Kỳ công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Tiếng nói đối ngoại của Trung ương Đảng biện luận rằng, nền kinh tế Việt Nam cởi mở không kém một số quốc gia Âu Châu và đối với những lĩnh vực gọi là còn vấn đề, Việt Nam vẫn đang nỗ lực để có được những cải cách cần thiết.
TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế từng nhiều năm làm việc cho  Liên Hiệp Quốc từ New York nhấn mạnh tới điểm cốt lõi mà theo ông đã khiến nền kinh tế Việt Nam không thể xem là kinh tế thị trường.
“ Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường. Với chế độ cộng sản và với nền kinh tế họ coi là quốc doanh chủ đạo thì như vậy họ sẽ làm lợi nhất cho những người ở trong Đảng và những người cầm quyền, đặc biệt việc sử dụng đất đai…họ sẽ tạo ra những cơ sở để cho đảng viên những người liện quan đến Đảng, liên quan đến chính quyền được hưởng lợi ích và giới tư nhân khó lòng mà cạnh tranh lại những người đang nắm quyền…  ”
Thông thường, 5 điều kiện để các quốc gia được công nhận là nền kinh tế thị trường bao gồm sự minh bạch trong môi trường đầu tư kinh doanh, tuân thủ pháp luật đề ra, tiền tệ ổn định, đối xử công bằng giữa các khu vực doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài và sau cùng là trong hoạt động kinh tế không có các khoản chi không chính thức.
Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường.
TS Vũ Quang Việt
Trả lời chúng tôi từ Hà Nội, TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận xét về việc các nước EU và Hoa Kỳ vẫn còn chưa nhìn nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trên thực tế. Theo ông, tiêu chuẩn về kinh tế thị trường của các nước EU và Hoa Kỳ tuy có khác biệt nhưng có thể tóm tắt:
“Tinh thần chung nó liên quan đến hoạt động phản ánh qua giá cả thị trường như thị trường đất đai, thị trường lao động, các vấn đề tỷ giá. Ngoài ra còn có câu chuyện doanh nghiệp nhà nước…Nếu nhìn tổng thể tôi cho rằng tính chất thị trường của kinh tế Việt Nam ngày một rõ hơn, rõ nhất nó thể hiện qua việc hội nhập của Việt Nam gắn với các hiệp định thương mại tự do và sắp tới có thể là Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam – EU và TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Bởi vì bản chất những hiệp định này gắn với tự do hóa rất là kinh tế thị trường. Cho nên tôi nghĩ rằng nếu EU và Hoa Kỳ nhìn nhận kinh tế thị trường Việt Nam thì nó cũng phản ánh cái giá trị cải cách ở Việt Nam và đặc biệt như tôi nói là hội nhập. Thế còn gọi là bắt bẻ trong ngoặc kép 100% kinh tế thị trường hoàn hảo thì tất nhiên người ta cũng có điều này điều kia chưa thỏa mãn. Nhưng cũng phải nói luôn là những nền kinh tế gọi là thị trường thì cũng không phải là 100% thị trường tất cả.”
Được công nhận là nền kinh tế thị trường là điều kiện thuận lợi để các quốc gia phát triển kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do, gia tăng buôn bán và tránh bị xử ép khi có tranh chấp thương mại hay tranh tụng về chống bán phá giá.
Thể chế chính trị và kinh tế thị trường
Theo TS Vũ Quang Việt, sự kiện Việt Nam xác định theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là Việt Nam không thể trở thành một nền kinh tế thị trường được quốc tế nhìn nhận. Điều quan trọng theo TS Việt, nền kinh tế Việt Nam cần được cải tổ đáp ứng các tiêu chuẩn chung về kinh tế thị trường. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:
“Tôi nghĩ là câu chữ nó vô nghĩa, vì nước nào cũng vậy họ có chính sách đối với việc bảo vệ thành lập nghiệp đoàn, bảo vệ lương tối thiểu đối với tiền hưu trí ... cho đến trợ cấp xã hội, ngay những nước tư bản đều có vấn đề như vậy hết, nếu Việt Nam có làm như vậy cũng là chuyện bình thường. Nếu Việt Nam cấm nghiệp đoàn, đây là điểm tôi chưa rõ TPP có đòi hỏi là Việt Nam mở rộng cạnh tranh các nghiệp đoàn, người ta muốn vào nghiệp đoàn nào cũng được hay người ta chỉ được vào nghiệp đoàn của nhà nước. Vấn đề Việt Nam chỉ cho phép một loại nghiệp đoàn thôi thì cũng là hình thức không kinh tế thị trường.”
Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng VN cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội VN…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của VN.
TS Võ Trí Thành
Nếu như Việt nam cải cách tích cực và nghiêm chỉnh để được phương tây công nhận là nền kinh tế thị trường thì có ảnh hưởng hay dẫn đến thay đổi thể chế chính trị và đây có phải là một mối quan ngại hay không. TS Võ Trí Thành giải đáp câu hỏi này:
“ Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội Việt Nam…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của Việt Nam. Mặc dù có thể chế độ chính trị vẫn là ổn định và giữ tư cách gọi là chế độ một đảng.”
Theo TS Võ Trí Thành, kinh tế thị trường đem lại ý nghĩa rất là cụ thể nhưng cũng có ý nghĩa hình tượng tích cực. Thí dụ việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam có thể làm giảm thiệt hại trong những vụ kiện chống bán phá giá, bởi vì nếu là nền kinh tế phi thị trường thì người ta có thế áp đặt một nước thứ ba để lấy giá so sánh mà có thể không công bằng, việc này đã nhiều lần xảy ra. Ngoài ra nếu được công nhận là nền kinh tế thị trường thì cũng là điều thuận lợi cho Việt Nam trong vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Vũ Quang Việt người từng là chuyên gia Liên Hiệp Quốc về tài khoản thống kê nói rằng, nếu như Việt Nam hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và với các nước thành viên khác thì sẽ rất gần với việc được công nhận là nền kinh tế thị trường. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào các điều kiện mà TPP đặt ra và kết cục là Việt Nam có đáp ứng các điều kiện đó để được hưởng lợi về ưu đãi thuế quan xuất nhập khẩu hay không.

zondag 26 april 2015

Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới (Nguyễn Xuân Nghĩa)

'Ý thức về tự do đã ăn sâu vào miền Nam'

  • 25 tháng 4 2015

Tổng tuyển cử tại miền Nam Việt Nam năm 1967

Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới.
Nhận định trên được một người làm việc ở Sài Gòn trước 1975 nói với BBC trong dịp đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là phụ tá Tổng trưởng Tài chính thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trao đổi với BBC từ California, Hoa Kỳ. Ông cho rằng chính sách viện trợ của Hoa Kỳ không những không giải quyết được các vấn đề của miền Nam thời bấy giờ, mà còn gây thêm nhiều khó khăn.
BBC:Ông đánh giá thế nào về tính tự do, mở cửa của nền kinh tế miền Nam thời bấy giờ, thưa ông?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Có lẽ nên đặt trong hoàn cảnh của thập niên 60 của thế giới lúc đó và cái thứ nhì là hoàn cảnh riêng của Việt Nam.
Lần đầu tiên sau năm 1883 đến 1955 mới có một nước Việt Nam độc lập và bắt đầu bước qua chuyện thế nào là dân chủ, thế nào là kinh tế thị trường.
Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ miền Nam, nhất là nền Đệ nhất Cộng hòa, đã có những thành quả lớn, so với thời thực dân Pháp cai trị đất nước ta với nền kinh tế chỉ huy của họ.
Nền kinh tế với dân số 15 triệu đã phải tiếp nhận gần 2 triệu người dân di cư từ miền Bắc vào, phải xây dựng lại một hệ thống kinh tế và hành chính khác hẳn những gì nước Pháp để lại.
Trong giai đoạn đó, mức độ tự do kinh tế so với miền Bắc, chứ tôi chưa nói là các nước khác, thì những cải cách như đạo luật cải cách ruộng đất ban hành năm 1956 đã là một bước tiến đáng kể.
Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa thì một nửa đất nước lâm vào cảnh chiến tranh toàn diện, do những người cộng sản tổ chức ngay trong ruột của miền Nam.
Tình trạng chiến tranh ngày càng rộng mở từ năm 1965 trở đi thì miền Nam càng mất khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế của mình, từ chuyện ruộng đất, canh tác để nuôi sống khoảng 18 triệu người.
Nhưng trong giai đoạn đó thì chính quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn cố gắng làm được chuyện rất lạ, là xây dựng nền kinh tế thị trường, và thúc đẩy điều lớn lao hơn nền Đệ nhất Cộng hòa là đạo luật cải cách ruộng đất ngày 26/3 năm 1970, với tên gọi "Người cày có ruộng".
Đạo luật này đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và hữu sản hóa cho 1 triệu rưỡi người nông dân miền Nam lúc đó.
Trong hoàn cảnh đó, nhất là sự ngu xuẩn trong chính sách viện trợ của Mỹ, mà miền Nam vẫn làm được những điều đó.
Nếu nền Đệ nhất cộng hòa gặp áp lực từ người Bắc di dân vào thì Đệ nhị Cộng hòa cũng phải đón nhận hoàn cảnh tương tự.

Năm 1972, quân đội miền Bắc đánh vào phía nam của vĩ tuyến 17, khiến bao người trôi dạt vào phía trong nam mà miền nam vẫn phải trợ cấp, tạo công ăn việc làm cho họ, trong bối cảnh Mỹ đã tháo chạy.
Trong hoàn cảnh đó mà vẫn còn giữ được mấy năm nữa thì tôi nghĩ thuần về kinh tế mà nói là cả nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đã giải được những bài toán kinh tế mà tôi cho là nhiều quốc gia như Nam Hàn, Thái Lan, Philippines nếu rơi vào trong hoàn cảnh tương tư chưa chắc đã giải quyết được.
Người ta cứ nói là do viện trợ Mỹ nhưng không phải. Chính viện trợ Mỹ là yếu tố khiến miền Nam không đương cự nổi với tình thế chiến tranh.
BBC:Theo ông thì những chính sách tiến bộ nào của miền Nam thời đó có thể so sánh được với Nam Hàn hay Nhật Bản trong thời kỳ các nước này mới trỗi dậy?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cái khá cụ thể là nói đến mức sống của người dân thực sự thời đó khá tương đối, nếu so sánh với trường hợp của Nam Hàn, Philippines hay Đài Loan.
Miền Nam lúc đó cũng đã có một số công ty quốc doanh bị buộc phải giải tư, hệ thống kinh tế do chính quyền kiểm soát phải bước sang nền kinh tế cho tư nhân.
Trong lĩnh vực của tôi khi tiếp xúc làm việc với đối tác Đài Loan, Nam Hàn thì họ theo dõi các chính sách của miền Nam có sự tôn kính, khâm phục. Hai bên đều xem nhau là đang trước áp lực của cộng sản mà phải giải quyết các vấn đề kinh tế.
Tuy nhiên chiến sự tại nam Việt nam ngày càng bùng phát dữ dội, không như hai nơi cũng bị áp lực của chiến tranh là hai Nam Hàn, Đài Loan.
Điều đó không chỉ bắt đầu từ việc chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, mà còn do tướng tá bắt đầu làm loạn từ năm 1963, khiến nền kinh tế không thể sinh hoạt bình thường như Nam Hàn hay Đài Loan, khiến miền Nam dựa vào hệ thống viện trợ của Hoa Kỳ.
Chúng ta thấy như ở Iraq hay Afghanistan là viện trợ không giúp cho quốc gia cầu viện giải quyết những vấn đề của mình, vì nó tùy thuộc vào chính sách quốc gia cấp viện khi đó. Viện trợ để giải quyết vấn đề của nước Mỹ, chứ không giải quyết vấn đề của nước nhận viện trợ.

Vận động đi bầu cử ở Sài Gòn năm 1967
BBC:Ông có tin rằng nếu có cơ hội tồn tại, Việt Nam Cộng hòa có thể sánh ngang với các cường quốc châu Á ngày nay?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đó là vấn đề giả định về lịch sử mà không xảy ra được. Thực tế ra lúc đó các quốc gia đều nghĩ rằng miền Nam là trù phú. Miền Nam có những tài nguyên, điều kiện khá hơn các nước khác như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines.
Nếu chiến sự lắng đọng trong 6 tháng thì miền Nam đã có thể tự túc về lúa gạo và lắng đọng 1 năm thì có thể trở về vị trí xuất cảng về gạo.
‎Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội ở miền nam.
Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.
Bây giờ cũng vậy, những người ưu tú nhất của miền bắc cũng đi vào trong nam và tìm đến không khí tự do, cởi mở, thông thoáng, rộng rãi. Đó là di sản mà người ta cứ tưởng đã mất, nhưng vẫn còn đó.
Đó là đóng góp của miền Nam, vùng đất nhiều vấn đề, tai ương, nhưng cũng là nơi cho nhiều cơ sở để có thể bùng lên sau thời kỳ Đổi Mới.

Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài

Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

  • 25 tháng 4 2015
Phía ngoài Nhà hát lớn Sài Gòn trước năm 1975
Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài.
Nhận định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt kiều Mỹ nay đang sống ở Việt Nam, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 23/4.
Ông Thành cũng cho rằng "dư âm của nền kinh tế tập trung" đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai.
BBC: Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975?
Ông Bùi Kiến Thành: Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.
Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ‎ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt.
Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý‎ nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng, vẫn có những nhũng nhiễu của các nhóm lợi ích.
Trước 75 thì kinh tế miền Nam sống nhờ viện trợ hoa kỳ. Mỹ cung cấp cho miền Nam một tài khoản lớn, mỗi năm mấy trăm triệu đôla, mỗi năm nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam rồi chi cho chính phủ, chi cho phát triển.
Với nền Đệ nhị Cộng hòa thì chiến tranh mở rộng và chi phí của bộ máy quân sự Mỹ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế. Nền kinh tế phát triển ảo, phát triển về hạ tầng chứ không phải phát triển doanh nghiêp để tạo ra công nghệ mới.
Nó có định hướng tốt là nền kinh tế thị trường nhưng không vững chắc, không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính.
Cả Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đều không có điều kiện để phát triển hết tiềm năng của một nền kinh tế thị trường, do chiến tranh và việc chuyển đổi qua nền kinh tế kế hoạch tập trung rất là khắc nghiệt.
Nếu so sánh với các nước khác thì Đại Hàn bắt đầu dưới thời Park Chung Hee mới bắt đầu phát triển tốt và đến 70 mới phát triển xa hơn Việt Nam Cộng Hòa.
Không thể so sánh với những nước như Nhật được. Nhật đến năm 70 đã phát triển thành nền kinh tế tiến bộ rồi.
Singapore thời đó cũng chỉ mới bắt đầu có tiến triển dưới thời L‎ý Quang Diệu và đến 70 thì phát triển xa hơn miền Nam nhiều, vì cả ba nước này không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.
BBC: Xu hướng phát triển của Việt Nam Cộng Hòa sẽ như thế nào nếu được phát triển trong hòa bình, thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.
Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.
Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.
Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.
Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế 'nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý‎ của nhà nước".
Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản l‎ý của nhà nước.
Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.
Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.
Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản l‎ý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.
Nền kinh tế thị trường của miền Nam đã bị phá vỡ sau năm 1975
BBC: Liệu chính phủ ngày nay có thể học được gì từ chính sách kinh tế miền nam trước 1975 thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Thứ nhất là kinh tế là việc của nhân dân chứ không phải của chính phủ, chính phủ không làm kinh tế. Đó là bài học lớn nhất.
Phải bỏ tập quán chính phủ đi làm kinh tế. Đã có định hướng như thế rồi nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vấn đề tư duy kinh tế nhà nước.
Thứ hai là các nhóm lợi ích của thành phần cầm quyền có ảnh hưởng rất lớn về vấn đề lợi ích trong nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị khống chế bởi một nhóm lợi ích, khó mà phát triển được.
Kinh tế làm sao phải lan tỏa được để mọi người có thể tham gia, làm sao để tổ chức mà cả hệ thống chính trị, hệ thống hành chính tạo điều kiện cho người dân tham gia bình đẳng vào vấn đề kinh tế.
Ở miền Nam khi đó không có vấn đề là đảng viên thì hay ở trong hệ thống tổ chức nào mới được trọng dụng.
Đến bây giờ chúng ta thấy rằng về vấn đề quản lý nhà nước, toàn thể Việt Nam vẫn ở trong hệ thống Đảng Cộng sản, không phải đảng viên thì không được gì, mà chưa hẳn là 4 triệu đảng viên cộng sản đã là tinh túy nhất của toàn dân Việt Nam, nên nó hạn chế việc đào tạo lãnh đạo quản lý‎ nhà nước.
Chúng ta chưa thực sự mở cửa đào tạo, có hệ thống giáo dục tân tiến.
Đi vào đại học thì học những chuyện đã cũ rích rồi, từ những sách tiếng Anh dịch ra cho học sinh học mà thầy giáo đọc còn chưa hiểu, trong khi ở những nước khác, sinh viên học trên internet các dữ liệu, kiến thức mới.
Hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa thể đưa những kinh nghiệm hay kiến thức mới vào nền giáo dục kịp thời, nên chúng ta đào tạo ra các sinh viên không đủ năng lực đi vào thực tế, đi vào xã hội.
Các doanh nghiệp khi thuê từ đại học ra phải đào tạo lại cho phù hợp với doanh nghiệp mình, nên tốn gấp đôi thời gian và tiền.
Bên cạnh đó, Việt Nam bây giờ còn có cái đại nạn là phải đi mua việc. Điều đó tạo ra vấn đề là những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước không phải do năng lực. Những chuyện đó hạn chế chất lượng quản lý nhà nước của Việt Nam.
Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.
Giáo dục miền Bắc khi đó chỉ có Marxist thôi, không được đọc sách báo, không nghe về tư bản chủ nghĩa, không nghe BBC, radio thì bị khóa không được mở các tần số đấy.
Giờ thì trong trường đại học mở ra nhiều hướng để sinh viên tiếp cận, ví dụ như Internet. Nhưng giáo trình thì không bao nhiêu, vì các thầy cũng có được học đâu, các thầy cũng học trong cơ chế xã hội chủ nghĩa bao năm nay rồi, nên việc đào tạo các thầy trước rồi đào tạo sinh viên sau khiến nền giáo dục bị chậm trễ.
Dư âm của một nền văn hóa tập trung vẫn khiến Việt Nam bị hạn chế cho đến nay.

dinsdag 20 augustus 2013

TPP giúp Việt Nam đạt được quy chế kinh tế thị trường

TPP giúp Việt Nam đạt được quy chế kinh tế thị trường

Phương thức tốt nhất để Việt Nam đạt được quy chế nền kinh tế thị trường là thông qua việc hai bên cùng nhau hoàn tất thành công việc đàm phán hiệp ước xuyên Thái Bình Dương TPP. Báo Sài gòn Tiếp thị trích lời của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, David Shear trong buổi họp báo tại đại sứ quán Mỹ vào chiều ngày 7 tháng 8.
Đại sứ Hoa Kỳ nhìn nhận quy chế công nhận là nền kinh tế thị trường là một vấn đề có giá trị mang tính biểu tượng to lớn đối với Việt Nam, là cơ sở để đánh giá trong các vụ kiện chống bán phá giá. Đây là một quy trình gồm nhiều bước và được thực hiện bởi bộ Thương mại Mỹ.
Hiện Việt Nam vẫn đang cố gắng để được Mỹ công nhận là nền kinh tế thị trường, giúp tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên vẫn còn một số những trở ngại khiến Mỹ chưa thể công nhận Việt nam là nền kinh tế thị trường mà trở ngại lớn nhất chính là vấn đề quyền lập hội của người lao động.
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ hồi cuối tháng 7 vừa qua của chủ tịch Trương Tấn Sang, lãnh đạo hai nước đã thống nhất sẽ hoàn tất việc đàm phán TPP vào cuối năm nay.

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/tpp-help-vn-08082013105408.html

VN hy vọng đàm phán TPP hoàn tất cuối năm 2013


000_Was7752855-305.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry và Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang (T) tại Bộ Ngoại giao ở Washington, DC trưa 24/7/2013.
AFP photo

Đàm phán TPP Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương có thể xong vào cuối năm nay, là lời tuyên bố của bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng ngày hôm qua giờ địa phương ở Hoa Kỳ.
Lên tiếng với báo chí sau khi gặp gỡ cùng vị đại diện Bộ Thương Mại Mỹ ở Washington, ông Vũ Huy Hoàng nói rằng bằng vào thực tế cùng những diễn biến cho đến ngày hôm nay, đặc biệt trước kết quả chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, thì có nhiều khả năng TPP hoàn tất vào cuối năm nay.
Được biết đã có 17 vòng đàm phán TPP đã diễn ra và lần này vòng thứ 18 đang diễn ra ở Malaysia. Quan điểm giữa các quốc gia tham dự có phần thuận lợi hơn trong lần đàm phán này. Báo chí trong nước đưa tin là những vấn đề liên quan đến mối quan hệ mậu dịch Mỹ- Việt Nam cũng đạt được những bước tiến khả quan.

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/tpp-hopefully-done-by-year-end-vn-says-07252013094827.html

Lơi ích TPP: Dệt may VN không có “cửa”

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-07-23
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Trưởng đoàn đàm phán của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ bà Barbara Weisel  (trái) và ông Trần Quốc Khánh đại diện của Việt Nam tham dự cuộc họp báo chung tại Singapore vào ngày 13 Tháng Ba năm 2013.
Trưởng đoàn đàm phán của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ bà Barbara Weisel (trái) và ông Trần Quốc Khánh đại diện của Việt Nam tham dự cuộc họp báo chung tại Singapore vào ngày 13 Tháng Ba năm 2013.
AFP

Nghe bài này
Một khi trở thành hiện thực, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam là một thành phần trong số 12 nước tham gia đàm phán, sẽ mở ra một thị trường rộng lớn với 40% GDP toàn cầu (tổng sản phẩm nội địa).  Tuy vậy sản phẩm dệt may Việt Nam hầu như không thể hội đủ điều kiện để hưởng lãi suất ưu đãi của khu vực mậu dịch tự do này.
Hưởng thuế 0% của TPP không dễ
TPP ở vòng đàm phán thứ 18 diễn ra trong cánh cửa khép kín ở Malaysia từ 15-25/7/2013 với 11 quốc gia đối tác  bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chi Lê, Malaysia, Mexico, Peru, New Zealand, Hoa Kỳ, Singapore và Việt Nam. Riêng Nhật Bản đối tác thứ 12 chính thức tham gia đàm phán từ ngày 23/7. Khu mậu dịch tự do xuyên Thái Bình Dương khi có hiệu lực sẽ cắt giảm hầu hết thuế nhập khẩu hàng hóa giữa các nước thành viên. Tuy vậy TPP dự kiến những điều kiện khắt khe về môi trường, sở hữu trí tuệ, bảo vệ lao động, xuất xứ hàng hóa và nhiều thứ ràng buộc khác để một loại hàng hóa được miễn thuế hoặc chịu thuế suất thấp.
Hàng may mặc sản xuất xuất khẩu từ Việt Nam gọi chung là Dệt may có tổng kim ngạch hơn 17 tỷ USD năm 2012, trong đó riêng thị trường Hoa Kỳ tiêu thụ đến 50%, phần còn lại là các nước EU (26%), Nhật Bản (12%) Hàn Quốc (6%). Tuy nhiên Dệt may Việt Nam đa phần là gia công cho nước ngoài và phụ thuộc một tỷ lệ rất lớn vật tư nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
Khu mậu dịch tự do xuyên Thái Bình Dương khi có hiệu lực sẽ cắt giảm hầu hết thuế nhập khẩu hàng hóa giữa các nước thành viên. Tuy vậy TPP dự kiến những điều kiện khắt khe về môi trường, sở hữu trí tuệ, bảo vệ lao động, xuất xứ hàng hóa và nhiều thứ ràng buộc khác để một loại hàng hóa được miễn thuế hoặc chịu thuế suất thấp
Ông Diệp Thành Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM nhận định:
“ Theo tinh thần của Hiệp định này thì sẽ có 90% dòng thuế sẽ trở thành 0%,  tuy nhiên để hưởng được điều này thì là một vấn đề rất lớn. Cụ thể đối với ngành dệt may phía Hoa Kỳ đưa một yêu cầu phải thực hiện chính sách họ gọi là tính từ sợi “yarn forward rule of origin ”. Theo chính sách này để hưởng được cái gọi là xuất xứ nội vùng, tức là bao gồm những vật liệu mua trong nước, những vật liệu mua trong vùng. Xuất xứ nội vùng này đối với ngành dệt may là phải có sợi ở trong nội vùng.
Công nhân một xưởng may ở TP. HCM
Công nhân một xưởng may ở TP. HCM

Hay nói cách khác chúng ta phải mua sợi của các nước thành viên TPP mà cụ thể tức là mua sợi của Mỹ, vì trong các nước TPP khác thì không thấy có trồng bông hay làm sợi. Đây là khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam khó mà đạt được khi TPP có hiệu lực, cả hai bên Việt Nam và Hoa Kỳ chưa thống nhất được với nhau tuy nhiên cũng có tin là Hoa Kỳ có nhượng bộ đôi chút, họ có thể cho chúng ta một thời gian để thực hiện chính sách Yarn forward còn thời gian bao lâu và những loại vật liệu nào được loại trừ thì vẫn đang trong đàm phán và chưa có kết thúc cụ thể. ”
Theo sự giải thích của ông Diệp Thành Kiệt, sợi của Mỹ có giá bán cao sẽ khiến sản phẩm dệt may Việt Nam mất tính cạnh tranh. Việt Nam hiện nay không có nhiều nhà máy sợi và sản phẩm làm ra chỉ đáp ứng 1% nhu cầu toàn ngành. Thông thường doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu một số lượng bông vừa đủ để các nhà máy kéo sợi. Đối với phần lớn nhu cầu, Việt Nam phụ thuộc việc nhập sợi từ các nước như Trung Quốc, Pakistan, Uzebekistan, những nơi có giá thành thấp hơn nhiều so với Hoa Kỳ.
Mục đích của TPP là gì, là phát triển thương mại nội vùng. Do đó các nước sẽ phải ràng buộc làm sao để cho các thành viên khác mua những sản phẩm của mình...Chính vì vậy họ phải đưa ra các chính sách làm sao để sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản phẩm bông sợi của họ được tiêu thụ
ông Diệp Thành Kiệt
Dệt may Việt Nam không hội đủ điều kiện
Theo lời ông Diệp Thành Kiệt, nếu Việt Nam tham gia TPP mà riêng ngành dệt may không được hưởng lãi suất ưu đãi cho hàng xuất vào Hoa Kỳ thì thật đáng tiếc và đối với dệt may thì sẽ không có gì khác trước. Nhận định về sự kiện các nước đều phải có sự nhân nhượng lẫn nhau để TPP hiện thực, ông Diệp Thành Kiệt phát biểu:
“ Mục đích của TPP là gì, là phát triển thương mại nội vùng. Do đó các nước sẽ phải ràng buộc làm sao để cho các thành viên khác mua những sản phẩm của mình. Nếu mà đứng một cách khách quan, Hoa Kỳ là nước sản xuất ra nhiều bông sợi, mà giá thành bông sợi của họ tương đối không rẻ lắm so với các nước, vì giá nhân công họ cao các chi phí khác của họ cao.
Chính vì vậy họ phải đưa ra các chính sách làm sao để sản phẩm nông nghiệp nói chung, sản phẩm bông sợi của họ được tiêu thụ. Các bên cũng phải có sự nhượng bộ thì mới xích lại gần nhau được. Hoa Kỳ đã có nhân nhượng một chút và Việt Nam thì có các giải pháp tích cực, thí dụ hiện đang điều tra xem nhưng vật tư nào không thể mua được trong nội vùng, thì đề nghị cam kết trong bao lâu sẽ tự túc được, hoặc nếu không tự túc được thì phải mua trong nội vùng, nếu không sẽ không được hưởng lãi suất bằng 0%.”
Do nguyên tắc đàm phán của TPP là không công bố kết quả nên khó biết được các bên sẽ nhân nhượng thế nào, cho đến khi mọi việc trở nên chính thức. Ông Diệp Thành Kiệt cũng nói tới một khả năng khác mang tính nhân nhượng, theo sự hiểu biết của ông:
“Các nhà đàm phán thì cũng đang cân nhắc, nếu mà Hoa Kỳ chỉ đặt vấn đề là “yarn forward” tính từ sợi mà chấp thuận bông được nhập từ nước ngoài vào kéo sợi ở trong nước, thì tôi nghĩ bài toán sẽ có thể giải quyết trong vòng từ ba đến năm năm. Còn nếu phải giải quyết kể cả bông thì tôi cho là  khó khả thi vì trồng bông thì không phải chỉ vấn đề vốn liếng, thiết bị mà còn về giống thổ nhưỡng mà trồng bông thì trước đây Việt Nam đã tổ chức trồng bông nhiều lần rồi nhưng mà thực sự không có vùng nào trồng bông thành công hết.”
Theo các chuyên gia rất nhiều khi các thỏa thuận kinh tế lại dựa trên những trao đổi chính trị, từ nhân quyền cho tới một sự mở rộng ảnh hưởng nhất định nào đó. Nếu như dệt may Việt Nam không hội đủ điều kiện để hưởng lợi từ hiệp định TPP mai hậu, thì ngành công nghiệp thu hút 1,5 triệu công nhân này phải tự bằng lòng với việc đứng vũng và có tăng trưởng trong những năm kinh tế suy giảm vừa qua, dù trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may hơn 17 tỷ USD, phần giá trị thật mà các doanh nghiệp đem về có thể chỉ được vài tỷ USD.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/text-gar-get-do-dor-tpp-07232013071157.html

Nông sản Việt phản ứng tiêu cực với TPP

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-07-24
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Cà phê và hạt điều xuất khẩu (minh họa)
Cà phê và hạt điều xuất khẩu (minh họa)
RFA files

Nghe bài này
Ngành Nông lâm thủy sản Việt Nam được cho là “buồn nhiều vui ít” với triển vọng Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP trở thành hiện thực.
Thuận lợi và khó khăn của nông nghiệp
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP dự kiến thông qua chậm nhất vào 2014, với khả năng thiết lập khu mậu dịch tự do rộng lớn, mà nội khối đóng góp 40% GDP toàn cầu. Việt Nam ở trong số 12 quốc gia tham gia vòng đàm phán thứ 18 diễn ra từ 15-25/7 tại Kota Kinabalu thủ phủ Bang Sabah đông bộ Malaysia.
Nông lâm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch 27,5 tỷ USD năm 2012, về nguyên tắc có thể hưởng lãi suất 0% nếu xuất hàng vào thị trường mở của TPP bao gồm 12 nước mà ngoài Việt Nam còn có Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Canada, Malaysia, Singapore, Brunei, Chi Lê, Peru, Mexico và Nhật Bản.
Phạm vi bài này chỉ tìm hiểu về tác động mở cửa thị trường theo TPP liên quan đến sản phẩm nông nghiệp. Theo đó cái lợi về việc mở rộng xuất khẩu nông sản nhờ lãi suất 0% có thể phải trả giá bằng việc các ngành chăn nuôi, thực phẩm chế biến, sản xuất sữa…. sẽ gặp rất nhiều khó khăn với khả năng Việt Nam cũng phải mở cửa thị trường áp dụng lãi suất bằng 0% cho nông sản của các nước thành viên TPP. Đó là chưa nói tới một loạt thách thức mà hàng nông lâm thủy sản Việt Nam phải vượt qua để được hưởng lãi suất 0% theo TPP, chẳng hạn những qui định ngặt nghèo về bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ, an toàn vệ sinh thực phẩm, chống lao động trẻ em, chống trợ cấp và nhiều rào cản khác.
Nông lâm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch 27,5 tỷ USD,  về nguyên tắc có thể hưởng lãi suất 0% nếu xuất hàng vào thị trường mở của TPP bao gồm 12 nước mà ngoài Việt Nam còn có Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Canada.../p>
TS Võ Trí Thành, Viện phó Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ Hà Nội nhận định:
“ Để phát triển thì hội nhập là con đường tất yếu mặc dù nó chưa phải là đủ để cho phát triển bền vững được, mà phải gắn với những cải cách, gắn với những điều chỉnh cần thiết cả ở mức doanh nghiệp cả ở mức chính sách. Đấy là cái chung, nói cụ thể hơn Việt Nam và nhiều nước đang phát triển, hiểu được giá trị hội nhập, hiểu được những tác động bất lợi cả về những góc độ có thể là kinh tế vĩ mô hoặc liên quan đến vấn đề phát triển sống còn của doanh nghiệp, đàng sau là công ăn việc làm và thu nhập.”
Trưởng đoàn đàm phán của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ bà Barbara Weisel (trái) và ông Trần Quốc Khánh đại diện của Việt Nam tham dự cuộc họp báo chung tại Singapore vào ngày 13 Tháng Ba năm 2013.
Trưởng đoàn đàm phán của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ bà Barbara Weisel (trái) và ông Trần Quốc Khánh đại diện của Việt Nam tham dự cuộc họp báo chung tại Singapore vào ngày 13 Tháng Ba năm 2013.



Theo TS Võ Trí Thành, vấn đề ở đây không phải là dừng sự hội nhập, vấn đề ở đây là Việt Nam đối với một số lĩnh vực, do trình độ phát triển chưa tốt cần có một khoảng thời gian. Bên cạnh thời gian thì cần có sự hỗ trợ nhất định từ những đối tác đi trước và phát triển hơn. Chính vì vậy trong các hiệp định thương mại quốc tế hoặc hội nhập thì bên cạnh tự do hóa, cũng có những điều khoản có thể có liên quan đến điều tạm gọi là ưu đãi thời gian hoặc quá trình phát triển với một số cam kết. TS Võ Trí Thành nhấn mạnh:
“ Tất nhiên là  phụ thuộc vào đàm phán giữa các bên, cùng với đấy còn có sự hợp tác sự hỗ trợ với các nước chậm phát triển hơn. Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển thôi, cũng phải nhớ rằng những sự ưu đãi cũng phải có thời gian. Bởi vì hội nhập phải gắn với cải cách trong nước và hội nhập cũng là một sức ép để trong nước phải đổi mới phải cải cách, nó có nhiều hàm ý ở đây chứ không đơn thuần là tồn tại, phát triển hay cạnh tranh và bị loại trừ.”
Cũng phải nhớ rằng những sự ưu đãi cũng phải có thời gian. Bởi vì hội nhập phải gắn với cải cách trong nước và hội nhập cũng là một sức ép để trong nước phải đổi mới phải cải cách, nó có nhiều hàm ý ở đây chứ không đơn thuần là tồn tại, phát triển hay cạnh tranh và bị loại trừ
xTS Võ Trí Thành/p>
TPP và nông sản
Khả năng thịt gà, thịt bò, thịt cừu, sữa của Hoa Kỳ, Úc, New Zealand tràn ngập Việt nam khi mở cửa thị trường theo thỏa thuận TPP rất hiện thực. Bởi vì với mức thuế hiện hành và giới hạn số lượng thịt nhập khẩu hàng năm mà thịt heo, thịt gà của Việt Nam đã không cạnh tranh nổi, người chăn nuôi lao đao.
Trong khi đó cà phê nhân nguyên liệu là một mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn trị giá hơn 3,6 tỷ USD. Riêng thị trường Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 460 triệu USD. Tuy vậy Hoa Kỳ hiện đang áp dụng thuế suất 0% đối với cà phê nhân nhập khẩu từ Việt Nam, do đó TPP không tạo thêm lợi ích nào cho cà phê nhân Việt Nam.
Ông Đoàn Triệu Nhạn, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Việt Nam từ Hà Nội phát biểu:
“Hiện nay tôi cho rằng thuế suất không tác động lớn lắm, vấn đề chính của chúng tôi là chất lượng có bảo đảm hay không, được khách hàng tiêu dùng chấp nhận hay không. Chất lượng cà phê Việt Nam tôi vừa nói với Bộ Công thương, xuất xứ địa lý cà phê Việt Nam cần phải đưa ra, chúng tôi cũng bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, chúng tôi nỗ lực rất nhiều rồi. Trong mấy năm vừa rồi Nhật Bản rất quan tâm chuyện này và họ đã kiểm tra kỹ và thông báo là cà phê Việt Nam có thể đạt được và không có vấn đề gì lớn.”
Nhưng sự kiện Việt Nam tỏ rõ quyết tâm tham gia TPP có thể mang một ý nghĩa đặc biệt. Theo Reuters TPP là một phần chiến lược trở lại Châu Á của chính quyền Obama để quân bình với thế lực đang lên trong khu vực là Trung Quốc.

Trong khi đó Việt Nam có 378.000 ha trồng điều và chỉ đủ cung cấp 50% cho nhu cầu xuất khẩu, phần còn lại phải nhập khẩu điều thô từ các nước khác để chế biến. Theo ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội điều Việt Nam thị trường TPP rộng lớn với thuế nhập khẩu bằng 0% sẽ giúp mở rộng diện tích cây điều, tăng sản lượng xuất khẩu hạt điều chế biến hoàn toàn xuất xứ Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu hạt điều chế biến của Việt Nam năm 2012 trị giá 1,45 tỷ USD. Ông Nguyễn Đức Thanh phát biểu:
“ Xuất khẩu hạt điều Việt Nam vào các nơi nếu thuế suất về 0% là một điều tốt cho ngành điều, cũng là một cơ hội để ngành điều phát triển mạnh hơn. Đương nhiên, dù có hiệp định này hay không thì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng cùng đòi hỏi của thị trường của người tiêu dùng càng ngày càng lớn là chuyện bình thường, chứ không phải là áp lực gì lớn lắm.”
Ở Việt Nam cho tới nay giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp tỏ ra thận trọng với việc mở cửa thị trường dự kiến theo hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Bên cạnh những thuận lợi là đầy rẫy thử thách khó khăn trong thỏa thuận mậu dịch tự do theo tinh thần đàm phán Hiệp định này.
Nhưng sự kiện Việt Nam tỏ rõ quyết tâm tham gia TPP có thể mang một ý nghĩa đặc biệt. Theo Reuters TPP là một phần chiến lược trở lại Châu Á của chính quyền Obama để quân bình với thế lực đang lên trong khu vực là Trung Quốc.

zondag 15 april 2012

87% dân Việt Nam muốn kinh tế thị trường

April 15, 2012
Quan chức nhà nước cũng vậy



HÀ NỘI (NV) -Một cuộc thăm dò tại Việt Nam cho thấy hầu hết dân Việt Nam, kể cả viên chức nhà nước, đều mong muốn một nền kinh tế thị trường thay vì bất kỳ một mô hình nào khác.


Dây chuyền sản xuất cà phê hòa tan của công ty cà phê lớn nhất Việt Nam, Trung Nguyên, ở tỉnh Bắc Giang. Một năm Việt Nam xuất cảng khoảng 1.2 triệu tấn cà phê hột. Ðại đa số người Việt Nam muốn đất nước đi theo “kinh tế thị trường” thật sự. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Tỷ lệ 87% ưa chuộng thị trường được đưa ra trong một bản khảo cứu công bố ở Hà Nội hôm Thứ Sáu có tựa đề “Báo cáo nghiên cứu về cảm nhận của người dân Việt Nam về vai trò của nhà nước và thị trường ở Việt Nam (CAMS 2011).”

Nhóm tổ chức nghiên cứu đã mở cuộc thăm dò dư luận qua cuộc phỏng vấn 1,000 công ty lớn nhỏ, 500 cán bộ nhà nước, 100 đại diện báo chí và nhân viên các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Ðây là đợt thăm dò dư luận do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Ðại Sứ Quán Ireland tại Việt Nam tổ chức.

Theo những gì thấy tường thuật trên một số tờ báo như Tuổi Trẻ, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, Lao Ðộng, thì “có đến 87% người trong tổng số hơn 1,000 người tham gia trả lời cho rằng mô hình kinh tế thị trường ưu việt hơn bất kỳ mô hình kinh tế nào khác.”

Ngược lại, “chỉ có gần 7% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước ưu việt hơn mô hình kinh tế thị trường và hơn 6% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước hay thị trường không quan trọng.”

Ðây là một sự trả lời rõ rệt cho nhà cầm quyền đang thực hiện các kế hoạch “kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” là người ta “ủng hộ mạnh mẽ đối với mô hình kinh tế thị trường.”

Bản tin tường thuật của TBKTVN phân tích ra cho thấy “Nhóm cơ quan báo chí có tỷ lệ ủng hộ cao nhất với 97% cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt, tiếp theo là nhóm cơ quan chính phủ, các bộ, ngành và UBND và các sở ngành cấp tỉnh (92%), nhóm doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) và các cơ quan đảng ở trung ương là tương tự nhau (86-87%).Tuy nhiên, chỉ có 75% số người trả lời của nhóm là đại biểu Quốc Hội và người làm việc tại các cơ quan của Quốc Hội cho rằng mô hình kinh tế thị trường là ưu việt, trong khi cũng chỉ có 83% số người thuộc nhóm doanh nghiệp gồm tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài ở Việt Nam cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt; thấp hơn mức trung bình và thấp hơn khá nhiều so với nhóm thuộc kinh tế nhà nước.”

Chẳng vậy, bản khảo cứu chỉ ra cho thấy cứ 4 người thì chỉ có một người là tin tưởng “nên kinh tế Việt Nam cơ bản là nền kinh tế thị trường.”

Theo bà Phạm Chi Lan, một thành viên của nhóm nghiên cứu, có thể là phần lớn hàng hóa thiết yếu tiêu thụ bởi các hộ gia đình chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh độc quyền, thống lĩnh thị trường (như điện, xăng dầu, ngoại tệ, vàng, đất đai, các nguyên liệu cơ bản, dịch vụ tài chính, hàng không, đường sắt...) nên người dân lo ngại về hệ quả xấu, nếu nhà nước không có sự kiểm soát tốt. Ðây là một nghịch lý vì người dân quá điêu đứng bởi lạm phát nên lại muốn nhà nước can thiệp để “bình ổn giá.”

“Cảm nhận của người dân ở phần này của cuộc điều tra một lần nữa phản ánh bức tranh nửa sáng nửa tối của hệ thống kinh tế Việt Nam, trong đó vai trò của nhà nước và thị trường trong các hoạt động kinh doanh và trong việc quyết định giá cả không rạch ròi.

“Chính do thực tế nhà nước còn trực tiếp tham gia hoặc can thiệp vào rất nhiều hoạt động kinh doanh, quyết định giá cả của nhiều mặt hàng lớn, nên người dân nhìn nhận không rõ vai trò của thị trường, và tin vào sức mạnh của nhà nước khi can thiệp vào giá cả có thể bảo vệ cho mình khỏi những bất lợi do biến động thị trường.” Bản tin của TBKTVN viết. “Mặt khác, với hệ thống thông tin còn kém minh bạch hiện nay, phần lớn người dân cũng không có nhiều thông tin để biết được nguyên nhân cốt lõi của những biến động thị trường gây bất lợi cho họ là từ đâu, trong khi số lớn các quan chức nhà nước và truyền thông thường che giấu những khiếm khuyết của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong các hoạt động kinh doanh và đổ trách nhiệm cho thị trường về những biến động tiêu cực.”

Theo nhóm nghiên cứu kết luận “rõ ràng sự can thiệp của nhà nước theo cách đã làm chưa hẳn đã là phương thuốc đúng và hiệu lực, hiệu quả để ổn định thị trường.”

Báo Lao Ðộng dẫn lời ông Nguyễn Minh Phong, một chuyên viên kinh tế, cho rằng phần lớn các công ty quốc doanh nắm độc quyền nhiều ngành từ sản xuất đến thương mại là “không chấp nhận cạnh tranh” và tiếp tục để quốc doanh “lũng đoạn giá cả.”
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=147371&zoneid=1