Posts tonen met het label bolero. Alle posts tonen
Posts tonen met het label bolero. Alle posts tonen

zaterdag 13 september 2014

María Grever, phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ bolero

THỨ BẢY 02 THÁNG TÁM 2014
María Grever, phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ bolero
Bà María Cristina García Cepeda và ông Gabriel Abaroa, thành viên ban giám khảo giải thi sáng tác Beca María Grever - DR
Bà María Cristina García Cepeda và ông Gabriel Abaroa, thành viên ban giám khảo giải thi sáng tác Beca María Grever - DR
Tuấn Thảo
Làng nhạc Mêhicô không thiếu gì các giọng ca nữ chuyên hát nhạc bolero. Nhưng trên lãnh vực sáng tác, số phụ nữ chuyên viết theo thể điệu này có thể được đếm trên đầu ngón tay. Trên thế giới, hầu như ai cũng biết đến bài Besame Mucho. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nổi tiếng nhờ sáng tác bolero không phải là bà Consuelo Velásquez, mà chính là tác giả María Grever.
Tên thật là María Joaquina de la Portilla Torres (sinh năm 1885 - mất năm 1951), bà chào đời tại bang Guanajuato, nằm cách thủ đô Mêhicô khoảng 100 cây số về phía Tây Bắc. Năm lên sáu, bà theo bố mẹ rời Mêhicô về sống ở quê cha là thành phố Sevilla. Trong gần một thập niên liền, bà sống với gia đình bên nội ở Tây Ban Nha.
Từ nhỏ, bà María đã có năng khiếu âm nhạc, lỗ tai thính đến nổi (perfect pitch), mỗi lần nghe trên đài phát thanh một khúc nhạc, bà có thể ngồi vào đàn piano, đánh lại giai điệu mà không hề sai một nốt. Giai thoại kể rằng, thời còn bé, bà viết khúc đàn dương cầm đầu tiên, năm mới lên bốn, còn bản nhạc hoàn chỉnh đầu tay bà viết vào năm 16 tuổi (bài hát A Una Ola). Bài hát sau đó được ghi âm phát hành, nhờ vậy mà bà María mới lập kỷ lục với ba triệu bản bán chạy cho ca khúc đầu tay.
Thấy bà có năng khiếu, cho nên ông bố mới gửi con sang Pháp tầm sư học đạo. Bà María sống ở Paris trong vòng hai năm học đàn với nhiều thầy, trong đó có Franz Lenhard và nhất là nhạc sĩ nổi tiếng Claude Debussy. Nhà soạn nhạc người Pháp dạy cho bà cách viết tổ khúc và tiểu phẩm, kể cả các bản có lời và không lời cantate và sonate, cách dùng hợp âm ba nốt …
Ảnh hưởng của Debussy in đậm các sáng tác đầu đời của María. Có lẽ cũng vì thế mà những bài hát đầu tiên, viết cho các giọng ca tenor cổ điển, được bà sáng tác theo thể điệu habanera, chứ không phải là bolero. Đến khi thành danh, bà mới chủ yếu viết nhạc bolero từ những năm 1930 trở đi, khi dòng nhạc này trở thành hẳn một phong trào sáng tác cực thịnh tại Mêhicô.
Sau một thời gian ăn học tại Pháp, bà María trở về Mêhicô, nhưng thay khởi đầu sự nghiệp ở quê mẹ, bà lại sang New York lập nghiệp từ năm 1916, sau khi lấy chồng người Mỹ (ông Leo A. Grever). Bà chọn tên của chồng làm nghệ danh, và chủ yếu làm việc cho các hãng phim Hollywood (Paramount Pictures và 20th Century Fox), qua việc sáng tác ca khúc và nhạc phim cho hai nhạc trưởng Stanley Adams và Irving Caesar, trong đó có một số bản hoà tấu dùng làm nhạc nền sau này lại trở nên ăn khách một khi được đặt thêm lời.
Đột ngột qua đời vào năm 66 tuổi (1951) chỉ vài tháng sau khi lâm bạo bệnh, María Grever lúc sinh tiền đã viết hơn 800 bản nhạc, trong đó có hơn một nửa là bolero, nổi danh từ đầu những năm 1930 tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Nam Mỹ. Chỉ riêng trong số 400 bài bolero do bà sáng tác, có ít nhất là 10 bài được xếp vào hàng kinh điển ở Châu Mỹ La Tinh.
Ca khúc đầu tiên ăn khách trên thị trường quốc tế là nhạc phẩm Júrame (Hãy thề với anh) mà sau này cả Luis Miguel và Andrea Bocelli đều có ghi âm lại, nhưng không qua mặt phiên bản chính gốc ghi âm vào năm 1927 của José Mojica, danh ca tenor người Mêhicô, hoà quyện hai thể điệu habanera với bolero.
Trong vòng hai thập niên liền, María Grever sáng tác nhiều ca khúc ăn khách, nhạc phẩm Volveré trong tiếng Anh trở thành I Will Return, bài Munequita Linda được chuyển ngữ thành Magic Is the Moonlight. Bản nhạc này ban đầu được viết theo điệu bolero, có tiểu tựa là Te Quiero Dijiste, nhưng sau này thường được phối theo điệu cha cha. Ngoài ra còn phải kể đến tác phẩm Cuando Vuelva a tu Lado, nổi danh khắp thế giới nhờ phiên bản tiếng Anh là "What A Difference A Day Makes".
Vào năm 1959, diva của làng nhạc jazz Dinah Washington phá kỷ lục số bán với bài hát này, đoạt giải Grammy dành cho ca khúc xuất sắc nhất trong năm. Bản nhạc trở thành bài hát tủ (signature song) gắn liền với tên tuổi của thần tượng Dinah Washington, nhưng lối hoà âm cool jazz của giai điệu làm cho nhiều người quên hẳn đi nguồn gốc La Tinh của bài hát nguyên tác.
Sinh thời, ngoài cái tài soạn nhạc bolero, María Grever còn nổi tiếng nhờ lối sáng tác phong phú đa dạng, cho dù đa số các bản nhạc đều được viết theo cùng một cung thể. Sự tiếp cận với nhạc jazz giúp cho bà “thoát cách” nhưng vẫn giữ được cái cốt La Tinh. Những giai điệu hoà quyện cả điệu thứ lẫn điệu trưởng, bà viết điệu thứ thoáng buồn, chứ không bi lụy sầu não, còn điệu trưởng thì rộng mở thênh thang, nghe rất thanh thản bình an.
Thành danh từ cuối những năm 1920, tức là một thập niên trước khi có hiện tượng Besame Mucho của Consuelo Velásquez (1941), bà María Grever được người châu Mỹ La Tinh tôn vinh thành một trong những tác giả hàng đầu. Tên của bà được đặt cho một giải thưởng sáng tác âm nhạc thường niên tại Mêhicô. Dòng nhạc La Tinh nâng bà lên một vị trí xứng đáng với tầm vóc sự nghiệp, vì từ lúc sinh tiền, bà María Grever từng được công nhận là phụ nữ đầu tiên nổi tiếng nhờ soạn nhạc bolero kinh điển.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140802-maria-grever-phu-nu-dau-tien-viet-nhac-bolero

Bolero với danh ca Chilê Lucho Gatica

THỨ SÁU 22 THÁNG TÁM 2014
Bolero Gatica, tập nhạc cuối đời đam mê kiếp người
Tuấn Thảo
Người Mêhicô tôn vinh ông hoàng Javier Solis, dân Argentina sùng bái thần tượng Carlos Gardel. Người Chilê thì đặc biệt hâm mộ giọng ca của Lucho Gatica. Sự nghiệp của ông kéo dài trong bốn thập niên, với gần 800 ca khúc ghi âm trong phòng thâu hay trên sân khấu, trong đó có rất nhiều bản nhạc bolero thần sầu.
Lucho Gatica là một trong những giọng ca ăn khách tại châu Mỹ La Tinh, trong giai đoạn cực thịnh của dòng nhạc trữ tình. Sau hơn một thập niên giải nghệ, ông bất ngờ xuất hiện trở lại phòng ghi âm dù rằng ông đã ngoài 80 tuổi. Đầu năm 2014, Lucho Gatica trình làng tập nhạc Historia de un Amor (Chuyện một mối tình) bao gồm các tình khúc La Tinh kinh điển, tất cả đều được ghi âm dưới dạng song ca, được hoà âm phối khí lại theo phong cách mới và tập hợp nhiều tên tuổi nghệ sĩ đang ăn khách hiện thời.
Tên thật là Luis Enrique Gatica Silva, ông sinh trưởng tại vùng Rancagua, ở Chilê in. Từ nhỏ, ông học nhạc lý ở trường dòng tu Hermanos Maristas (Frères Maristes : Huynh đệ thuộc về Đức Mẹ Maria do tu sĩ người Pháp Marcellin Champagnat sáng lập). Cùng với người anh ruột, Lucho Gatica đoạt giải nhất nhân một kỳ liên hoan ca nhạc địa phương, nhờ vậy mà ghi âm bài hát đầu tay cho đài phát thanh Rancagua.
Sau một thời gian lưu diễn, Lucho Gatica ký hợp đồng ghi âm đầu tiên năm ông 23 tuổi, thành danh liên tục tại Chilê nhờ một loạt ca khúc bolero, trong đó có các bản như Me Importas Tú (1951), Contigo en la Distancia (1952), Besame Mucho (1953), Sinceridad (1954). Giọng ca của Lucho Gatica bén duyên với dòng nhạc bolero vào lúc mà thể điệu này đang trỗi dậy tại châu Mỹ La tinh.
Rất nhiều nghệ sĩ thời bấy giờ chuyển từ việc biểu diễn tango sang lãnh vực hát nhạc bolero, trong số này có ca sĩ người Cuba Olga Guillot, danh ca người Argentina Leo Marini, ca sĩ Elvira Ríos của Mêhicô hay Bobby Capó người Puerto Rico. Mỗi người một cõi, nhưng sự hưởng ứng nhiệt tình của giới nghệ sĩ từ khắp nơi tạo ra một phong trào rộng rãi, giúp cho dòng nhạc bolero trở nên cực thịnh lấn lướt hẳn các làn điệu tango và paso doble, thịnh hành trong vòng hai thập niên trước đó.
Trên đà thành công, Lucho Gatica rời Chilê để sang lập nghiệp tại Mêhicô. Ông ký hợp đồng biểu diễn và ghi âm năm ông tròn 30 tuổi, mở màn cho giai đoạn thành công thứ nhì trong sự nghiệp, nâng tên tuổi của ông lên một tầm cao hơn, thẳng tiến chinh phục thị trường quốc tế. Một trong những bản nguyên tác bolero giúp cho giọng ca của Lucho Gatica trở nên cực kỳ ăn khách là nhạc phẩm Voy a Apagar la Luz (1959), ghi âm trên cùng một tuyển tập chọn lọc gồm toàn là những bài bolero cực kỳ ăn khách như No me Platiques Más hay là Tú me Acostumbraste.
Vào thời đó, tác giả người Mêhicô Armando Manzanero khi sáng tác bài Voy a Apagar la Luz không hề nghĩ tới Lucho Gatica, nhưng phiên bản ghi âm của danh ca người Chilê có đủ sự tinh tế sắc sảo để vượt trội các phiên bản thu thanh khác. Cũng từ đó, mà bản nhạc Voy a Apagar la Luz ngẫu nhiên trở thành một trong những bài tủ, gắn liền với tên tuổi của Lucho Gatica. Mãi đến những năm gần đây, khi ca sĩ nổi tiếng của làng pop jazz Natalie Cole ghi âm tập nhạc gồm các ca khúc La Tinh kinh điển, thì lúc đó giới hâm mộ mới tìm thấy trở lại một bản bolero xứng đáng để đời
Sự nghiệp của Lucho Gatica tại Mêhicô kéo dài trong gần hai thập niên. Ông lập gia đình và có con với nữ diễn viên Mapita Cortés. Hầu hết các thành viên trong gia đình ông đều làm việc trong ngành giải trí, kể cả âm nhạc điện ảnh và truyền hình. Bản thân ông cũng từng đóng phim, dẫn dắt chương trình talkshow trên vô tuýen truyền hình. Cháu ruột của ông là Humberto Gatica sau đó nổi tiếng nhờ hợp tác sản xuất các đĩa hát của Celine Dion.
Hạnh phúc gia đình tan vỡ vào đầu những năm 1980. Sau khi ly dị, Lucho Gatica sang Hoa Kỳ tiếp tục nghiệp diễn. Nhưng giai đoạn thứ ba trong sự nghiệp của ông không gặt hái thành công như mong đợi. Vầng hào quang của Lucho Gatica bắt đầu lu mờ trước sự trỗi dậy của nhiều giọng ca mới trong đó có giọng ca đào hoa Tây Ban Nha Julio Iglesias và ông hoàng bolero của Mêhicô Luis Miguel, được xem như là những Latin Lovers hàng đầu của thập niên 1980.
Trong giai đoạn này, Lucho Gatica tiếp tục ghi âm và chủ yếu biểu diễn ở Nam Mỹ. Sức khỏe của ông ngày càng sa sút, ảnh hưởng đến chất giọng thiên phú, luyến láy trung trầm khi ông hát với giọng gió, biểu cảm có hồn nhờ những vết gẫy khàn đục khi ông hát với giọng ngực. Vào đầu những năm 1990, ông chính thức giải nghệ khi cho ra mắt tuyển tập 40 năm tình ca (40 Años Cantándole al Amor).
Tưởng chừng đã an phận, từ nay tận hưởng tuổi già, Lucho Gatica lại bất ngờ trình làng một album mới đầu năm 2014, dù ông đã gần 85 tuổi. Tập nhạc Historia de un Amor là một tuyển tập chọn lọc, bao gồm 12 bản tình ca La Tinh kinh điển. Lần này, Lucho Gatica triệu tập những giọng ca ăn khách của làng nhạc pop thời nay, trong đó có ca sĩ người Canada Michael Bublé, Laura Pausini người Ý, Nelly Furtado người gốc Bồ Đào Nha, Ricardo Montaner người Argentina.
Từ nhạc phẩm Besame Mucho cho tới Quizás Quizás, từ giai điệu Sabor A Mi cho đến Historia de un Amor, hầu hết các bản nhạc La Tinh được phối lại theo phong cách thời nay, hoà quyện các nhịp điệu bossa nova, cha cha với dòng nhạc pop jazz. Nhưng thể điệu sở trường của Lucho Gatica muôn thuở vẫn là bolero, bởi vì điệu nhạc này trước sau vẫn là tình yêu đầu đời của ông.
Có ý kiến cho rằng đây là album cuối cùng của Lucho Gatica, giọng hát của danh ca người Chilê ít còn phong độ đầy nội lực như thời còn trẻ, nhưng những tình cảm vẫn chan chứa như xưa. Một tập nhạc cuối đời, khi không ai còn mong đợi, đủ toát lên những nỗi niềm diệu vợi, đam mê trọn kiếp người.
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140822-lucho-gatica-bolero-cuoi-doi-dam-me-kiep-nguoi

Giorgos Daláras hoà quyện bolero với dân ca Hy Lạp

THỨ SÁU 12 THÁNG CHÍN 2014
Giorgos Daláras hoà quyện bolero với dân ca Hy Lạp
Danh ca Hy Lạp Giorgos Delarás ăn mừng 45 năm sự nghiệp - DR
Danh ca Hy Lạp Giorgos Delarás ăn mừng 45 năm sự nghiệp - DR
Tuấn Thảo
Năm 2014 đánh dấu 45 năm thành công sự nghiệp của danh ca người Hy Lạp Giorgos Daláras. Nổi tiếng trong làng tân nhạc từ đĩa hát đầu tay ghi âm vào năm 1969, Giorgos Daláras từng tham gia vào phong trào cách tân các làn điệu truyền thống của Hy Lạp, bắt nhịp cầu nối với dân ca vùng Balkans cũng như với dòng nhạc La Tinh, do tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ sở trường của anh.
Sinh trưởng tại thành phố cảng Pirée, thuộc vùng Attica ở phía nam thủ đô Athens, Giorgos Daláras (còn được phiên âm là Georges Dalaras hay Yórgos Daláras) lớn lên trong một gia đình nhạc sĩ. Bố anh là (Loukás Darálas) một nghệ sĩ nổi tiếng chuyên sáng tác và biểu diễn làn điệu rebetiko dân ca truyền thống Hy Lạp.
Nối nghiệp thân phụ, Giorgos vào nghề ca hát từ thuở thiếu thời. Anh trình làng album đầu tay năm anh tròn 20 tuổi. Anh ít được đào tạo bài bản ở trường lớp, mà chủ yếu học hát, học đàn với người bố, nhờ vậy mà nắm vững các ngón sở trường chơi đàn bouzouki của Hy Lạp, baglamas của Thổ Nhĩ Kỳ, hay là đàn oud của người Ả Rập. Các loại đàn luth này (lute trong tiếng Anh) có hình dáng tròn trịa như ‘‘nguyệt cầm’’, khác biệt hay chăng là ở số dây đàn (có thể lên tới 24 dây) và cung bậc quảng tám.
Trong những năm tháng đầu sự nghiệp, Giorgos Daláras đeo đuổi ngành tân nhạc, một phần có lẽ cũng vì anh sợ bị che khuất bởi tài năng chơi đàn và sáng tác của ông bố, phần khác bởi vì anh muốn thoát khỏi cái hình ảnh rập khuôn về âm nhạc Hy Lạp sau thành công vào những năm 1960 của hai bộ phim Zorba the Greek và nhất là Never on Sunday (với bài hát chủ đề Children of Piraeus).
Ít nhất là trong năm năm đầu, Giorgos Daláras hợp tác với các nhà soạn nhạc trẻ tuổi (như Stavros Kouyioumtzis, Apostolos Kaldaras, Manos Loïzos), phổ nhạc theo thơ của các tác giả đang lên thời bấy giờ (như Lefteris Papadopoulos hay Manos Elefteriou), với khá nhiều ảnh hưởng của làng tân nhạc những năm 1970 trong cách hoà âm phối khí, nhạc nhẹ nhưng phối với nhiều nhạc cụ, có đầy đủ bộ dây, bộ kèn, bộ gõ.
Vào lúc làng tân nhạc Hy Lạp đang trở nên cực thịnh, ‘’xuất khẩu’’ nhiều giọng ca sang nước ngoài, cho dù lớp nghệ sĩ này chủ yếu hát tiếng Anh hay tiếng Pháp, thì Giorgos Daláras lại quyết định bơi ngược dòng, phản lại các trào lưu thời thượng. Vào năm 26 tuổi, anh ghi âm một album gồm toàn là các điệu dân ca rebetiko nhân 50 năm ngày ra đời của dòng nhạc này tại Hy Lạp, một quyết định có thể nói là táo bạo, vì thể điệu rebetiko đang trên đà mai một, thường bị giới trẻ chê là cổ xưa lỗi thời.
Cái khéo của Giorgos Daláras là giữ nguyên cái cốt mộc mạc, cái chất đậm đà của làn điệu dân ca, nhưng phối lại với âm thanh hiện đại hơn. Lối khóac áo mới ấy giúp cho người nghệ sĩ cách tân những dòng nhạc truyền thống, nỗ lực khai phóng dân ca đương đại, giúp cho giới trẻ thành thị khám phá lại các điệu ca, điệu hò dân dã, kể cả việc đặt lại ca từ sao cho hợp với bốic ảnh xã hội thời nay.
Đến năm 1978, Giorgos Daláras trình làng một album để đời khi chuyển qua khai thác dòng nhạc La Tinh hát trong cả hai thứ tiếng Tây Ban Nha và Hy Lạp. Tuy mang chủ đề ‘’La Tinh’’, nhưng người nghệ sĩ chủ yếu đi tìm mẫu số chung giữa nền văn hóa Địa Trung Hải với các thể điệu Nam Mỹ, bắt nhịp cầu nối giữa các nhịp điệu bolero cubano, rumba flamenca của người du mục, các làn điệu huapanco hay charango của Mêhicô; với những âm hưởng đặc thù của xứ sở Hy Lạp.
Một mặt, Giorgos Daláras phối lại các tình khúc La Tinh kinh điển, mặt khác anh sáng tác nhạc Hy Lạp theo điệu bolero. Anh đưa rất nhiều nhạc khí cổ truyền của Hy Lạp vào các tình khúc La Tinh. Phiên bản của nhạc phẩm Historia de un Amor hay là tình khúc La Malaguena theo góc nhìn của danh ca Hy Lạp được phối với hạc cầm và đàn nguyệt (đàn luth), một số bản bolero tiếng Hy Lạp thì mang đậm ảnh hưởng trong cách phối hay trong cách hát chất mộc của dân ca rebetiko, tạo ra một sắc thái lạ thường quyến rũ Đông phương.
Trong thể điệu rebetiko của Hy Lạp, có hẳn hai trường phái. Đầu tiên hết là dân ca theo phong cách smyrnéiko. Lối phối khí rất đa tầng đa dạng, kết hợp đàn luth của người Ả Rập (gọi là đàn oud), vĩ cầm, đàn santouri hay kanonaki, cho thấy rõ ảnh hưởng của văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ một khi bén rễ vào Hy Lạp, cách diễn đạt thiên về các giọng nam trung cao, có âm vực sâu, quảng tám rộng.
Kế đến là dân ca theo phong cách pireotiko, chỉ đơn thuần sử dụng đàn bouzouki của người Hy Lạp, đàn nguyệt baglamas và đàn ghi ta lục huyền của Tây Ban Nha. Lối phối khí trở nên mộc mạc hơn, không uyên bác hàn lâm trong hình thức, nhưng trong nội dung ý tứ, lại rất gần với tình cảm con người. Các ca khúc viết theo thể điệu pireotiko hợp với giọng nam trung trầm và chính cũng với làn điệu này mà đàn bouzouki trở thành nhạc khí tiêu biểu nhất của Hy Lạp, không thua gì ghi ta sáu dây của Tây Ban Nha.
Chính với phong cách thứ hai của rebetiko, tức là dân ca đến từ miền duyên hải Pirée mà Giorgos Daláras sáng tác và diễn đạt các tình khúc của anh. Cho dù sau đó, anh chuyển qua thử nghiệm cọ xát với nhiều dòng nhạc khác kể cả bán cổ điển, nhưng cái cốt của dân ca Hy Lạp vẫn là cái nền tảng để cho anh kết hợp hoà quyện cả một thập niên trước khi khái niệm ‘’âm nhạc thế giới’’ (world music) chính thức ra đời.
Do ảnh hưởng của đàn luth, cho nên trong cách chơi đàn ghi ta sáu dây, nam ca sĩ Giorgos Daláras thường có sở trường đánh thêm nhiều nốt mà vẫn không không lệch điệu sai nhịp, nó tựa như cách chạm trỗ những họa tiết khắc gỗ, nốt ngắt lung lay nguyệt cầm, huyễn hoặc luyến láy âm thầm.
 
TỪ KHÓA : VĂN HÓA - NHÂN VẬT - ÂM NHẠC - TẠP CHÍ
http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140912-giorgos-dalaras

zondag 20 april 2014

Tình ca bolero : Aznavour 70 năm tay nghề, 90 năm tuổi đời

Thứ bảy 19 Tháng Tư 2014
Tình ca bolero : Aznavour thuần phục định mệnh
Charles Aznavour ăn mừng sinh nhật 90 tuổi vào tháng 5/2014 (DR)
Charles Aznavour ăn mừng sinh nhật 90 tuổi vào tháng 5/2014 (DR)
Tuấn Thảo
70 năm tay nghề, 90 năm tuổi đời. Ít có ca sĩ nào mà lại có sự nghiệp lâu dài bền vững như Charles Aznavour. Vào tháng Năm năm 2014, nam danh ca người Pháp gốc Armenia ăn mừng sinh nhật 90 tuổi có lẽ là trên sân khấu với khán giả hâm mộ, vì hiện giờ ông đang thực hiện một vòng lưu diễn quốc tế : từ Israel đến Liban, từ thủ đô Roma sang tận Ba Lan.
Trong vòng 70 năm sự nghiệp, danh ca Aznavour đã đóng khoảng 60 bộ phim và sáng tác hơn một ngàn ca khúc. Tính đến nay ông đã ghi âm trên 70 album, chưa kể đến các tuyển tập cũng như các dự án hợp tác với giới nghệ sĩ quốc tế. Danh ca Aznavour hát trong 6 thứ tiếng khác nhau, do vậy rất nhiều ca khúc ăn khách của ông đã được chuyển ngữ rất sớm, hầu như từ khi ông mới nổi danh.
Những bài hát chuyển dịch đó tiêu biểu nhất là các bản La Bohème, La Mama hay Hier Encore …. sau này lại trở thành những bài tủ của làng nhạc Anh Mỹ hay của dòng nhạc La Tinh. Nói như vậy có nghĩa là danh ca Aznavour có công đóng góp để làm giàu thư viện âm nhạc, không chỉ riêng gì của Pháp mà còn ở tầm mức quốc tế.
Do bộ vựng tập các tình khúc của Aznavour khá phong phú dồi dào, cho nên một chương trình với thời lượng giới hạn rất khó thể nào mà phác họa được tất cả các nét tiêu biểu của một ngòi bút sáng tác. Góc vườn âm nhạc của đài RFI chủ yếu nói về các bài hát của Aznavour sáng tác hay chuyển thể theo điệu bolero, trong đó có nhạc phẩm Mourir d’Aimer, tiếng Tây Ban Nha là Morir de Amor tạm dịch là Thà chết vì yêu.
Vách đời trơn tru
Thuyền ta trôi dạt
Định mệnh đắm chìm
Tha thiết vì yêu

Bao lần nguyền rủa
Truyền kiếp vô tình
Cho ta thêm tội
Chuốc lỗi vào thân

Đầu thu mái chớm
Thương tóc còn xuân
Thà yêu đến tận
Vực thẳm hy sinh

Cứ thương cho dù
Tan nát hình hài
Đặt dấu chấm hết
Đành chết vì yêu

Nhạc phẩm Mourir d’Aimer do Aznavour sáng tác vào năm 1971 kể lại một câu chuyện có thật. Đó là câu chuyện tình éo le ngang trái giữa một cậu học trò 16 tuổi với một nữ giáo viên khoa văn 32 tuổi (Gabrielle Russier). Bị kết án về tội dụ dỗ trẻ vị thành niên, cô Gabrielle bị đuổi việc rồi tự kết liễu cuộc đời do không còn chịu đựng nổi búa rìu dư luận, áp lực của xã hội.
Vụ án đã làm chấn động dư luận thời bấy giờ, có ít nhất là 6 bài hát được viết về đề tài này và câu chuyện đã được đưa lên màn bạc hai lần trong bộ phim truyện cùng tên. Một khi được chuyển dịch sang tiếng Tây Ban Nha, bài Morir de Amor trở thành một ca khúc bất hủ của dòng nhạc La tinh, phối theo điệu bolero cubano của người Cuba hay điệu rumba flamenca của người du mục.
Trong quyển sách mang tựa đề Le Destin Apprivoisé tạm dịch là Thuần phục Định Mệnh, hai tác giả Daniel Pantchenko và Marc Robine cho rằng do sự nghiệp của Aznavour trải dài trên nhiều thập niên, cho nên nhiều thế hệ người Pháp có cảm tưởng là họ đã lớn lên với các bài hát của ông. Một số ca khúc của Aznavour cũng phản ánh những biến đổi trong đời sống, hay nói cho đúng hơn là phản ánh quan niệm của dư luận của mỗi thời về các đề tài xã hội như quan hệ đồng tính, chăn gối ngoại tình, hạnh phúc đôi lứa, cuộc sống gia đình …
Dòng nhạc của Aznavour đậm chất hoài niệm, dù là để nói về kiếp lãng tử phong trần, nếp sống đạm bạc mà phóng khoáng của giới văn nghệ sĩ hay đơn thuần hơn nữa là sự hoài niệm về một thời đã đánh mất, tiêu biểu qua câu mở đầu của bài La Bohème : Tôi nói về một thời mà lứa tuổi hai mươi chưa bao giờ biết tới, hoặc là bản nhạc Que c’est triste Venise, tiếng Tây Ban Nha là Venecia Sin Ti có những câu :
Venise sao buồn quá
Khi tình yêu vừa chết
Giữa khung trời nhạt nhoà
Bao kỷ niệm đã hết

Chầm chậm một mái chèo
Tiếng thuyền khua sóng lặng
Càng trống trải âm thầm
Trong nhịp hồn hoang vắng

Vĩnh biệt bầy bồ câu
Thở than một chiếc cầu
Venise giờ buồn đau
Tình chết tự thuở nào

Bản nhạc Que c’est triste Venise được viết vào năm 1964 tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ, nhưng vẫn tiếp tục được thu đi thu lại vì bài này gần đây được tái bản trên khá nhiều album của các nghệ sĩ La Tinh từ Carlos Javier Beltran đến Diego Verdaguer. Một bản nhạc khác cũng do Aznavour sáng tác vào năm 1964, được chuyển thể theo điệu bolero là nhạc phẩm Hier Encore (có nghĩa là Mới hôm qua), Yesterday When I was Young trong tiếng Anh, Ayer Aún trong tiếng Tây Ban Nha. Bài hát này được chọn làm tựa cho một chương trình truyền hình hiện giờ của Pháp, qua đó giới nghệ sĩ trẻ thời này ôn lại tủ nhạc gồm những tình khúc bất tử của làng nhạc Pháp.
Thành công rực rỡ trong sự nghiệp của Aznavour làm cho nhiều người quên rằng nam danh ca lúc mới vào nghề đã gặp rất nhiều khó khăn và bị nhiều người chỉ trích. Tướng mạo không bảnh trai, giọng ca hơi khàn đục hoàn toàn không đúng với hai tiêu chuẩn "thanh và sắc" của giới ca sĩ những năm 1950. Aznavour chỉ nổi danh vào đầu thập niên 1960 sau khi ông quyết định tự bỏ tiền một mình ghi âm bài hát Je me Voyais Déjà sau khi nam danh ca số một thời bấy giờ là Yves Montand từ chối thâu bản nhạc này.
Sau này, Aznavour cho biết là ông phải cảm ơn những người đã không ngớt lời chỉ trích ông cũng như ông phải cảm ơn cho bao lần bị khước từ vì đó là động lực buộc ông phải có ý chí phấn đấu. Thành danh khá trễ trong làng nhạc vì mãi đến năm 36 tuổi, ông mới có bài hát ăn khách đầu tiên sau hơn 15 năm tay nghề, Aznavour dù bơi ngược dòng nhưng vẫn đến đích, kẻ đến sau mà lại về đầu. Có té ngã thật đau thì mới học cách vươn lên, chỉ có mồ hôi của ý chí mới giúp ông thuần phục định mệnh.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20140419-aznavour-theo-dieu-bolero

zondag 4 augustus 2013

Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối

Thứ bảy 06 Tháng Tư 2013
Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Tuấn Thảo
Trong làng nhạc Tây Ban Nha, tình khúc Historia de un Amor, tựa tiếng Việt là Chuyện tình yêu đã trở thành khuôn mẫu nếu không nói là kinh điển của dòng nhạc bolero. Theo Hiệp hội các tác giả Panama, bài hát này tính đến nay đã có hơn hai ngàn phiên bản (cover), chiếm hạng đầu trong số các giai điệu La Tinh, đứng hàng thứ sáu trong số các ca khúc quốc tế được ghi âm lại nhiều nhất.
Historia de un Amor có đến hơn hai ngàn phiên bản trong hàng chục thứ tiếng. Do thời lượng chương trình có giới hạn, nên hôm nay RFI mời quý thính giả và các bạn thưởng thức một số bài tiêu biểu nhất. Gần đây nhất có phiên bản của ban nhạc người Ý Il Volo, hoà âm ca khúc này theo lối bán cổ điển. Ca sĩ người Pháp Karen Ruimy thì chuyển bài này sang hướng flamenco kết hợp với tango mới.
Ca khúc tiếng Pháp của Dalida cũng vừa được hoà âm lại trong khi phiên bản của Guadalupe Pineda & Los Tres Ases lại thuần chất Trung Mỹ nhất. Ông hoàng Luis Miguel của dòng nhạc bolero là một trong những giọng ca thể hiện thành công nhất Historia de un Amor. RFI mời các bạn khám phá bài này dưới dạng song ca ảo, kết hợp phiên bản tiếng Việt với giọng ca Bằng Kiều và phiên bản Tây Ban Nha với tiếng hát Luis Miguel.
Nhạc phẩm Historia de un Amor ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, dưới ngòi bút của tác giả Carlos Eleta Almaran. Ông sinh năm 1918 tại Panama trong một gia đình giàu có gốc Tây Ban Nha. Thân phụ của ông làm ăn phát đạt nhờ nghề kinh doanh thuốc lá. Vì là con trai cả (trưởng nam) nên Carlos được đặt tên giống hệt như bố, còn đứa em trai (sinh năm 1921) thì mang tên của ông ngoại là Fernando. Thời niên thiếu, hai anh em được gia đình đưa về quê nội là Malaga (Tây Ban Nha) học nội trú, cấp phổ thông. Lên đến đại học, cả hai được gửi sang Mỹ đào tạo.
Sau 4 năm du học, Carlos thi đỗ bằng quản trị kinh doanh, còn Fernando thì tốt nghiệp khoa hành chính. Trở về Panama, hai anh em nối nghiệp cha, điều hành công ty gia đình và các nhà máy sản xuất thuốc lá. Vào đầu những năm 1960, hai anh em thành lập đài truyền hình đầu tiên của Panama, sau đó được khuếch trương thành tập đoàn truyền thông lớn nhất của quốc gia Trung Mỹ này. Người em trai Fernando sau đó chọn sự nghiệp chính trị, ban đầu làm bộ trưởng Thương mại (1965) rồi sau đó được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng Panama. Về phần mình, Carlos Eleta Almaran tiếp tục con đường kinh doanh, nhưng lại nổi danh từ giữa những năm 1950 trở đi nhờ cái tài soạn nhạc.
Thật ra, tác giả Carlos Eleta Almaran đến với công việc soạn nhạc một cách tình cờ ngẫu nhiên. Thời còn nhỏ, ông được gia đình cho học nhạc, nhưng đàn hát chỉ được xem như là một thú tiêu khiển. Vả lại, ông xuất thân từ một gia đình giàu sang quyền thế, cho nên không cần phải sống nhờ nghề soạn nhạc. Carlos có một người bạn tên là Arturo Hassán (1911-1974), hai người quen nhau từ thưở ấu thơ, chơi thân với nhau dù cách biệt đến 7 tuổi. Nổi danh tại Panama như một nhà soạn nhạc, Arturo Hassán còn được mệnh danh là ‘‘El Chino’’ vì ông có hai dòng máu Âu-Á, thân phụ của ông là người gốc Hoa (José Hassán Chong), sinh trong một gia đình đến lập nghiệp tại Trung Mỹ từ nhiều đời trước.
Theo lời kể của tác giả Arturo Hassán, thì có một lần ông chê Carlos Eleta Almaran là một người có đầu óc thực dụng, tâm hồn quá khô khan như một nhân viên kế toán cho nên khó thể nào mà viết nhạc trữ tình lãng mạn. Bực mình trước câu nói này Carlos Eleta Almaran mới bắt đầu mò mẫm soạn nhạc rồi cho bạn mình nghe thử. Khi khám phá các sáng tác đầu tay của Carlos, tác giả Arturo Hassán phải cúi đầu bái phục. Sáng tác thử nào ngờ lại rất hay, gọi là học trò nhưng lại vượt trội bậc thầy.
Nhạc phẩm Historia de un Amor không phải là sáng tác đầu tiên của Carlos Eleta Almaran. Những ca khúc đầu tay của ông viết vào đầu những năm 1950, mang nhiều hơi hướng dân ca Trung Mỹ, ít dùng bộ gõ La Tinh như các bản nhạc thịnh hành thời bấy giờ. Mãi đến 5 năm sau, ông mới chuyển qua sáng tác nhạc bolero, giữ nguyên cấu trúc bài bản, nhưng lời lẽ cô đọng chắt lọc, ca từ thường được dùng một lần tránh lặp đi lặp lại.
Bản nhạc Historia de un Amor được phát hành vào năm 1955, nhưng được viết từ cả một năm trước đó, khi Carlos chứng kiến nỗi khổ đau tột cùng của người em trai (Fernando) khi ông biết được hung tin là vợ mình qua đời vì tai nạn. Historia de un Amor trước hết là câu chuyện của một mối tình, nói về một hoàn cảnh cá nhân, nhưng lại đạt được tầm mức phổ quát vì nó khắc họa nỗi mất mát thiệt thòi, do số phận tiền định nhiều hơn là hệ quả của sự chọn lựa. Bài hát không chọn bối cảnh cụ thể mà chỉ diễn đạt những lời thở than từ nội tâm, giai điệu sầu não, nỉ non với một chút tủi hờn oán trách làm cho con tim thêm nhức nhối vì nó đề cập đến những đổ vỡ, đứt liền trong tâm hồn của một người buộc phải ở lại.
Theo ghi chú Hiệp hội các tác giả Panama, người đầu tiên ghi âm nhạc phẩm Historia de un Amor là ca sĩ kiêm diễn viên Leo Marini, còn được mệnh danh là giọng ca thần sầu của Argentina. Bản nhạc sau đó được danh ca Libertad Lamarque, với biệt danh là Nữ hoàng Tango, ghi âm làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Dimela Al Oido quay tại Mêhicô vào năm 1956. Chưa đầy một năm sau, bản nhạc nổi tiếng trên khắp thế giới một phần vì hầu hết các ca sĩ trứ danh của dòng nhạc bolero đều chọn ca khúc này làm bài tủ (répertoire) của họ.
Phong trào này cực thịnh cho đến những năm 1965, 1966. Nhưng phần lớn cũng vì Historia de un Amor đã được chuyển dịch hàng chục thứ tiếng khác nhau : ngoài các ngôn ngữ rất thông dụng còn phải kể đến tiếng Do Thái, Ba Tư, Croatia hay tiếng Thái. Trong tiếng Việt bài từng được tác giả Anh Bằng thuộc nhóm sáng tác Lê Minh Bằng chuyển ngữ thành nhạc phẩm Chuyện tình yêu với những câu mở đầu rất uớt át mà hầu như mọi người Việt Nam đều biết tới.
Được xem như là một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ Qúy của Panama (Carlos Eleta Almarán, José Luis Rodríguez Vélez, Arturo Chino Hassan, Ricardo Fábrega), tác giả Carlos Eleta Almaran tiếp tục soạn nhạc khá đều đặn, nhưng không có bài hát nào đạt đến tầm vóc kinh điển như Historia de un Amor. Hầu hết các tên tuổi lớn của làng nhạc quốc tế đều đã ghi âm bài này, Dalida và Dany Brillant trong tiếng Pháp, Luis Miguel hay Cesaria Evora trong tiếng Tây Ban Nha, Amalia Rodriguez tiếng Bồ Đào Nha, tình khúc này với hơn hai ngàn phiên bản khác nhau phá kỷ lục về số lượng ghi âm do ca khúc La Paloma tiêu biểu của dòng nhạc Habanera nắm giữ trước đây trong dòng nhạc La Tinh.
Về mặt quốc tế, Historia de un Amor chỉ đứng sau bài Yesterday của nhóm Tứ Quái The Beatles, Comme d’habitude (My Way) của nhóm sáng tác Claude François & Jacques Revaux, hay Summertime của George Gershwin. Dù được chuyển thể theo điệu nào đi chăng nữa, các phiên bản của Historia de un Amor nổi trội khi giữ được cốt cách mềm mại du dương, chứ không nhất thiết phải phối khí với nhịp điệu La Tinh.
Nhắc đến nhạc phẩm này, tác giả Arturo Hassán từng nhận xét rằng : Historia de un Amor là giai điệu quyến rũ mê hồn, đánh cắp hàng triệu trái tim. Dòng nhạc của Carlos Eleta Almaran trở nên xuất sắc khi nó diễn đạt được tính chất triệt để của tâm hồn La Tinh. Bài hát nói về cái cảnh kẻ ở người đi, nhưng lại khéo dùng một nửa (nửa còn nửa mất, nửa tối nửa sáng) để thể hiện cho sự trọn vẹn nguyên khối, dùng những chi tiết rất nhỏ để nói lên tính muôn thuở nguồn cội của tình yêu tuyệt đối.
TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa
 

zaterdag 20 juli 2013

Quizás Quizás, lan tỏa hương hoa vô hình khắc họa

Thứ sáu 19 Tháng Bẩy 2013
Quizás Quizás, lan tỏa hương hoa vô hình khắc họa
Tuấn Thảo
Âm nhạc tựa như hương hoa, ẩn chứa những cảm xúc vô hình, tiềm tàng kỷ niệm mông lung khó tả. Mùi hương say đắm như ánh mắt, quyến luyến những vòng tay để rồi lan tỏa những câu chuyện tình lãng mạn. Dù nẩy sinh trong khoảnh khắc tâm can nhưng mùi hương vẫn chắp cánh vượt thời gian, không sợ tuổi già năm tháng, mà lại suốt đời miên man.
Liên Khúc Quizás Quizás 2013
 
18/07/2013
 
 
Câu nói của tác giả Osvaldo Farrés, khi ông nói về bí quyết soạn nhạc của mình, đã trở nên bất hủ để đời, cũng như khá nhiều bản nhạc bolero mà ông đã sáng tác lúc sinh thời. Nhắc đến tác giả người Cuba Osvaldo Farrés (1902-1985), người yêu nhạc trên thế giới đều biết đến ca khúc Quizás Quizás do ông viết vào năm 1947.
Có nhiều nguồn ghi chép sai một chi tiết quan trọng khi cho rằng bài Quizás Quizás là một bản mambo nổi tiếng. Thật ra, theo ông Radamés Giró, người đã soạn quyển Tự điển Bách khoa về Âm nhạc Cuba (Diccionario Enciclopédico de la Música en Cuba), nguyên tác của bài Quizás Quizás được viết theo thể điệu bolero. Lúc sinh tiền, Osvaldo Farrés từng được mệnh danh là ông hoàng bolero, vì trong số hơn 300 ca khúc mà ông đã cống hiến cho đời, phần lớn là những tình khúc du dương ngọt ngào, muôn thuở dạt dào làn điệu bolero.
Sinh năm 1902 tại thị trấn Quemado de Guînes, thuộc tỉnh Las Villas, bây giờ được gọi là Villa Clara, Osvaldo Farrés từ thuở thiếu thời đã có năng khiếu hội họa. Ở trường lớp, cô giáo thấy Osvaldo có tài vẽ tranh nên mới khuyên cậu học trò lên thủ đô để tầm sư học đạo. Sau cấp trung học, ông cùng với gia đình dọn nhà về thủ đô La Havana.
Theo lời khuyên của bố mẹ, ông chủ yếu học vẽ để kiếm sống và tự học đàn trong những lúc nhàn rỗi. Trước khi nổi danh là một tác giả, Osvaldo Farrés thời thanh niên đã làm đủ mọi nghề để kiếm sống : đạp xe đi giao hàng, họa sĩ vẽ tranh phong cảnh, nhân viên quầy ngân hàng, thợ lắp ráp cửa sổ, thợ chế tạo lò xo trong các xưởng sản xuất ghế nệm. Cái nghề ổn định duy nhất gần với những gì ông đã học, là nghề vẽ bích chương cho một công ty quảng cáo.
Hồi tưởng lại giai đoạn này, Osvaldo Farrés nói rằng : Ông chưa bao giờ nghĩ tới chuyện trở thành một nhà soạn nhạc, huống chi tưởng tượng rằng một ngày nào đó, ông có thể hái ra tiền, có được một cuộc sống sung túc dư giả, chỉ nhờ thành công trong sự nghiệp sáng tác. Điều đó giải thích vì sao tác giả người Cuba này nổi danh trễ hơn so với các đồng nghiệp cùng trang lứa.
Vận may đến với Osvaldo Farrés vào năm 1937, lúc đó ông đã ngoài 35 tuổi. Vào thời ấy, một hiệu bia nổi tiếng cần một đoạn nhạc để làm quảng cáo trên đài phát thanh thủ đô. Người vẽ bích chương quảng cáo không ai nào khác ngoài Osvaldo Farrés, cho nên ông mới đề nghị công ty nhà sử dụng một khúc nhạc của ông để làm nhạc hiệu quảng cáo. Bản nhạc Mis Cinco Hijos, soạn theo nhịp điệu guajira, một thể loại dân ca miền đông Cuba, trở nên ăn khách nhờ được phát sóng nhiều lần trên đài phát thanh thủ đô.
Cũng từ đó mà cái tài soạn giai điệu của nhạc sĩ Osvaldo Farrés lọt vào tai của các nhà sản xuất. Từ đầu những năm 1940 trở đi, ông bắt đầu nổi danh nhờ sáng tác nhiều ca khúc cho giới nghệ sĩ tên tuổi. Tiêu biểu nhất cho giai đoạn này có bài Acércate Más, cũng là một bản nhạc nổi tiếng ở châu Mỹ La Tinh.
Sông có khúc, người có lúc. Năm 1943, tức cách đây đúng 70 năm, là thời điểm định mệnh của một sự nghiệp sáng tác. Vào thời đó, nhà soạn nhạc Osvaldo Farrés chấp bút viết bài Toda Una Vida (Trọn một đời người), một trong những bài kinh điển nhất của dòng nhạc bolero.
Theo nhà nghiên cứu âm nhạc Cristóbal Díaz Ayala, tuy Osvaldo Farrés không được đào tạo bài bản, không tinh thông nhạc lý, tức là ông không biết đọc và ghi chép nốt nhạc, nhưng ngược lại ông có một lỗ tai khác thường. Ông sáng tác bằng cách mò mẫm, ngân nga một giai điệu, để rồi thu vào máy ghi âm, nhờ người khác (thường là nhạc sĩ Fernando Mulens) có kiến thức âm nhạc, ghi chép lại từng nốt trên các bản dàn bè.
Osvaldo Farrés biến sở đoản thành sở trường : ca từ mộc mạc trong sáng thường được viết dưới dạng đối thoại trực tiếp, ông đặt mình vào tư thế của một người đàn ông tỏ tình vuốt ve, mơn trớn người yêu. Người khác sáng tác nhạc bolero bài bản cúng cụ. Osvaldo soạn ca khúc để đánh trúng tim đen người nghe. Ông nén từng câu, vuốt từng chữ như đang ôm ấp tình nhân. Cảm giác gần gũi càng hiệu quả khi người diễn đạt dùng cách hát thì thầm, thủ thỉ bên tai.
Nhờ vào sự thành công của nhạc phẩm Toda Una Vida (Trọn một đời người), mà Osvaldo Farrés trở thành tác giả độc quyền của đài phát thanh thủ đô La Havana thời bấy giờ. Từ phát thanh chuyển sang truyền hình, ông trở thành người điều khiển và dẫn dắt chương trình Bar Melódico de Osvaldo Farrés (hiểu theo nghĩa Quán nhạc du dương).
Chương trình này được phát sóng mỗi buổi tối thứ Tư hàng tuần, xen kẽ các tiết mục biểu diễn ca nhạc với các cuộc phỏng vấn giới văn nghệ sĩ trong nước cũng như ngoài nước. Trong vòng 13 năm liên tục, nhiều nghệ sĩ quốc tế tên tuổi như Josephine Baker, Sara Montiel, Nat King Cole hay Maurice Chevalier lần lượt trở thành khách mời của chương trình này.
Vào năm 1947, tác giả Osvaldo Farrés đạt đến đỉnh cao danh vọng với nhạc phẩm Quizás Quizás, cột mốc quan trọng thứ nhì trong sự nghiệp sáng tác của ông, sau nhạc phẩm Toda Una Vida. Bài hát chẳng những thành công ngay lập tức trong tiếng Tây Ban Nha mà còn thịnh hành nhờ phiên bản tiếng Anh Perhaps Perhaps Perhaps, do tác giả Joe Davis đặt lời.
Nếu như Nat King Cole thu bài này bằng tiếng Tây Ban Nha hát với giọng Mỹ, thì các ca sĩ quốc tế khác chủ yếu ghi âm bằng tiếng Anh : từ thế hệ trước như Dean Martin, Doris Day, Mari Wilson, Xavier Cugat, Mantovani, The Stargazers, Pepe Jaramillo cho đến thế hệ sau như Geri Halliwell, thành viên của nhóm Spice Girls hay Nicole Scherzinger của ban nhạc Pussycat Dolls.
Trong tiếng Pháp, tác giả Jacques Larue dùng cách chuyển ngữ tài tình, dịch thoát được cái ý mà vẫn giữ được sự gần giống trong âm điệu của ca từ. Bản nhạc Qui Sait Qui Sait hiểu theo nghĩa Nào Ai Hay Biết tuân thủ phiên âm nguyên thủy của Quizás Quizás (hiểu theo nghĩa Có lẽ, Có lẽ). Bài hát ban đầu do Luis Mariano ghi âm rồi sau đó ăn khách qua một loạt giọng hát như Maurice Chevalier, Henri Salvador, Dalida, Charles Aznavour hay Les Soeurs Étienne.
Còn trong tiếng Việt, bài có nhiều lời khác nhau. Lời Việt của nhạc phẩm mang tựa đề Sầu dĩ vãng là của tác giả Minh Trang. Còn lời Việt của bản nhạc Nào biết Nào hay, tùy theo nguồn ghi chép, lời hát được cho là của tác giả Minh Thảo hay của nhạc sĩ Phạm Duy, phóng tác từ lời ca Qui Sait, Qui Sait trong tiếng Pháp.
Với thời gian, bản nhạc Quizás Quizás chẳng những được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng kể cả tiếng Hindi, Ả Rập hay Do Thái, mà còn được phối theo nhiều thể điệu khác nhau : từ mambo đến cha cha, từ salsa đến flamenco. Người Cuba thì chủ yếu hát bài này trong điệu bolero : tiết tấu chậm rãi nhịp điệu khoan thai, phá cách theo lối thoát nhịp chứ ít có đảo phách, nhấn mạnh nhịp lẻ.
Đối với một người mà ban đầu không nghĩ rằng mình có thể sống nhờ sáng tác, một tác giả không ‘‘tinh thông’’ nhạc lý, Osvaldo Farrés lại trở thành một trong những bậc thầy của dòng nhạc bolero. Từ lúc thành danh đầu những năm 1940 cho tới lúc ông qua đời năm 2005, sau một thời gian dài sống lưu vong ở Mỹ, để chạy trốn chế độ Fidel Castro, Osvaldo Farrés vẫn được xem là tác giả người Cuba nổi tiếng nhất ở nước ngoài.
Từ nhạc phẩm Tres Palabras cho tới Quizás Quizás, từ Esta Noche o Nunca cho tới Dime Si Te vas Conmigo, tác giả Osvaldo Farrés sáng tác theo ngẫu hứng, theo linh cảm. Ông diễn đạt được cái tâm hồn La Tinh theo cách nhìn của riêng mình : tình yêu tựa như mùi hương, vô hình mà thực tại, ta có thể dùng bút vẽ để phác họa chân dung, dùng ngôn ngữ để mô tả hình hài, chứ tận đáy con tim không thể nào mà lý giải.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130719-quizas-quizas

zaterdag 13 juli 2013

Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối

Thứ bảy 06 Tháng Tư 2013
Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Tuấn Thảo
Trong làng nhạc Tây Ban Nha, tình khúc Historia de un Amor, tựa tiếng Việt là Chuyện tình yêu đã trở thành khuôn mẫu nếu không nói là kinh điển của dòng nhạc bolero. Theo Hiệp hội các tác giả Panama, bài hát này tính đến nay đã có hơn hai ngàn phiên bản (cover), chiếm hạng đầu trong số các giai điệu La Tinh, đứng hàng thứ sáu trong số các ca khúc quốc tế được ghi âm lại nhiều nhất.
Historia de un Amor có đến hơn hai ngàn phiên bản trong hàng chục thứ tiếng. Do thời lượng chương trình có giới hạn, nên hôm nay RFI mời quý thính giả và các bạn thưởng thức một số bài tiêu biểu nhất. Gần đây nhất có phiên bản của ban nhạc người Ý Il Volo, hoà âm ca khúc này theo lối bán cổ điển. Ca sĩ người Pháp Karen Ruimy thì chuyển bài này sang hướng flamenco kết hợp với tango mới.
Ca khúc tiếng Pháp của Dalida cũng vừa được hoà âm lại trong khi phiên bản của Guadalupe Pineda & Los Tres Ases lại thuần chất Trung Mỹ nhất. Ông hoàng Luis Miguel của dòng nhạc bolero là một trong những giọng ca thể hiện thành công nhất Historia de un Amor. RFI mời các bạn khám phá bài này dưới dạng song ca ảo, kết hợp phiên bản tiếng Việt với giọng ca Bằng Kiều và phiên bản Tây Ban Nha với tiếng hát Luis Miguel.
Nhạc phẩm Historia de un Amor ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, dưới ngòi bút của tác giả Carlos Eleta Almaran. Ông sinh năm 1918 tại Panama trong một gia đình giàu có gốc Tây Ban Nha. Thân phụ của ông làm ăn phát đạt nhờ nghề kinh doanh thuốc lá. Vì là con trai cả (trưởng nam) nên Carlos được đặt tên giống hệt như bố, còn đứa em trai (sinh năm 1921) thì mang tên của ông ngoại là Fernando. Thời niên thiếu, hai anh em được gia đình đưa về quê nội là Malaga (Tây Ban Nha) học nội trú, cấp phổ thông. Lên đến đại học, cả hai được gửi sang Mỹ đào tạo.
Sau 4 năm du học, Carlos thi đỗ bằng quản trị kinh doanh, còn Fernando thì tốt nghiệp khoa hành chính. Trở về Panama, hai anh em nối nghiệp cha, điều hành công ty gia đình và các nhà máy sản xuất thuốc lá. Vào đầu những năm 1960, hai anh em thành lập đài truyền hình đầu tiên của Panama, sau đó được khuếch trương thành tập đoàn truyền thông lớn nhất của quốc gia Trung Mỹ này. Người em trai Fernando sau đó chọn sự nghiệp chính trị, ban đầu làm bộ trưởng Thương mại (1965) rồi sau đó được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng Panama. Về phần mình, Carlos Eleta Almaran tiếp tục con đường kinh doanh, nhưng lại nổi danh từ giữa những năm 1950 trở đi nhờ cái tài soạn nhạc.
Thật ra, tác giả Carlos Eleta Almaran đến với công việc soạn nhạc một cách tình cờ ngẫu nhiên. Thời còn nhỏ, ông được gia đình cho học nhạc, nhưng đàn hát chỉ được xem như là một thú tiêu khiển. Vả lại, ông xuất thân từ một gia đình giàu sang quyền thế, cho nên không cần phải sống nhờ nghề soạn nhạc. Carlos có một người bạn tên là Arturo Hassán (1911-1974), hai người quen nhau từ thưở ấu thơ, chơi thân với nhau dù cách biệt đến 7 tuổi. Nổi danh tại Panama như một nhà soạn nhạc, Arturo Hassán còn được mệnh danh là ‘‘El Chino’’ vì ông có hai dòng máu Âu-Á, thân phụ của ông là người gốc Hoa (José Hassán Chong), sinh trong một gia đình đến lập nghiệp tại Trung Mỹ từ nhiều đời trước.
Theo lời kể của tác giả Arturo Hassán, thì có một lần ông chê Carlos Eleta Almaran là một người có đầu óc thực dụng, tâm hồn quá khô khan như một nhân viên kế toán cho nên khó thể nào mà viết nhạc trữ tình lãng mạn. Bực mình trước câu nói này Carlos Eleta Almaran mới bắt đầu mò mẫm soạn nhạc rồi cho bạn mình nghe thử. Khi khám phá các sáng tác đầu tay của Carlos, tác giả Arturo Hassán phải cúi đầu bái phục. Sáng tác thử nào ngờ lại rất hay, gọi là học trò nhưng lại vượt trội bậc thầy.
Nhạc phẩm Historia de un Amor không phải là sáng tác đầu tiên của Carlos Eleta Almaran. Những ca khúc đầu tay của ông viết vào đầu những năm 1950, mang nhiều hơi hướng dân ca Trung Mỹ, ít dùng bộ gõ La Tinh như các bản nhạc thịnh hành thời bấy giờ. Mãi đến 5 năm sau, ông mới chuyển qua sáng tác nhạc bolero, giữ nguyên cấu trúc bài bản, nhưng lời lẽ cô đọng chắt lọc, ca từ thường được dùng một lần tránh lặp đi lặp lại.
Bản nhạc Historia de un Amor được phát hành vào năm 1955, nhưng được viết từ cả một năm trước đó, khi Carlos chứng kiến nỗi khổ đau tột cùng của người em trai (Fernando) khi ông biết được hung tin là vợ mình qua đời vì tai nạn. Historia de un Amor trước hết là câu chuyện của một mối tình, nói về một hoàn cảnh cá nhân, nhưng lại đạt được tầm mức phổ quát vì nó khắc họa nỗi mất mát thiệt thòi, do số phận tiền định nhiều hơn là hệ quả của sự chọn lựa. Bài hát không chọn bối cảnh cụ thể mà chỉ diễn đạt những lời thở than từ nội tâm, giai điệu sầu não, nỉ non với một chút tủi hờn oán trách làm cho con tim thêm nhức nhối vì nó đề cập đến những đổ vỡ, đứt liền trong tâm hồn của một người buộc phải ở lại.
Theo ghi chú Hiệp hội các tác giả Panama, người đầu tiên ghi âm nhạc phẩm Historia de un Amor là ca sĩ kiêm diễn viên Leo Marini, còn được mệnh danh là giọng ca thần sầu của Argentina. Bản nhạc sau đó được danh ca Libertad Lamarque, với biệt danh là Nữ hoàng Tango, ghi âm làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Dimela Al Oido quay tại Mêhicô vào năm 1956. Chưa đầy một năm sau, bản nhạc nổi tiếng trên khắp thế giới một phần vì hầu hết các ca sĩ trứ danh của dòng nhạc bolero đều chọn ca khúc này làm bài tủ (répertoire) của họ.
Phong trào này cực thịnh cho đến những năm 1965, 1966. Nhưng phần lớn cũng vì Historia de un Amor đã được chuyển dịch hàng chục thứ tiếng khác nhau : ngoài các ngôn ngữ rất thông dụng còn phải kể đến tiếng Do Thái, Ba Tư, Croatia hay tiếng Thái. Trong tiếng Việt bài từng được tác giả Anh Bằng thuộc nhóm sáng tác Lê Minh Bằng chuyển ngữ thành nhạc phẩm Chuyện tình yêu với những câu mở đầu rất uớt át mà hầu như mọi người Việt Nam đều biết tới.
Được xem như là một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ Qúy của Panama (Carlos Eleta Almarán, José Luis Rodríguez Vélez, Arturo Chino Hassan, Ricardo Fábrega), tác giả Carlos Eleta Almaran tiếp tục soạn nhạc khá đều đặn, nhưng không có bài hát nào đạt đến tầm vóc kinh điển như Historia de un Amor. Hầu hết các tên tuổi lớn của làng nhạc quốc tế đều đã ghi âm bài này, Dalida và Dany Brillant trong tiếng Pháp, Luis Miguel hay Cesaria Evora trong tiếng Tây Ban Nha, Amalia Rodriguez tiếng Bồ Đào Nha, tình khúc này với hơn hai ngàn phiên bản khác nhau phá kỷ lục về số lượng ghi âm do ca khúc La Paloma tiêu biểu của dòng nhạc Habanera nắm giữ trước đây trong dòng nhạc La Tinh.
Về mặt quốc tế, Historia de un Amor chỉ đứng sau bài Yesterday của nhóm Tứ Quái The Beatles, Comme d’habitude (My Way) của nhóm sáng tác Claude François & Jacques Revaux, hay Summertime của George Gershwin. Dù được chuyển thể theo điệu nào đi chăng nữa, các phiên bản của Historia de un Amor nổi trội khi giữ được cốt cách mềm mại du dương, chứ không nhất thiết phải phối khí với nhịp điệu La Tinh.
Nhắc đến nhạc phẩm này, tác giả Arturo Hassán từng nhận xét rằng : Historia de un Amor là giai điệu quyến rũ mê hồn, đánh cắp hàng triệu trái tim. Dòng nhạc của Carlos Eleta Almaran trở nên xuất sắc khi nó diễn đạt được tính chất triệt để của tâm hồn La Tinh. Bài hát nói về cái cảnh kẻ ở người đi, nhưng lại khéo dùng một nửa (nửa còn nửa mất, nửa tối nửa sáng) để thể hiện cho sự trọn vẹn nguyên khối, dùng những chi tiết rất nhỏ để nói lên tính muôn thuở nguồn cội của tình yêu tuyệt đối.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130406-historia-de-un-amor-muon-thuo-nguon-coi-tinh-yeu-tuyet-doi