Posts tonen met het label Dalida. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Dalida. Alle posts tonen

zondag 17 november 2013

40 năm nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc) của danh ca Pháp Dalida

Thứ sáu 25 Tháng Mười 2013
Paroles Paroles : Giai thoại ly kỳ, một thuở hàn vi
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Tuấn Thảo
Năm 2013 đánh dấu 40 năm ngày ra đời của nhạc phẩm Paroles Paroles, phiên bản tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, bài từng được tác giả Phạm Duy chuyển dịch thành Những lời mê hoặc. Trong nguyên tác, đây lại là một ca khúc tiếng Ý. Nhưng giới yêu nhạc trên thế giới chủ yếu biết bài này trong tiếng Pháp, qua phần diễn đạt của ngôi sao ca nhạc Dalida với thần tượng điện ảnh Alain Delon.
Đúng 40 năm sau ngày ra đời (1973-2013), ca khúc tiếng Pháp vừa được tái bản với lối hòa âm mới và được phát hành nhân 25 năm ngày giỗ của Dalida, trên bộ toàn tập Les Diamants sont éternels (Kim cương ngời sáng muôn thuở), bao gồm tổng cộng là 25 cuộn CD. Bản nhạc tiếng Ý với tựa đề nguyên gốc là Parole Parole đã được phát hành vào năm 1972.
Nhạc sĩ Gianni Ferrio là người đã soạn ra giai điệu bài hát, còn lời ca là của hai tác giả Leo Chiosso và Giancarlo Del Re. Cả ba gương mặt này làm việc chung với nhau, hợp tác sản xuất chương trình ca nhạc nổi truyền hình quốc gia Ý (RAI). Được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1964, nhưng Teatro Dieci không đủ ăn khách để trở thành một điểm hẹn hàng tuần với khán thính giả.
Sau nhiều lần bị gián đoạn, chương trình này chính thức kết thúc vào tháng Tư năm 1972. Chính trong cái bối cảnh đó mà nhóm sáng tác Ferrio – Chiosso – Del Re mới soạn nhạc phẩm Parole Parole cho nữ danh ca Mina và Alberto Lupo, một nam diễn viên nổi tiếng của làng điện ảnh truyền hình thời bấy giờ. Nhờ vào bản song ca mà chương trình Teatro Dieci kết thúc một cách rực rỡ, sự nghiệp ca hát của Mina cũng tăng thêm một bậc. Bản song ca trở thành tình khúc ăn khách nhất nước Ý mùa hè năm 1972.
Đến tháng 10 năm 1972, Dalida quyết định ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Tác giả Jacqueline Misrahi, cũng xuất thân từ một gia đình gốc Ý sinh trưởng tại Ai Cập như Dalida, mới chấp bút soạn lời gần sát với nguyên tác tiếng Ý. Câu hỏi đặt ra vào lúc đó là người đàn ông nào sẽ ghi âm bài hát tiếng Pháp với Dalida ?
Các nhà sản xuất mới nghĩ tới một số nam diễn viên trứ danh. Dalida thì nhất quyết muốn ghi âm bài này với Alain Delon, ngôi sao màn bạc Pháp nổi tiếng nhất trên thế giới thời bấy giờ. Trong giới sản xuất, không ai tin rằng Alain Delon sẽ nhận lời, trước hết là vấn đề thù lao, kế đến nữa là lịch làm việc.
Cùng với Jean Paul Belmondo, Alain Delon là diễn viên ăn khách và sáng giá nhất từ thập niên 1960, cứ mỗi năm là có đến ít nhất bốn dự án quay phim. Vào đầu mùa thu năm 1972, Alain Delon đang bận đóng phim bên Ý (cuộn phim La Prima Notte di QuieteĐêm yên tĩnh đầu tiên của đạo diễn Valerio Zurlini). Do vậy mà các nhà sản xuất nghĩ rằng dự án ghi âm của Dalida với thần tượng điện ảnh này sẽ khó mà hoàn thành.
Điều mà không ai biết được là Dalida và Alain Delon đã quen nhau từ gần 20 năm về trước. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là vào năm 1955. Vào thời đó, Dalida chân ướt chân ráo đến Paris lập nghiệp sau khi đoạt chiếc vương miện hoa hậu Ai Cập năm 1954.
Dalida từng cho biết là cô mướn một căn hộ nhỏ bé trên con đường Jean Mermoz ở Paris quận 8, và anh bạn hàng xóm ở ngay bên cạnh không ai nào khác là Alain Delon. Dalida thành danh từ năm 1956 nhờ một loạt ca khúc ăn khách, còn Alain Delon đóng bộ phim đầu tay vào năm 1957, và chỉ thật sự nổi tiếng hai năm sau.
Theo lời kể của nhà sản xuất Eddie Barclay, người đã sáng lập hãng đĩa Barclay, thì Dalida và Alain Delon rất quý mến nhau. Một điều cũng khá dễ hiểu, vì cả hai khởi đầu sự nghiệp trong cùng một hoàn cảnh : diễn viên hay ca sĩ mới vào nghề đều khổ nhọc kiếm đồng lương, vất vả chạy show trả tiền nhà. Vì thế cho nên khi nhận được cú điện thoại của Dalida mời anh hợp tác ghi âm, Alain Delon liền nhận lời ngay.
Buổi ghi âm diễn ra trong bầu không khí ấm cúng thân tình, cả hai ngôi sao ít nói đến chuyện làm việc mà chủ yếu nhắc tới cái thuở hàn vi ban đầu. Tuy mỗi người sau đó đã chọn cho mình một hướng đi khác nhau, nhưng do từng trải cùng một hoàn cảnh, cho nên cả hai vẫn có cảm tưởng ngồi cùng một ghe, chèo cùng một thuyền.
Sau buổi ghi âm trong phòng thu vào tháng Mười năm 1972, Alain Delon chỉ có đủ thời gian để thực hiện các bức ảnh chụp với Dalida để làm hình bìa cho đĩa nhựa. Dự án quay một bộ phim ngắn với hai ngôi sao để minh họa cho ca khúc này rốt cuộc không thành. Nhưng sự hiện diện của Alain Delon, dù là ngắn ngủi chớp nhoáng, phủ lên trên ca khúc một lớp hào quang lộng lẫy.
Có nhân vật nào thời đó mà lịch lãm đào hoa hơn Alain Delon, hình tượng của người đàn ông đa tình lại càng nhấn mạnh cái ý tứ của tình nhân không chung thủy. Thời nay, việc hội tụ hai ngôi sao trên cùng một ca khúc thường là do quảng cáo tiếp thị tài tình. Thời của Dalida, đằng sau chuyện ghi âm với Alain Delon, lại có nhiều giai thoại đáng kể.
Được phát hành vào đầu năm 1973, làm ca khúc trích đoạn đầu tiên từ album thứ sáu của Dalida, nhạc phẩm Paroles Paroles phá kỷ lục số bán tại châu Âu do Giọng ca vàng Frank Sinatra nắm giữ từ năm 1966 nhờ ca khúc Strangers in the Night. Bài hát này cũng chiếm hạng đầu thị trường Nhật Bản và phá luôn kỷ lục của bài Tombe la Neige (Tuyết rơi) của Adamo.
Hàng loạt phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau lần lượt ra đời không lâu sau đó, kể cả tiếng Nhật, tiếng Đức, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ba Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ. Một số phiên bản dịch thẳng từ nguyên tác tiếng Ý. Một số khác chuyển dịch từ phiên bản tiếng Pháp và đôi khi có đến hai hoặc ba lời khác nhau như trường hợp của phiên bản tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt (khác biệt trong tiếng Việt không nằm trong câu hát mà chủ yếu ở trong lời thoại).
Nếu như trong nguyên tác, bản nhạc tiếng Ý Parole Parole đã được viết với những ý tứ hóm hĩnh hài hước, thì phiên bản tiếng Pháp lại khai thác tâm trạng mất mát buồn bã của người đàn bà, khi họ bị lừa dối đến đỗi phải đột qụy vấp ngã.
Bản song ca tiếng Ý ban đầu được viết một tiết mục sân khấu truyền hình, qua đó, một người đàn ông đào hoa nói dối một cách trơ trẽn, tìm cách dỗ ngọt người yêu với bao lời thề thốt muôn đời chung thủy, nhưng người đàn bà ở đây không hề nhẹ dạ cả tin.
Về hoàn cảnh đời tư, thì vào đầu những năm 1970, Dalida yêu nhà văn nổi tiếng Arnaud Desjardins, ông là người đã giúp phổ biến ở Pháp triết học Ấn Độ và thuyết Phật giáo Tây Tạng. Sau ba năm quan hệ tình cảm từ năm 1969 đến năm 1972, hai người rốt cuộc đành phải chia tay nhau.
Mối bất đồng đến từ việc Arnaud Desjardins đã có gia đình và ông không chịu ly hôn với vợ để sống chung với Dalida. Một thời gian sau đó, Dalida làm quen với một người đàn ông khác là nam ca sĩ trẻ tuổi Richard Stivell. Sau vài tháng quen biết lui tới, Dalida tưởng rằng cô có thể làm lại cuộc đời, nhưng để rồi khám phá ra là tình nhân của mình (Richard Stivell) cũng là một người đàn ông đã có vợ.
Buồn tình, chán nản, thất vọng, Dalida vùi đầu vào công việc. Không phải ngẫu nhiên mà trên cùng một album phát hành vào năm 1973, Dalida ghi âm nhiều ca khúc nói về nỗi sầu tương tư hay tình buồn đơn phương là nhạc phẩm Je suis malade của Serge Lama, Il venait d’avoir 18 ans cũng như bài Rien qu’un home de plus với gợi ý là Dalida lại có thêm một người đàn ông bạc nghĩa trong đời.
Còn trong nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc), Dalida hóa thân vào vai một người đàn bà bị phản bội bỏ rơi, diễn đạt ca khúc với tâm trạng cay đắng bồi hồi, lời giả dối càng ngọt bùi, nỗi ngậm ngùi càng làm cho đau nhói. Số phận oan nghiệt đang đẩy dần người đàn bà đến sát gần bờ vực thẳm tội lỗi. Cho đến cái ngày định mệnh khi Dalida tự kết liễu cuộc đời để lại một lời di chúc, một bức tâm thư : “Hãy tha thứ cho tôi, cô đơn, tôi không còn chịu đựng nổi”. Một lời tạ tội nhức nhối cho bao mất mát thiệt thòi.
 

zaterdag 26 oktober 2013

Paroles Paroles : Giai thoại ly kỳ, một thuở hàn vi của ngôi sao ca nhạc Dalida với thần tượng điện ảnh Alain Delon

Thứ sáu 25 Tháng Mười 2013
Paroles Paroles : Giai thoại ly kỳ, một thuở hàn vi
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Hình bià tập nhạc Paroles Paroles, tái bản 25 năm sau (DR)
Tuấn Thảo
Năm 2013 đánh dấu 40 năm ngày ra đời của nhạc phẩm Paroles Paroles, phiên bản tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, bài từng được tác giả Phạm Duy chuyển dịch thành Những lời mê hoặc. Trong nguyên tác, đây lại là một ca khúc tiếng Ý. Nhưng giới yêu nhạc trên thế giới chủ yếu biết bài này trong tiếng Pháp, qua phần diễn đạt của ngôi sao ca nhạc Dalida với thần tượng điện ảnh Alain Delon.
Đúng 40 năm sau ngày ra đời (1973-2013), ca khúc tiếng Pháp vừa được tái bản với lối hòa âm mới và được phát hành nhân 25 năm ngày giỗ của Dalida, trên bộ toàn tập Les Diamants sont éternels (Kim cương ngời sáng muôn thuở), bao gồm tổng cộng là 25 cuộn CD. Bản nhạc tiếng Ý với tựa đề nguyên gốc là Parole Parole đã được phát hành vào năm 1972.
Nhạc sĩ Gianni Ferrio là người đã soạn ra giai điệu bài hát, còn lời ca là của hai tác giả Leo Chiosso và Giancarlo Del Re. Cả ba gương mặt này làm việc chung với nhau, hợp tác sản xuất chương trình ca nhạc nổi truyền hình quốc gia Ý (RAI). Được phát sóng lần đầu tiên vào năm 1964, nhưng Teatro Dieci không đủ ăn khách để trở thành một điểm hẹn hàng tuần với khán thính giả.
Sau nhiều lần bị gián đoạn, chương trình này chính thức kết thúc vào tháng Tư năm 1972. Chính trong cái bối cảnh đó mà nhóm sáng tác Ferrio – Chiosso – Del Re mới soạn nhạc phẩm Parole Parole cho nữ danh ca Mina và Alberto Lupo, một nam diễn viên nổi tiếng của làng điện ảnh truyền hình thời bấy giờ. Nhờ vào bản song ca mà chương trình Teatro Dieci kết thúc một cách rực rỡ, sự nghiệp ca hát của Mina cũng tăng thêm một bậc. Bản song ca trở thành tình khúc ăn khách nhất nước Ý mùa hè năm 1972.
Đến tháng 10 năm 1972, Dalida quyết định ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Tác giả Jacqueline Misrahi, cũng xuất thân từ một gia đình gốc Ý sinh trưởng tại Ai Cập như Dalida, mới chấp bút soạn lời gần sát với nguyên tác tiếng Ý. Câu hỏi đặt ra vào lúc đó là người đàn ông nào sẽ ghi âm bài hát tiếng Pháp với Dalida ?
Các nhà sản xuất mới nghĩ tới một số nam diễn viên trứ danh. Dalida thì nhất quyết muốn ghi âm bài này với Alain Delon, ngôi sao màn bạc Pháp nổi tiếng nhất trên thế giới thời bấy giờ. Trong giới sản xuất, không ai tin rằng Alain Delon sẽ nhận lời, trước hết là vấn đề thù lao, kế đến nữa là lịch làm việc.
Cùng với Jean Paul Belmondo, Alain Delon là diễn viên ăn khách và sáng giá nhất từ thập niên 1960, cứ mỗi năm là có đến ít nhất bốn dự án quay phim. Vào đầu mùa thu năm 1972, Alain Delon đang bận đóng phim bên Ý (cuộn phim La Prima Notte di QuieteĐêm yên tĩnh đầu tiên của đạo diễn Valerio Zurlini). Do vậy mà các nhà sản xuất nghĩ rằng dự án ghi âm của Dalida với thần tượng điện ảnh này sẽ khó mà hoàn thành.
Điều mà không ai biết được là Dalida và Alain Delon đã quen nhau từ gần 20 năm về trước. Lần đầu tiên hai người gặp nhau là vào năm 1955. Vào thời đó, Dalida chân ướt chân ráo đến Paris lập nghiệp sau khi đoạt chiếc vương miện hoa hậu Ai Cập năm 1954.
Dalida từng cho biết là cô mướn một căn hộ nhỏ bé trên con đường Jean Mermoz ở Paris quận 8, và anh bạn hàng xóm ở ngay bên cạnh không ai nào khác là Alain Delon. Dalida thành danh từ năm 1956 nhờ một loạt ca khúc ăn khách, còn Alain Delon đóng bộ phim đầu tay vào năm 1957, và chỉ thật sự nổi tiếng hai năm sau.
Theo lời kể của nhà sản xuất Eddie Barclay, người đã sáng lập hãng đĩa Barclay, thì Dalida và Alain Delon rất quý mến nhau. Một điều cũng khá dễ hiểu, vì cả hai khởi đầu sự nghiệp trong cùng một hoàn cảnh : diễn viên hay ca sĩ mới vào nghề đều khổ nhọc kiếm đồng lương, vất vả chạy show trả tiền nhà. Vì thế cho nên khi nhận được cú điện thoại của Dalida mời anh hợp tác ghi âm, Alain Delon liền nhận lời ngay.
Buổi ghi âm diễn ra trong bầu không khí ấm cúng thân tình, cả hai ngôi sao ít nói đến chuyện làm việc mà chủ yếu nhắc tới cái thuở hàn vi ban đầu. Tuy mỗi người sau đó đã chọn cho mình một hướng đi khác nhau, nhưng do từng trải cùng một hoàn cảnh, cho nên cả hai vẫn có cảm tưởng ngồi cùng một ghe, chèo cùng một thuyền.
Sau buổi ghi âm trong phòng thu vào tháng Mười năm 1972, Alain Delon chỉ có đủ thời gian để thực hiện các bức ảnh chụp với Dalida để làm hình bìa cho đĩa nhựa. Dự án quay một bộ phim ngắn với hai ngôi sao để minh họa cho ca khúc này rốt cuộc không thành. Nhưng sự hiện diện của Alain Delon, dù là ngắn ngủi chớp nhoáng, phủ lên trên ca khúc một lớp hào quang lộng lẫy.
Có nhân vật nào thời đó mà lịch lãm đào hoa hơn Alain Delon, hình tượng của người đàn ông đa tình lại càng nhấn mạnh cái ý tứ của tình nhân không chung thủy. Thời nay, việc hội tụ hai ngôi sao trên cùng một ca khúc thường là do quảng cáo tiếp thị tài tình. Thời của Dalida, đằng sau chuyện ghi âm với Alain Delon, lại có nhiều giai thoại đáng kể.
Được phát hành vào đầu năm 1973, làm ca khúc trích đoạn đầu tiên từ album thứ sáu của Dalida, nhạc phẩm Paroles Paroles phá kỷ lục số bán tại châu Âu do Giọng ca vàng Frank Sinatra nắm giữ từ năm 1966 nhờ ca khúc Strangers in the Night. Bài hát này cũng chiếm hạng đầu thị trường Nhật Bản và phá luôn kỷ lục của bài Tombe la Neige (Tuyết rơi) của Adamo.
Hàng loạt phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau lần lượt ra đời không lâu sau đó, kể cả tiếng Nhật, tiếng Đức, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Ba Tư hay Thổ Nhĩ Kỳ. Một số phiên bản dịch thẳng từ nguyên tác tiếng Ý. Một số khác chuyển dịch từ phiên bản tiếng Pháp và đôi khi có đến hai hoặc ba lời khác nhau như trường hợp của phiên bản tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Việt (khác biệt trong tiếng Việt không nằm trong câu hát mà chủ yếu ở trong lời thoại).
Nếu như trong nguyên tác, bản nhạc tiếng Ý Parole Parole đã được viết với những ý tứ hóm hĩnh hài hước, thì phiên bản tiếng Pháp lại khai thác tâm trạng mất mát buồn bã của người đàn bà, khi họ bị lừa dối đến đỗi phải đột qụy vấp ngã.
Bản song ca tiếng Ý ban đầu được viết một tiết mục sân khấu truyền hình, qua đó, một người đàn ông đào hoa nói dối một cách trơ trẽn, tìm cách dỗ ngọt người yêu với bao lời thề thốt muôn đời chung thủy, nhưng người đàn bà ở đây không hề nhẹ dạ cả tin.
Về hoàn cảnh đời tư, thì vào đầu những năm 1970, Dalida yêu nhà văn nổi tiếng Arnaud Desjardins, ông là người đã giúp phổ biến ở Pháp triết học Ấn Độ và thuyết Phật giáo Tây Tạng. Sau ba năm quan hệ tình cảm từ năm 1969 đến năm 1972, hai người rốt cuộc đành phải chia tay nhau.
Mối bất đồng đến từ việc Arnaud Desjardins đã có gia đình và ông không chịu ly hôn với vợ để sống chung với Dalida. Một thời gian sau đó, Dalida làm quen với một người đàn ông khác là nam ca sĩ trẻ tuổi Richard Stivell. Sau vài tháng quen biết lui tới, Dalida tưởng rằng cô có thể làm lại cuộc đời, nhưng để rồi khám phá ra là tình nhân của mình (Richard Stivell) cũng là một người đàn ông đã có vợ.
Buồn tình, chán nản, thất vọng, Dalida vùi đầu vào công việc. Không phải ngẫu nhiên mà trên cùng một album phát hành vào năm 1973, Dalida ghi âm nhiều ca khúc nói về nỗi sầu tương tư hay tình buồn đơn phương là nhạc phẩm Je suis malade của Serge Lama, Il venait d’avoir 18 ans cũng như bài Rien qu’un home de plus với gợi ý là Dalida lại có thêm một người đàn ông bạc nghĩa trong đời.
Còn trong nhạc phẩm Paroles Paroles (Những lời mê hoặc), Dalida hóa thân vào vai một người đàn bà bị phản bội bỏ rơi, diễn đạt ca khúc với tâm trạng cay đắng bồi hồi, lời giả dối càng ngọt bùi, nỗi ngậm ngùi càng làm cho đau nhói. Số phận oan nghiệt đang đẩy dần người đàn bà đến sát gần bờ vực thẳm tội lỗi. Cho đến cái ngày định mệnh khi Dalida tự kết liễu cuộc đời để lại một lời di chúc, một bức tâm thư : “Hãy tha thứ cho tôi, cô đơn, tôi không còn chịu đựng nổi”. Một lời tạ tội nhức nhối cho bao mất mát thiệt thòi.
 
 
 

zaterdag 13 juli 2013

Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối

Thứ bảy 06 Tháng Tư 2013
Historia de un Amor : Muôn thuở nguồn cội, tình yêu tuyệt đối
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Historia de un Amor là một trong những bài hát tủ của Luis Miguel, ông hoàng bolero (DR)
Tuấn Thảo
Trong làng nhạc Tây Ban Nha, tình khúc Historia de un Amor, tựa tiếng Việt là Chuyện tình yêu đã trở thành khuôn mẫu nếu không nói là kinh điển của dòng nhạc bolero. Theo Hiệp hội các tác giả Panama, bài hát này tính đến nay đã có hơn hai ngàn phiên bản (cover), chiếm hạng đầu trong số các giai điệu La Tinh, đứng hàng thứ sáu trong số các ca khúc quốc tế được ghi âm lại nhiều nhất.
Historia de un Amor có đến hơn hai ngàn phiên bản trong hàng chục thứ tiếng. Do thời lượng chương trình có giới hạn, nên hôm nay RFI mời quý thính giả và các bạn thưởng thức một số bài tiêu biểu nhất. Gần đây nhất có phiên bản của ban nhạc người Ý Il Volo, hoà âm ca khúc này theo lối bán cổ điển. Ca sĩ người Pháp Karen Ruimy thì chuyển bài này sang hướng flamenco kết hợp với tango mới.
Ca khúc tiếng Pháp của Dalida cũng vừa được hoà âm lại trong khi phiên bản của Guadalupe Pineda & Los Tres Ases lại thuần chất Trung Mỹ nhất. Ông hoàng Luis Miguel của dòng nhạc bolero là một trong những giọng ca thể hiện thành công nhất Historia de un Amor. RFI mời các bạn khám phá bài này dưới dạng song ca ảo, kết hợp phiên bản tiếng Việt với giọng ca Bằng Kiều và phiên bản Tây Ban Nha với tiếng hát Luis Miguel.
Nhạc phẩm Historia de un Amor ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, dưới ngòi bút của tác giả Carlos Eleta Almaran. Ông sinh năm 1918 tại Panama trong một gia đình giàu có gốc Tây Ban Nha. Thân phụ của ông làm ăn phát đạt nhờ nghề kinh doanh thuốc lá. Vì là con trai cả (trưởng nam) nên Carlos được đặt tên giống hệt như bố, còn đứa em trai (sinh năm 1921) thì mang tên của ông ngoại là Fernando. Thời niên thiếu, hai anh em được gia đình đưa về quê nội là Malaga (Tây Ban Nha) học nội trú, cấp phổ thông. Lên đến đại học, cả hai được gửi sang Mỹ đào tạo.
Sau 4 năm du học, Carlos thi đỗ bằng quản trị kinh doanh, còn Fernando thì tốt nghiệp khoa hành chính. Trở về Panama, hai anh em nối nghiệp cha, điều hành công ty gia đình và các nhà máy sản xuất thuốc lá. Vào đầu những năm 1960, hai anh em thành lập đài truyền hình đầu tiên của Panama, sau đó được khuếch trương thành tập đoàn truyền thông lớn nhất của quốc gia Trung Mỹ này. Người em trai Fernando sau đó chọn sự nghiệp chính trị, ban đầu làm bộ trưởng Thương mại (1965) rồi sau đó được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng Panama. Về phần mình, Carlos Eleta Almaran tiếp tục con đường kinh doanh, nhưng lại nổi danh từ giữa những năm 1950 trở đi nhờ cái tài soạn nhạc.
Thật ra, tác giả Carlos Eleta Almaran đến với công việc soạn nhạc một cách tình cờ ngẫu nhiên. Thời còn nhỏ, ông được gia đình cho học nhạc, nhưng đàn hát chỉ được xem như là một thú tiêu khiển. Vả lại, ông xuất thân từ một gia đình giàu sang quyền thế, cho nên không cần phải sống nhờ nghề soạn nhạc. Carlos có một người bạn tên là Arturo Hassán (1911-1974), hai người quen nhau từ thưở ấu thơ, chơi thân với nhau dù cách biệt đến 7 tuổi. Nổi danh tại Panama như một nhà soạn nhạc, Arturo Hassán còn được mệnh danh là ‘‘El Chino’’ vì ông có hai dòng máu Âu-Á, thân phụ của ông là người gốc Hoa (José Hassán Chong), sinh trong một gia đình đến lập nghiệp tại Trung Mỹ từ nhiều đời trước.
Theo lời kể của tác giả Arturo Hassán, thì có một lần ông chê Carlos Eleta Almaran là một người có đầu óc thực dụng, tâm hồn quá khô khan như một nhân viên kế toán cho nên khó thể nào mà viết nhạc trữ tình lãng mạn. Bực mình trước câu nói này Carlos Eleta Almaran mới bắt đầu mò mẫm soạn nhạc rồi cho bạn mình nghe thử. Khi khám phá các sáng tác đầu tay của Carlos, tác giả Arturo Hassán phải cúi đầu bái phục. Sáng tác thử nào ngờ lại rất hay, gọi là học trò nhưng lại vượt trội bậc thầy.
Nhạc phẩm Historia de un Amor không phải là sáng tác đầu tiên của Carlos Eleta Almaran. Những ca khúc đầu tay của ông viết vào đầu những năm 1950, mang nhiều hơi hướng dân ca Trung Mỹ, ít dùng bộ gõ La Tinh như các bản nhạc thịnh hành thời bấy giờ. Mãi đến 5 năm sau, ông mới chuyển qua sáng tác nhạc bolero, giữ nguyên cấu trúc bài bản, nhưng lời lẽ cô đọng chắt lọc, ca từ thường được dùng một lần tránh lặp đi lặp lại.
Bản nhạc Historia de un Amor được phát hành vào năm 1955, nhưng được viết từ cả một năm trước đó, khi Carlos chứng kiến nỗi khổ đau tột cùng của người em trai (Fernando) khi ông biết được hung tin là vợ mình qua đời vì tai nạn. Historia de un Amor trước hết là câu chuyện của một mối tình, nói về một hoàn cảnh cá nhân, nhưng lại đạt được tầm mức phổ quát vì nó khắc họa nỗi mất mát thiệt thòi, do số phận tiền định nhiều hơn là hệ quả của sự chọn lựa. Bài hát không chọn bối cảnh cụ thể mà chỉ diễn đạt những lời thở than từ nội tâm, giai điệu sầu não, nỉ non với một chút tủi hờn oán trách làm cho con tim thêm nhức nhối vì nó đề cập đến những đổ vỡ, đứt liền trong tâm hồn của một người buộc phải ở lại.
Theo ghi chú Hiệp hội các tác giả Panama, người đầu tiên ghi âm nhạc phẩm Historia de un Amor là ca sĩ kiêm diễn viên Leo Marini, còn được mệnh danh là giọng ca thần sầu của Argentina. Bản nhạc sau đó được danh ca Libertad Lamarque, với biệt danh là Nữ hoàng Tango, ghi âm làm ca khúc chủ đề cho bộ phim Dimela Al Oido quay tại Mêhicô vào năm 1956. Chưa đầy một năm sau, bản nhạc nổi tiếng trên khắp thế giới một phần vì hầu hết các ca sĩ trứ danh của dòng nhạc bolero đều chọn ca khúc này làm bài tủ (répertoire) của họ.
Phong trào này cực thịnh cho đến những năm 1965, 1966. Nhưng phần lớn cũng vì Historia de un Amor đã được chuyển dịch hàng chục thứ tiếng khác nhau : ngoài các ngôn ngữ rất thông dụng còn phải kể đến tiếng Do Thái, Ba Tư, Croatia hay tiếng Thái. Trong tiếng Việt bài từng được tác giả Anh Bằng thuộc nhóm sáng tác Lê Minh Bằng chuyển ngữ thành nhạc phẩm Chuyện tình yêu với những câu mở đầu rất uớt át mà hầu như mọi người Việt Nam đều biết tới.
Được xem như là một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ Qúy của Panama (Carlos Eleta Almarán, José Luis Rodríguez Vélez, Arturo Chino Hassan, Ricardo Fábrega), tác giả Carlos Eleta Almaran tiếp tục soạn nhạc khá đều đặn, nhưng không có bài hát nào đạt đến tầm vóc kinh điển như Historia de un Amor. Hầu hết các tên tuổi lớn của làng nhạc quốc tế đều đã ghi âm bài này, Dalida và Dany Brillant trong tiếng Pháp, Luis Miguel hay Cesaria Evora trong tiếng Tây Ban Nha, Amalia Rodriguez tiếng Bồ Đào Nha, tình khúc này với hơn hai ngàn phiên bản khác nhau phá kỷ lục về số lượng ghi âm do ca khúc La Paloma tiêu biểu của dòng nhạc Habanera nắm giữ trước đây trong dòng nhạc La Tinh.
Về mặt quốc tế, Historia de un Amor chỉ đứng sau bài Yesterday của nhóm Tứ Quái The Beatles, Comme d’habitude (My Way) của nhóm sáng tác Claude François & Jacques Revaux, hay Summertime của George Gershwin. Dù được chuyển thể theo điệu nào đi chăng nữa, các phiên bản của Historia de un Amor nổi trội khi giữ được cốt cách mềm mại du dương, chứ không nhất thiết phải phối khí với nhịp điệu La Tinh.
Nhắc đến nhạc phẩm này, tác giả Arturo Hassán từng nhận xét rằng : Historia de un Amor là giai điệu quyến rũ mê hồn, đánh cắp hàng triệu trái tim. Dòng nhạc của Carlos Eleta Almaran trở nên xuất sắc khi nó diễn đạt được tính chất triệt để của tâm hồn La Tinh. Bài hát nói về cái cảnh kẻ ở người đi, nhưng lại khéo dùng một nửa (nửa còn nửa mất, nửa tối nửa sáng) để thể hiện cho sự trọn vẹn nguyên khối, dùng những chi tiết rất nhỏ để nói lên tính muôn thuở nguồn cội của tình yêu tuyệt đối.

http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130406-historia-de-un-amor-muon-thuo-nguon-coi-tinh-yeu-tuyet-doi