Posts tonen met het label Y HỌC. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Y HỌC. Alle posts tonen

donderdag 22 augustus 2013

Hỏi đáp Y học: Tay yếu do dùng máy tính quá nhiều

Thứ năm, 22/08/2013



Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Tay yếu do dùng máy tính quá nhiều

CỠ CHỮ- +

Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Nguyễn Thị Vân Anh email đến câu hỏi như sau:

“Kính chào Bác sĩ Hồ Văn Hiền,

Con gái tôi năm nay 17 tuổi, đang học lớp 11. Hơn một năm nay cháu cầm bút viết rất khó khăn, chỉ viết được 2 dòng là phải dừng lại vì không viết được. Khi viết ngón tay trỏ (giáp ngón cái) của cháu từ từ tách ra. Nhưng tay của cháu không hề đau, sưng hay nhức mỏi gì. Năm lớp 9, lớp 10, cháu có thường xuyên dùng máy vi tính không biết có phải đó là nguyên nhân không? Với triệu chứng bệnh của cháu, xin Bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách điều trị?

Xin cảm ơn bác sĩ rất nhiều.”

Chúng tôi đã chuyển thư email này cho bác sĩ Hồ văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
            
Ngón tay yếu do dùng phím máy tính quá nhiều.

Hội chứng đường hầm cổ tay

Các ngón và bàn tay phần lớn được điều khiển bởi những cơ bắp có thân cơ nằm trong cánh tay (forearm, avant bras), tức là phần giữa cổ tay và khuỷu tay. Những sợi gân từ từ các cơ ở trên chui qua một đường hầm gọi là đường hầm cổ tay (carpal tunnel), rồi mới nối với các ngón tay. Lúc các cơ này co lại, thì các ngón tay cũng co theo (flexion of the fingers). Cùng chui trong hầm này, có một sợi dây thần kinh lớn, điều khiển một số cơ bên phía ngón cái của bàn tay và phụ trách cảm giác 2/3 bàn tay bên phía đó. Nếu người bệnh dùng các cơ bàn tay nhiều (như đàn piano, đánh máy liên tục ngày này qua ngày khác), khuỷu tay cử động nhiều, các gân có thể viêm (tendinitis), vùng hang cổ tay trở nên quá chật hẹp và median nerve bị đè lên (nerve compression) làm cho bàn tay bị đau, cũng như những cơ ở mu bàn tay bên phía ngón cái bị teo lại trong trường hợp nặng.Trường hợp này gọi là hội chứng đường hầm cổ tay (carpal tunnel syndrome). Viêm gân và hội chứng hầm cổ tay là những thành phần trong hội chứng còn được gọi là 'tổn thương do dùng cổ tay và bàn tay quá nhiều" (overuse injuries of hand and wrist).

Trường hợp cô con gái của vị thính giả hỏi không cầm viết lâu được vì ngón tay trỏ yếu đi, có thể đây là một trường hợp hội chứng hầm cổ tay mô tả ở trên. Tuy nhiên, cũng như mọi khi, bệnh nhân cần được bác sĩ khám và định bệnh chính xác.Một số điều kiện khác có thể giải thích ngón tay bị yếu, không viết lâu được mà chỉ có bác sĩ của bệnh nhân mới giải quyết tường tận được.

Sau đây, tôi xin nói về "overuse injuries" của bàn tay và cổ tay.

Chữa trị:

1) Bảo thủ
-wrist brace (bó (không bó chặt) cổ tay lại để giảm thiểu cử động lập đi lập lại nơi cổ tay.
-đắp nước đá (icing, ice treatment) cho sưng đau cấp tính: dùng nước đá trong bao plastic,hoặc túi đậu xanh petit-pois đặt trong freezer cho lạnh. Không đắp quá 30 phút. Chỉ đắp sau khi hoạt đông gây tổn thương xảy ra (vd lực sĩ sau khi tập luyện, sau chấn thương); không đắp nước đá trước khi vận động.
-đắp nóng (heat treatment); dùng cho trường hợp mãn tính, trước khi hoạt động, làm cho các mô giãn ra, máu lưu thông nhiều hơn.
o Tránh dùng đắp nóng sau khi hoạt động, vào chỗ đang sưng, vì máu có thể dồn đến nhiều hơn và làm sưng thêm.
o Có thể dùng heating pad (túi plastic, hâm nóng vài phút trong lò microwave), hoặc dùng khăn nước nóng.
o Không dùng hơi nóng hoặc đắp đá trên da bị thương tích, nếu vùng đó mất cảm giác, máu không lưu thông bình thường, nếu mắc bệnh tiểu đường (diabetes)
-uống thuốc giảm đau, giảm viêm (NSAIDS) như ibuprofen, tylenol, naprosyn
-bs chích corticoid vào cổ tay.

2) Phẫu thuật cho những trường hợp nặng cần "giải phóng" các sợi gân và dây thần kinh bị gò bó, chèn ép trong cổ tay.

Phòng ngừa

Laptop computers có thể làm hư bàn tay và ngón tay và đau vai, lưng. Cổ tay đau vì bàn phím quá cao, và lưng vai đau vì monitor quá thấp.

Có thể tránh bằng cách:

-dùng màng hình monitor riêng rẽ, dễ đọc hơn và ngang tầm mắt, cho phép ngồi thẳng lưng.
-dùng bàn phím riêng, để thấp dưới bàn để khi đánh máy, có thể giữ khuỷu tay ở góc 90 độ.
-dùng ghế ngổi chắc, điểu chỉnh đúng tầm mình, ergonomic, nghĩa là thích hợp cho những cử động tự nhiên của người dùng.
- nếu mỏi, tê nhức, phải ngưng, nghỉ ngơi, không nên cố gắng quá sức với mục đích "tập cho quen".
Tránh để laptop trên đùi lúc mình dùng máy lâu. Thế ngồi cúi đầu làm mỏi mệt, nhức lưng, cổ, mỏi mắt. Sức nóng phát ra có thể gây phỏng da đùi (laptop burn, erythema ab igne).

Chúc bệnh nhân và phụ huynh may mắn.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

------------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.

dinsdag 11 juni 2013

Hỏi đáp Y học: Chữa bệnh bằng giác hơi

Hỏi đáp Y học: Chữa bệnh bằng giác hơi
Bác sĩ Hồ Văn Hiền
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

CỠ CHỮ- +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Thu Hà Lâm email đến câu hỏi sau đây:

“Kính chào Bác sĩ

Cho cháu hỏi, nếu cháu bị bệnh mà cháu giác hơi dùng lửa thì để được bao nhiêu phút, ngày xưa cháu được giác 15- 20 phút hoặc 30 phút nên hết bệnh

bây giờ người nhà cháu giác có 2 phút, và tối đa là 5 phút, giác thời gian ít nên không hút hết gió, bệnh vẫn còn y nguyên, vẫn chóng mặt, khó chịu. Vậy giác bao nhiêu phút là thời gian thích hợp, thưa bác sĩ?”


Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Hỏi đáp Y học: Chữa bệnh bằng giác hơi

Giác hơi (cupping)

Trả lời thính giả Thu Hà Lâm:

Giác hơi là một phương thức chữa trị theo dân gian. Tôi nghĩ có thể xem như một nghệ thuật, nên thực hành thay đổi từng trường hợp, từng người chữa bệnh, cũng như bệnh nhân.

Tuy nhiên, giác hơi đã được thực hành hàng ngàn năm nay ở nhiều nơi trên thế giới. Phương pháp có thể hơi khác nhau; người ta có thể tạo chân không từng phần (partial vacuum) bằng cách đốt cồn trong ly/chai giác (fire cupping), hoặc hơ nóng chai để không khí nóng trong chai nở ra và sau khi áp vào da, lúc nhiệt độ xuống, sẽ co rút lại.Thường người ta để chừng 10 phút. Người ta cũng có thể dùng các suction cup bằng cao su/plastic bám vào da, hoặc máy bơm tạo nên chân không, không cần đến sức nóng.

Theo y học cổ truyền, giác hơi giúp khí huyết lưu thông và người ta tin rằng chữa được những bệnh đau nhức, cảm mạo, ho đàm...Hội giác hơi của Anh (British Cupping Society) cho rằng có thể chữa được nhiều bệnh như bệnh thiếu máu, bệnh phong thấp, bệnh da, bệnh phụ nữ v..v...Tuy nhiên, y khoa dòng chính vẫn còn nghi ngờ các điểm này vì chưa được chứng minh khoa học rõ rệt. Hội Ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Society) thì cho rằng " những bằng chứng hiện có không hỗ trợ việc dùng giác hơi để chữa bệnh ung thư và bất cứ bệnh nào khác." Năm 2012, một khảo cứu cho thấy, nếu kết hợp với châm cứu hay thuốc men, giác hơi có thể giúp ích trong các bệnh “giời ăn” (zona, herpes zoster), liệt thần kinh mặt (facial paralysis), đau khớp xương cổ (cervical spondylosis) và mụn trứng cá (acne).

(Ref:Cupping therapy, http://www.webmd.com/balance/guide/cupping-therapy)

Hiểu theo tây y thì tác dụng không phải do hút ra được "gió" nhiều hay ít, mà nên xét xem chai/ly giác hơi lớn hay nhỏ, sức hút (áp suất âm) tạo nên do thể tích không khí trong chai giác teo lại, và giác những chỗ nào trên cơ thể. Cần tránh giác hơi ở những vùng cơ thể có tĩnh mạch sâu bị nghẹt máu đông, da lở loét, vùng có động mạch đi qua ở dưới, chỗ có thể bắt mạch được (pulse)v..v...Nếu để lâu thì sức hút kéo dài hơn, sự kích thích trên vùng da thịt lâu hơn. Cơ chế tác dụng trên bệnh hay triệu chứng thế nào chúng ta chưa rõ.

Nên nhớ, càng để lâu thì vì hơi nóng, cơ nguy phỏng da nhiều hơn, các vết bầm cũng rõ rệt hơn, và do đó chúng ta có khuynh hướng cho là ra gió nhiều hơn, nhưng đây chỉ là kết quả của những mao quản dưới da bị vỡ, chưa chắc là tốt cho bệnh nhân.

Tóm lại, đây là một nghệ thuật, nên ở cương vị bác sĩ tôi không thể hướng dẫn vị thinh giả một cách khoa học được, chỉ xin cảnh báo một số điểm về an toàn mà thôi.

Chúc quý vị may mắn.
Bác sĩ Hồ văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.
 

donderdag 21 maart 2013

Hỏi đáp Y học: Bệnh lao và thuốc ngừa lao

Thứ năm, 21/03/2013


Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Bệnh lao và thuốc ngừa lao

CỠ CHỮ - +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Nguyễn Huy ở Madison, bang Wisconsin email đến câu hỏi sau đây:

“Xin hỏi bác sĩ về bệnh lao (TB) và thuốc ngừa TB.

Khi tôi di dân từ Việt Nam sang Hoa Kỳ cách đây 5 năm, lúc đó tôi 40 tuổi, trong lần đi khám sức khỏe tổng quát đầu tiên, tôi và các thành viên trong gia đình được chẩn đoán là có 'TB dương tính,' và được phát thuốc ngừa TB. Tôi và những người trong gia đình đã làm theo chỉ dẫn và uống đều đặn thuốc ngừa mỗi ngày trong 6 tháng liên tục.

Trong thời gian đó, tôi nghe những người Việt đã di dân đến Mỹ mấy mươi năm nói rằng hầu như “mọi người từ Việt Nam sang đều dính TB hết” và đều bị 'bắt uống thuốc TB.' Có người còn nói là không nên uống thuốc đó vì nó 'làm hại máu.'

Xin bác sĩ:

1. Sơ lược về bệnh lao này;
2. Có phải là bệnh mà các cụ bên Việt Nam hay gọi là “bệnh ho lao” không?
3. Tại sao người tôi vẫn khỏe mạnh, không thấy có triệu chứng gì, nhưng khi đến Mỹ lại “dương tính TB?”
4. Thuốc ngừa TB có hại sức khỏe như một số người nói hay không?
5. Thuốc này có chữa dứt TB cho tôi chưa, và ngăn chận lây lan hay không?"


Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Lắng nghe giải đáp của bác sĩ

Thính giả Nguyễn Huy ở Madison, Wisconsin hỏi về bệnh lao. Tiếng Anh gọi là tuberculosis, tiếng Pháp gọi là tuberculose (tuber latin có nghĩa là củ, như củ khoai, củ sắn; từ tuber mô tả các "nốt" (nodules) trong phổi người bị bệnh, lúc giải phẫu tử thi).

Bệnh lao trong quá khứ người tị nạn Việt

Chúng ta hay dùng từ "ho lao", tuy nhiên, dễ gây thắc mắc vì bệnh lao có thể biểu hiện nhiều cách mà không phải ho. Lúc tây y được người Pháp đưa vào Việt nam, thời đó lao biểu hiện thường nhất (làm người bệnh đi khám) là ho kéo dài, có thể ho ra máu (hemoptysis), bệnh nhân nóng sốt, gầy mòn, kiệt sức dần. Trước khi có phương tiện chữ trị bằng kháng sinh, chừng môt nửa sẽ chết vì bệnh.

Thường, chụp hình phổi, có các vết “nám’ (opacities), hoặc có các lỗ hổng (lung cavities) do các áp xe (pulmonary abscess) gây ra, chúng ta nói bệnh nhân bị "lũng phổi." Bác sĩ cho thử đàm (khạc ra hoặc hút trong bao tử), nhuộm xem có các vi khuẩn hình que (rods, bacillus, tiếng Pháp “ bacille”) mycobacterium tuberculosis, xong đem cấy ( culture) đàm đó trong môi trường đặc biệt, xem có mọc ra con vi khuẩn đó hay không.

Nhà bác học Robert Koch (1843-1910), người Đức, tìm ra con vi khuẩn này năm 1882, nên tiếng Pháp gọi là “Bacille de Koch ‘“Koch ‘s bacillus), người Việt chúng ta có thói quen gọi là BK.

BK (+) [ dương tính] có nghĩa là có tìm thấy vi khuẩn hình que trong mẫu bệnh (đàm, mủ,.. ) của người đó. Người bệnh được chích và uống nhiều thuốc trong nhiều tháng, hoặc cả năm và được theo dõi thường xuyên (thử đàm, chụp hình phổi, thử máu xem thuốc có tác dụng độc trên gan hay không).

Đối với các bậc cha mẹ, trẻ em bị sưng màng óc do vi trùng lao (tuberculous meningitis), nhiễm trùng xương, khớp xương (tuberculous osteoarthritis), màng phổi do lao (tuberculous pleurisy) cũng là những tai họa thường gặp, khó quên.

Mỹ khác chúng ta (VN) ở chỗ những bệnh lao như trên ít gặp ở Mỹ, do điều kiện vệ sinh tốt hơn, cũng như kiểm soát bệnh lan truyền bằng những biện pháp y tế công cọng. Ví dụ, ở Mỹ nếu bác sĩ gặp một trường hợp bị lao mới, dù là lao tiềm ẩn (latent tuberculosis) cũng phải báo cáo cho cơ quan y tế địa phương để truy tầm khả năng lây lan (test các người khác có tiếp xúc với bệnh nhân) và theo dõi, ngoài việc điều trị cho người bệnh đó.

Cách định bệnh cũng khác.

Chúng ta cần phân biệt:

1) Lao sơ kỳ ( primary tuberculosis)

Vi khuần bệnh lao được truyền đi qua đường hô hấp, vd người bệnh lao phổi hay thanh quản lúc ho, nhảy mũi thải vi khuẩn vào không khí, người khác hít vào phổi mình. Thời kỳ này gọi là lao sơ kỳ ( primary tuberculosis).

Một số ít (5%)có những triệu chứng nhẹ, trong số này một tỷ số nhỏ sẽ bệnh càng nặng thêm (như triệu chứng sốt, sưng phổi, lan qua hạch, viêm màng óc) và nằm trong diện lao sơ kỳ luỹ tiến (progressive primary tuberculosis).

2) Nhiễm vi khuẩn lao tiềm ẩn (LTBI)

Tuy nhiên đại đa số không có triệu chứng đáng kể, chỉ có cơ thể của họ phát triển được hiện tượng miễn nhiễm chống vi khuẩn lao, bao vây, "nhốt" vi khuẩn trong những nodules; và nếu thử phản ứng lao tố, sẽ có phản ứng dương (positive STS).

Vi trùng lao có thể ở trong cơ thể chúng ta mà không gây một triệu chứng nào, khám lâm sàn không thấy gì, vi trùng "ngủ" trong một cái hạch lympho chẳng hạn, cho đến lúc sức phòng thủ của cơ thể yếu đi vì một lý do nào đó thì vi khuẩn sẽ "thức" dậy: lúc sức đề kháng chúng ta yếu vd, bệnh khác thêm vào như HIV, chữa corticoid làm giảm đề kháng, tuổi già...

Latent tuberculosis infection (LTBI): nhiễm vi khuẩn lao tiềm ẩn - bệnh nhân không có triệu chứng dấu hiệu của bệnh lao (không sốt, không sưng hạch, phổi nghe bình thường..), chụp hình X quang thì thấy phổi bình thường, hoặc chỉ có dấu hiệu nhiễm trùng đã khỏi, đã lành (ví dụ vết vôi đóng trong phổi, hạch ở cuống phổi/ hilar nodes).

3) Bệnh lao (active tuberculous disease) ở người bệnh có triệu chứng, dấu hiệu lâm sàn, X quang rõ ràng, do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đó là những trường hợp "ho lao,lao phổi, lao xương " mà chúng ta từng quen thuộc ở Việt Nam. Trong một khảo cứu trên 100.000 người gần đây của WHO, ở Việt nam, cứ 1 ngàn người, thì có chừng 2-3 người có vi khuẩn trong đàm, và chừng 70 người qua phỏng vấn hay X quang phổi bị nghi là lao phổi.

(Nguyen Binh Hoa. National survey of tuberculosis prevalence in Viet Nam)
(http://www.who.int/bulletin/volumes/88/4/09-067801/en/index.html)


Test dùng lao tố truy tầm bệnh lao.

Dấu hiệu duy nhất là người đó phản ứng với tuberculin là một chế phẩm (extract) từ vi khuẩn Mycobacteria thường gọi là PPD (Purified Protein Derivative); PPD được chích vào trong bề dày của da người được test (Tuberculin Skin Test,TST).Trong phần lớn trường hợp, phản ứng dương với tuberculin (positive TST) có nghĩa là người bệnh đã từng nhiễm vi trùng lao trong quá khứ.

• Tuy nhiên tuỳ hoàn cảnh, có thể đang nhiễm trùng lao mà TST âm tính (false negative, ví dụ bệnh nhân mất khả năng đề kháng, dùng corticoid), đang nhiễm trùng nặng bệnh nào khác).

• Trong 3 tuần đầu sau khi nhiễm vi khuẩn lao, bệnh nhân chưa xây dựng kịp tính miễn nhiễm trong cơ thể chống lao, thử TST vẫn có thể âm tính.

• Bệnh nhân đang bị lao nặng, làm giảm sức đề kháng, miễn nhiễm yếu, có thể mất đi phản ứng lao tố (TST negative), do đó dù là phản ứng âm, không có nghĩa là không phải bệnh lao.

Cũng có thể bệnh nhân thử TST dương tính nhưng không mắc vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis, mà mắc phải môt con vi khuẩn Mycobacterium tương tự, không gây bệnh đáng kể.

Gần đây có một thử nghiệm mới gọi là Interferon Gamma Release Essay (IGRA) (vd QuantiFERON-TB Gold, T-SPOT.TB) có thể cho kết quả chính xác (specific) hơn,cho trẻ em 5 tuổi trở lên, cho những người từng được chích ngừa lao BCG (dễ gây phản ứng TST false positive); nhưng đắt tiền hơn rất nhiều.

Cho nên, ở Mỹ, do bệnh lao thật sự ít xảy ra, quyết định lúc nào thử test dùng lao tố truy tầm bệnh lao (TST), lúc nào thì gọi là phản ứng dương, là cả một vấn đề tranh cãi, một nghệ thuật, có thể cách diễn dịch và đối phó chữa hay không chữa, tuỳ theo từng bác sĩ, tuỳ theo từng bệnh nhân.

Tương tự như các xứ Á châu, phần lớn (chừng 80%) dân số ở Việt nam, từng nhiễm vi khuẩn lao (phản ứng dương tính tuberculin). Đối với những người mới di dân như chúng ta ở Việt nam sang,thì cơ nguy chúng ta nhiễm vi trùng lao tiềm ẩn ở Việt Nam cao hơn nhiều lần so với một người sanh tại Mỹ trung bình (high risk for tuberculosis). Do đó dùng TST để thanh lọc di dân có kết quả đáng tin cậy hơn là nếu dùng cho người sanh ra tại Mỹ. Những người bản xứ (native) ở Mỹ, phần đông không phải dùng test này, vì tỷ lệ bệnh lao của họ rất thấp (dưới 5%).. Cho nên TST được dùng để screen chúng ta.

Nếu chúng ta phản ứng dương với tuberculin,người ta cho đi chụp hình phổi, thử máu, thử đàm, nếu không tìm thấy gì, thì căn cứ trên phản ứng lao tố dương, người ta kết luận (có thể sai trong một số ít trường hợp false positive) là người đó bị nhiễm vi trùng lao tiềm ẩn ( latent tuberculous infection), và cho những người đó uống thuốc isoniazid.

Ngừa lao tái phát bằng isoniazid hay rifampin.

Mục đích uống thuốc isoniazid: giảm cơ nguy nhiễm lao tiềm ẩn chuyển sang bệnh lao hoạt động (active tuberculosis) (giảm 54-88%)

• Có nghĩa là một số người dù đã uống thuốc isoniazid ngừa lao tái phát vẫn có thể bị bệnh lao hoạt động (active TB) một thời gian sau khi ở Mỹ.

• Bệnh nhân từ Việt Nam, nếu có những triệu chứng không rõ rệt như ho kéo dài,nước trong màng phổi,viêm màng óc, sưng xương khớp, sưng hạch...bệnh lao là một trong những chẩn đoán mà bác sĩ cần nghĩ đến và loại bỏ trước khi nghĩ đến những bệnh hiếm hơn, khó trị hơn (như ung thư).

• Một số lý do:
o -uống thuốc không đều, không đủ
o -vi khuẩn kháng với isoniazid (thường là di dân từ Đông Âu)
o -vi khuẩn chưa bị tiêu diệt hết trong những nơi "trú ẩn"
o -vi khuẩn đã bị tiêu diệt, nhưng người đó bị nhiễm trùng mới từ một nguồn khác (như từ một người chung phòng, chung chuyến bay), nhất là lúc bệnh nhân đang yếu hệ miễn nhiễm vì dùng corticoid, chữa hoá trị liệu (chemotherapy), bị nhiễm HIV, già..(immunosuppression)

• Bệnh nhân được cho uống thuốc isoniazid mỗi ngày trong chín tháng, hoặc nếu không đáng tin cậy, nhân viên y tế trực tiếp quan sát uống 2 lần /tuần, trong 9 tháng. Trường hợp nghi vi trùng kháng thuốc isoniazid, người ta dùng Rifampin uống mỗi ngày trong 6 tháng.

• Isioniazid có khả năng giết vi khuẩn lao, và đi vào hệ thần kinh trung ương. Thuốc được biến dưỡng qua gan và thải qua nước tiểu. Một số trường hợp, có thể gây độc gan. Thuốc có thể ức chế vitamin B6 (pyridoxin), và gây động kinh (seizures) hoặc viêm thần kinh (neuritis), nhất là ở người không/ít uống sữa và ăn thịt, người bị HIV. Những người này cần uống thêm vitamin B6. Bác sĩ có thể kiểm tra cơ năng gan trước và trong lúc uống thuốc.

• Rifampin có thể độc cho gan và gây một tình trạng bệnh giống như cúm trong một số trường hợp hiếm. Thuốc có thể vô hiệu hoá thuốc viên ngừa thai. Nước mắt, nước tiểu có thể có màu làm hoen ố contact lens, hư đồ lót.

Chúc quý vị thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ văn Hiền

----------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.
 

Hỏi đáp Y học: Đau ruột thừa

Thứ năm, 21/03/2013


Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Đau ruột thừa

Bác sĩ Hồ Văn Hiền
Bác sĩ Hồ Văn Hiền
CỠ CHỮ - +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Nguyễn Anh Tuấn ở Ðồng Nai gởi thư đến câu hỏi sau đây:

“Xin hỏi bác sĩ về đau ruột thừa.

Cách đây không lâu, anh Hai tôi, 50 tuổi, đi làm rẫy ở xa trong rừng, thường thì đi cả tuần hơn mới về lại nhà ở xã một lần để lấy thức ăn, muối mắm. Chiều tối hôm đó anh Hai tôi phát đau bụng, đau ở phần bụng dưới thắt lưng. Người làm rẫy chung kể lại là anh tôi càng lúc càng đau dữ dội, nhưng phải chờ đến sáng mấy người làm chung mới dìu lên xe máy để chở về y tế xã. Ðường rừng, thường phải mất nửa ngày mới về tới xã. Nửa đường đi thì anh Hai tôi mất.

Nhiều người biết về thuốc, và các cán bộ y tế xã nói là anh tôi bị đau ruột thừa, không mổ kịp, đã dẫn đến tử vong.

Xin bác sĩ giải thích:

1. Nguyên nhân gây ra chứng đau ruột thừa, cách chữa trị và phòng ngừa;
2. Lứa tuổi nào dễ bị đau ruột thừa?
3. Có phải ở những nơi nghèo, chế độ dinh dưỡng kém, vệ sinh kém thì dễ bị ruột thừa hơn ở những nước văn minh?
4. Các binh sĩ ở biên cương, những nhà thám hiểm, ở xa các phương tiện y tế, phòng ngừa đau ruột thừa như thế nào?

Cám ơn Bác sĩ."


Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Lắng nghe giải đáp của bác sĩ

Trả lời câu hỏi về viêm ruột thừa:

Thật ra trường hợp anh ông hỏi chưa chắc đã do ruột thừa. Một người đàn ông 50 tuổi, đau bụng đột ngột một đêm thì chết, có thể do nhiều nguyên nhân khác, ví dụ vỡ một khúc động mạch chủ bị phình ra (rupture of an aortic aneurysm), lủng ruột,v..v...Sau đây chúng ta bàn về viêm ruột thừa( appendicitis):

1) Ruột chúng ta gồm ruột non (small intestine) nơi phần lớn các chất dinh dưỡng được tiêu hoá hấp thụ và ruột già (large intestine, colon) là nơi phình lớn ra, hơi thắt lại ở các nấc, thức ăn đã được tiêu hoá được tích tụ ở đây, nước được hấp thụ trước khi được bài tiết.

Ruột non nằm ở giữa bụng, ruột già như một chữ U ngược nằm chung quanh. Phía bên tay phải chúng ta, vùng bụng dưới là nơi hai khúc ruột này nối với nhau. Ở đó, có một túi cùng của ruột già là coecum, nối với đoạn cuối của ruột non tên là ileum. Coecum có một cái đuôi nhỏ, dài chừng 2-10 cm. Vì chúng ta không biết nó dùng làm việc gì, nên chúng ta gọi nó là ruột dư (ruột thừa).

Ruột thừa là một bộ phận sống. Vách nó có nhiều lớp, từ ngoài vào trong: lớp thanh mạc (serosa), lớp cơ (muscle layer), và một lớp niêm mạc (mucosa) với các tuyến tạo nên những chất tiết, có nhiều mô lympho (lymphoid tissue). Nếu bất cứ lý do gì, lòng ruột dư bị nghẽn, các chất tiết này ứ đọng lại, làm ruột thừa sưng lên, các mạch máu nuôi ruột thừa bị tắt nghẽn, các vi trùng sinh sôi nẩy nở, tế bào bạch cầu đến đông đảo để chống lại, làm mủ, sinh ra áp xe (abscess). Lúc đầu bệnh nhân thấy đau ở vùng rốn, giữa bụng (giống như đau bụng do viêm ruột thông thường, sau đó mới dời qua bên phải bụng bệnh nhân(right lower quadrant). Lúc đó bệnh nhân thường đau ở điểm McBurney ( nằm nơi tiếp giáp đoạn 1/3 ngoài và đoạn 2/3 trong giữa của đường nối mấu trước của xương chậu với rốn (McBurney’s point). Nếu áp xe vỡ ra, nhiễm trùng sẽ lan ra vào phúc mạc (peritoneum, màng lót trong ổ bụng), làm viêm phúc mạc (peritonitis) và nhiễm trùng máu (septicemia). Lúc đó, bệnh nhân đau khắp bụng, và bs mới đặt tay lên bụng để sờ, các bắp cơ bụng co cứng lại để bảo vệ các bộ phận trong bụng đang bị đe doạ (abdominal guarding, [Phap] defense abdominale ).

2) Nguyên do gây nghẽn lòng ruột dư:

-Nhiễm trùng tại chỗ
-Nhiễm trùng toàn thân, bệnh viêm làm cho các tuyến lympho trong ruột dư sưng to lên
-Ký sinh trùng, vd sán kim
-Phân khô đóng cục nghẹt lòng ruột dư (fecaliths)
-Các vật lạ nuốt vào
-U bướu

3) Hiện nay, chữa trị chính, tiêu chuẩn (standard treatment) là phẫu thuật, cắt bỏ ruột dư bị viêm (appendectomy). Kỹ thuật giải phẫu nội soi giúp mổ nhanh hơn, ít thẹo hơn và bệnh nhân về nhà nhanh hơn. Có một số nhà khoa học đang nghiên cứu chữa bằng kháng sinh mà không mổ, nhưng chưa được y giới chính thống chấp nhận. Có thể nghĩ đến phương thức bảo thủ này trong những trường hợp đặc biệt không mổ được, hoặc không có phương tiện mổ. (1)

4) Tuy trẻ sơ sinh có thể bị viêm ruột dư (rất hiếm), tuổi trung bình người được mổ viêm ruột dư là 22 tuổi.

Người Á đông và người châu Phi ít bị viêm ruột thừa hơn người Tây phương, vì thức ăn có nhiều chất xơ hơn (dietary fiber), thức ăn và phân đi qua ruột già nhanh ơn (decreased bowel transit time), không bị ứ đọng lại.

Tuy nhiên gần đây, trào lưu này có phần đảo lộn: một số người châu Á và Phi đổi qua lối ăn uống nhiều thịt, ít chất sợi của người Âu Mỹ; ngược lại bên Âu Mỹ người ta đã bắt đầu đổi cách ăn uống cho hợp vệ sinh hơn, nghĩa là nhiều trái cây, nhiều chất xơ, ít thịt và các chất tinh bột đã được xay và tẩy trắng.

Vệ sinh và môi trường sống cũng ảnh hưởng nhiều, ví dụ cùng châu Á nhưng viêm ruột thừa ít xảy ra ở Thái Lan hơn là Hồng Kông. Các điều kiện vệ sinh (nước uống, phòng vệ sinh) làm thay đổi khả năng bị nhiễm trùng virus, nhiễm trùng đường ruột, ký sinh trùng đường ruột, là những điều kiện có thể giúp cho ống của ruột thừa bị tắc nghẽn, đi đến viêm ruột thừa.

Tóm lại, không có biện pháp rõ rệt ngừa viêm ruột thừa. Biện pháp vệ sinh chung về ăn uống (như tránh quá nhiều thịt và tinh bột,nên ăn nhiều rau xanh, cà chua, trái cây, tránh bón) cũng như cải thiện vệ sinh nơi sinh hoạt (tránh ô nhiễm nước uống, thức ăn để tránh nhiễm trùng ruột cũng như các bệnh virus nơi trẻ em, thanh thiếu niên) là những yếu tố có thể làm giảm tỷ số viêm ruột thừa trong một cộng đồng nào đó. Một số người đi mạo hiểm đến nơi không có phương tiện y khoa có thể nghĩ đến cắt ruột thừa trước khi đi (preventive appendectomy).

Tuy nhiên, với các phương tiện hiện nay, đa số các bác sĩ nghĩ rằng không cần phải dùng biện pháp này, kể cả các chuyến bay không gian gần hoặc thám hiềm nam cực.

Ngoại lệ có thể là các chuyến du hành vũ trụ xa, lúc đó một phi hành gia trong thời gian kéo dài có cơ nguy bị viêm ruột thừa nhiều hơn, cũng như thiệt hại đối với chuyến đi cũng nhiều hơn. (3)

Chúc thính giả may mắn.

Tài liệu tham khảo:
(1) Wilms IM, de Hoog DE, de Visser DC, Janzing HM.Appendectomy versus antibiotic treatment for acute appendicitis. (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22071846.)
(2) Sulu B.. Demographic and Epidemiologic Features of Acute Appendicitis.
http://cdn.intechopen.com/pdfs/25845/InTech-Demographic_and_epidemiologic_features_of_acute_appendicitis.pdf
(3) Stuster J.. Bold Endeavors: Lessons from Polar and Space Exploration. p.339


Bác sĩ Hồ văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com, bấm vào mục Hỏi Đáp Y Học trong phần chuyên mục. Các bài giải đáp y học khác cũng được lưu trữ trong phần này.

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.
 

Hỏi đáp Y học: Tai biến mạch máu não

Thứ năm, 21/03/2013


Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Tai biến mạch máu não

CỠ CHỮ - +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Diệp Thị Liên, ở Ðồng Nai, Việt Nam, có câu hỏi như sau:

"Cậu em tôi tên Đỗ Văn Thiên, năm nay 52 tuổi, ở Đồng Nai. Cách đây 3,4 năm, em tôi bị tai biến mạch máu não ảnh hưởng tới tay phải và chân phải. Hiện tại chạy chữa châm cứu thì cũng đỡ. Tay phải thì cũng bưng được tô hủ tiếu nhẹ, còn chân phải thì ngồi ở yên sau cũng đạp được xe đạp từ từ nhè nhẹ. Bây giờ em tôi không còn uống thuốc của bác sĩ kê nữa mà uống một loại chức năng gọi là Giảo cổ lam được bào chế ngoài Hà Nội. Loại thực phẩm chức năng này được làm từ một loại cây, nó không phải là thuốc, chỉ là thực phẩm chức năng thôi. Em tôi uống cái đó thì thấy đỡ lắm. Máu huyết giờ cũng ổn định rồi. Ngoài ra thì cũng uống thêm một loại thuốc sủi. Nếu mà uống viên sủi này vào thì đỡ và không bị chuột rút ở chân. Còn nếu mà không uống thì bị chuột rút ở chân, đi không được. Như vậy tôi muốn hỏi bác sĩ là mình có cần phải uống thêm loại vitamin hay khoáng chất nào nữa hay không? Muốn uống viên vitamin C thay thế cho viên sủi có được hay không?"

Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Lắng nghe giải đáp của bác sĩ

Tai biến mạch máu não, vitamin C và lá bạch quả
(Stroke, Vitamin C and Ginkgo biloba)


Thân nhân của vị thính giả đang dùng một số thuốc không rõ tên của bác sĩ ở Việt Nam cho, tất nhiên tôi không thể có ý kiến gì về những thuốc này. Cũng vậy, về câu hỏi có thể dùng vitamin C để thay thế môt thứ thuốc nào đó, tôi cũng không biết thuốc bệnh nhân đang dùng là thuốc gì, nên không trả lời được. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra một vấn đề thú vị về y khoa: vai trò của vitamin C trong tai biến mạch máu não (TBMMN) như thế nào?

Trước hết xin nhắc lại TBMMN (cerebrovascular accident), hay "stroke" (đột truỵ/đột quỵ) được định nghĩa như là một thay đổi đột ngột của cơ năng thần kinh gây ra bởi một thay đổi trong lượng máu cung cấp cho não bộ.

Stroke có thể do :

• Mô não chết vì không đủ máu đến nuôi dưỡng (ischemic infarct) do một mạch máu bị tắc nghẽn,

a) vì máu đóng cục trong lòng mạch máu (cerebral thrombosis),

b) hoặc vì một cục máu từ một nơi khác (embolus; thường từ tim đến, do rung tâm nhĩ [atrial fibrillation], máu trong tâm nhĩ dễ đóng cục) đến làm tắc nghẽn mạch máu não.

Triệu chứng chính là một bộ phận nào đó ngưng làm việc (focal deficit) (vd: liệt một phần cơ thể, không nói được).

• TBMMN (Stroke) có thể do chảy máu trong óc (do một động mạch bị vỡ, vì động mạch đó bất bình thường bẩm sinh [arteriovenous malformation] ở người trẻ; ở người già thì thường gặp nhất là bệnh áp huyết cao làm thoái hoá (degeneration) vách các động mạch phần dưới của não bộ (hypertensive intracerebral hemorrhage). Người bệnh bị nhức đầu, bị mất cơ năng cục bộ (không cử động được một nhóm bắp thịt, mất cảm giác một vùng nào đó; focal deficit), và mức tỉnh táo, ý thức cũng giảm.

• Ngoài ra, người bị chảy máu dưới màng não, trong vùng nước tuỷ sống (subarachnoid hemorrhage) thường bị nhức đầu nhiều, đối với giảm ý thức tổng quát, không tỉnh táo (decreased level of consciousness).

• Sọ là một cái hộp cứng, không giãn nở được. Do đó, khi máu chảy trong não hay dưới màng óc (subarachnoid hemorrhage) tạo nên một khối đè nén lên phần còn lại của não bộ, lại thêm vào đó làm phù nề não bộ (cerebral edema), do đó gây trở ngại cho sự tuần hoàn của máu đem dinh dưỡng (glucose) và cung cấp oxy cho não bộ.

Các biện pháp ngăn ngừa TBMMN (stroke) do thiếu máu (ischemic strokes, không phải do chảy máu) trở lại:

1) Nhóm thuốc chính được dùng có tác dụng làm giảm đông máu;
• chính là aspirin (75-320mg/ ngày);
• clopidogrel (Plavix);
• heparin;
• warfarin.

2) Quan trọng không kém là kiểm soát bệnh áp huyết (hypertension) cao, bệnh tiểu đường (diabetes) và bệnh mỡ cao trong máu (hyperlipidemia), ngưng hút thuốc lá, chữa bệnh tim (rung tâm nhĩ), chữa bệnh xơ vữa động mạch cỗ (atheroma of the carotid arteries).

3) Ngoài ra còn có chương trình phục hồi (rehabilitation) người bệnh sau khi stroke, như giải quyết các vấn đề tinh thần (trầm cảm, thiếu chú ý), dinh dưỡng, ngôn ngữ, vật lý trị liệu, v.v.... giúp trở lại đời sống càng gần vơi bình thường càng tốt.

4) Về Vitamin C (ascorbic acid), có một số bác sĩ căn cứ trên một số nghiên cứu chứng tỏ Vitamin C tối cần cho sự toàn vẹn của vách mạch máu và cho sức khoẻ của các mạch máu, và dùng vitamin C ở những liều cao rất nhiều (megadoses) so với liều được dùng trong y khoa luồng chính. Chính phủ Mỹ khuyến cáo chúng ta cần 60-95mg vitamin C/ ngày, NIH thì khuyên chừng 200mg/ngày, trong lúc đó có những bác sĩ khuyên dùng đến vài gram (vài ngàn mg)/ ngày ). Nói chung lợi ích và công dụng của vitamin C là một đề tài tranh cãi trong giới khoa học từ mấy chục năm nay, chưa ngã ngũ. Hiện nay, mức vitamin C uống cao nhất được coi có thể chấp nhận (upper tolerable level) là 2000mg/ngày. Dùng nhiều hơn có thể tiêu chảy và sạn thận (vitamin C [ascorbic acid] được biến dưỡng thành oxalate, sinh ra sạn oxalate trong nước tiểu).

Những nghiên cứu gần đây cho thấy người có mức vitamin C cao nhất trong máu ít bị TBMMN (stroke) hơn người có mức vitamin C thấp, và cơ nguy tai biến mạch máu não (risk of stroke) có thể giảm đến 70%. Việc này chứng tỏ mức vitamin C gắn liền với khả năng ít bị stroke hay không, tuy nhiên giới khoa học hiện nay chỉ cho đây là một tương quan (correlation) giữa hai hiện tượng, chưa chứng minh rằng uống nhiều vitamin C làm giảm stroke (tương quan nhân quả). Các chuyên gia nói chung chỉ khuyên chúng ta ăn uống rau quả nhiểu là tốt hơn cả. Nếu uống vitamin C, nên tham khảo với bác sĩ của mình về liều lượng thích hợp.

(Ref: WEBMD/ January 10, 2008, 12:33 AM.Study Links Vitamin C To Stroke Risk.
http://www.cbsnews.com/2100-500368_162-3694740.html)

• 5) Nói về thuốc dược thảo được dùng chữa bệnh stroke, chúng ta có thể nhắc đến ginkgo biloba, tiếng Việt gọi là cây bạch quả, cây mọc ở Trung quốc, Nhật và Nam Hàn, cao 20-30 mét. Bạch quả là một trong những cây sống lâu nhất thế giới, có thể cả ngàn năm (tiếng Pháp Abricot argente’ japonais,arbre aux ecus;Trung hoa: Bai Gua).

• Người ta nghĩ tác dụng chính là cải thiện lưu thông máu (blood flow) ở óc, mắt, và các bắp thịt (cơ).

• Nghiên cứu vể hạt bạch quả (seeds) còn ít; người ta thấy hạt bạch quả có những chất giết vi khuẩn, ngược lại cũng chứa chất độc tố có thể gây bất tỉnh (loss of consciousness) và co giật (epilepsy).

• Lá bạch quả hình quạt, có hai thuỳ, được dùng trong ngành y học " lề trái" (alternative medicine) của Mỹ, và đang được nghiên cứu khoa học trên loài vật.

• Gần đây một nghiên cứu của đại học Johns Hopkins (Mỹ), công bố trên báo y khoa “Stroke,” cho thấy ở chuột được chữa bằng ginkgo biloba, các mô thẩn kinh bị hư hại giảm xuống chứng một nửa, cũng như các rối loạn về thần kinh do stroke gây ra cũng giảm xuống chừng một nửa. Người ta nghĩ rằng có thể lá ginkgo biloba làm vô hiệu hoá các gốc hoá học tự do (free radical) chung quanh nơi xảy ra stroke.Tuy nhiên xin nói rõ, đây là thí nghiệm trên chuột, chưa có gì chứng tỏ áp dụng được kết quả này trên con người.

(Ref:Can ginkgo protect from strokes? http://www.nhs.uk/news/2008/10October/Pages/Ginkgoandstrokeprevention.aspx)

Cũng như mọi khi, những điều chúng ta bàn ở đây chỉ có tính cách thông tin. Thính giả cần tham khảo trực tiếp với bác sĩ của mình.

Chúc bệnh nhân may mắn.

Bác sĩ Hồ văn Hiền.

-----------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com, bấm vào mục Hỏi Đáp Y Học trong phần chuyên mục. Các bài giải đáp y học khác cũng được lưu trữ trong phần này.

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.
 

Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

Thứ năm, 21/03/2013


Tin tức / Sức khỏe

Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

CỠ CHỮ - +
Chuyên gia phụ trách giải đáp thắc mắc y học kỳ này là Bác sĩ Hồ Văn Hiền, chuyên khoa nhi và y khoa tổng quát, có phòng mạch và đang làm việc cho các bệnh viện ở Bắc Virginia.

Thính giả Lê Giang ở Philadelphia, bang Pennsylvania, email đến câu hỏi sau đây:

“Xin hỏi về thuốc trụ sinh.

Khi tôi còn ở Việt Nam cách nay khoảng 20 năm, đau bệnh gì đi các thầy thuốc cũng được cho uống ‘thuốc trụ sinh’, đứt tay, ghẻ lở cũng ra nhà thuốc mua bột thuốc trụ sinh xức vào, có lúc khỏi bệnh, có lúc không. Thuốc thì lúc màu vàng, lúc màu đỏ, nhưng hình như đều có tên với cái đuôi là ‘cillin’.

Khi tôi di dân sang Mỹ, thuốc trụ sinh không mua được dễ dàng như vậy nữa và phải có toa bác sĩ theo quy định về thuốc men ở Mỹ -- là điều tôi có thể hiểu được. Thế nhưng cách uống thuốc thì khác, dường như lần nào phải uống trụ sinh, bác sĩ đều ra toa cho tôi phải uống 10 ngày liên tục, cho dù bệnh không còn thấy nữa sau vài ngày uống thuốc.

Xin hỏi:

1. Thuốc trụ sinh và kháng sinh là một phải không?
2. Tên thuốc có đuôi “cillin” là trụ sinh có đúng không? Khi xưa, thời còn chiến tranh ở Việt Nam, tôi hay nghe nói đến thuốc penicillin lắm, bây giờ thuốc này có còn hữu dụng như vậy nữa hay không?
3. Tại sao phải uống thuốc trụ sinh 10 ngày liên tục như vậy, như trong trường hợp của tôi?
4. Uống trụ sinh nhiều bị vàng răng, có đúng không?
"

Chúng tôi đã chuyển thắc mắc cho bác sĩ Hồ Văn Hiền, và sau đây là phần giải đáp của bác sĩ Hiền:
Hỏi đáp Y học: Thuốc trụ/kháng sinh

Trả lời ông Lê Giang (VOA)

1) Trụ sinh hay kháng sinh: ”trụ” - từ Hán Việt có nghĩa là “chống”, “kháng” có nghĩa tương tự. “Sinh” là đời sống. Trước 1975, miền nam VN gọi là trụ sinh, hiện nay gọi là kháng sinh để dịch từ antibiotic, (có lẽ theo tiếng quan thoại cũng gọi là kháng sinh) (anti=chống, “bio” đời sống, ví dụ biology là khoa học về đời sống.)

2) Penicillin:

Sir Alexander Fleming (1881-1955) là một nhà bác học người Tô cách lan (Scottish), tình cờ tìm ra một chất do nấm Penicillium notatum sản xuất (1928). Fleming để quên không rửa một đĩa Petri cấy vi khuẩn staphylococcus, và mấy ngày sau, ông thấy một loại nấm từ đâu rơi vào, mọc trong môi trường cấy. Chung quanh các chỗ nấm mọc, vi khuẩn staphylococcus không mọc được, ông mới kết luận là những nấm này tiết ra một chất có khả năng chống lại vi khuẩn. Ông trích được từ môi trường cấy một chất mà ông đặt tên là penicillin (PNC). Nhờ đó mà năm 1945 ông được chung giải Nobel y khoa với hai nhà khoa học khác có công ứng dụng penicillin trong y học lâm sàng. Chất này được gọi là penicillin do tên của nấm (fungus) penicillium sản xuất ra nó.

Tuy nhiên, hồi đó Fleming chỉ nghĩ đến dùng penicillin như một chất sát trùng ngoài da. Phải nhờ nhiều nghiên cứu khác thì năm 1942 mới có những thử nghiệm lâm sàng dùng penicillin chữa bệnh trên người.Thuốc hồi đó cực kỳ hiệu nghiệm với một số vi khuẩn như vi trùng gây bệnh giang mai (syphilis), bệnh lậu (gonorrhea), vi trùng bệnh scarlet fever, là những bệnh ghê gớm nhất thời đó. Thuốc penicillin V để uống,còn có penicillin chích thịt hoặc truyền tĩnh mạch, thuốc procaine Penicillin chích thịt (tác dụng kéo dài hơn, chích mỗi ngày một lần, thuốc benzathine penicillin còn kéo dài hơn nữa, chỉ cần chích một tháng một lần, để chữa giang mai, ngừa viêm khớp thấp cấp tính (acute rheumatic fever).

Sau này những thuốc trụ sinh khác được tổng hợp cũng như được khám phá ra từ các nguồn khác. Một số lớn thuốc tương tự trong gia đình penicillin (“beta-lactam antibiotics”) tên có đuôi -cillin như amoxicillin, methicillin, được dùng cho những hoàn cảnh với nhu cầu khác nhau. Ví dụ ampicillin có quang phổ trị liệu rộng hơn penicillin, amoxicillin hấp thụ tốt hơn ampicillin, methicillin trị các vi khuẩn kháng penicillin.

Hiện nay, người ta không dùng penicillin để rảy bột, thoa trên vết thương vì các vi trùng ngoài da phần lớn đã lờn thuốc, thuốc PNC dùng vào vết thương rát và khó chịu, thuốc hấp thụ vào máu không đồng đều, đi vào các khe vết thương cũng không tin cậy, có thể gây cơ thể dị ứng với penicillin và nhất là có những thuốc thoa tốt hơn như bacitracin, neomycin, hay gần đây mupirocin (Bactroban) hiệu nghiệm với vi trùng staphylococcus hơn.

3) Tại sao bác sĩ dặn dùng trụ sinh trong 10 ngày?

Thuốc dùng 10 ngày trong một số trường hợp mà bs sĩ ước tính, căn cứ trên các nghiên cứu lâm sàng, là thời gian 10 ngày cần để chữa cho dứt bệnh. Ví dụ, bệnh nhân bị nhiễm streptococcus Group A trong amidan, bác sĩ dặn uống mười ngày, dù hết nóng, hết đau họng. Lý do bs muốn dứt hẳn vi khuẩn trong người bệnh, để tránh hậu hoạ về sau, vì nhiễm vi trùng này có thể gây ra bệnh thấp khớp cấp tính (acute rheumatic fever) là một bệnh có thể làm đau tim, viêm cơ tim, viêm và hư các van tim. Tuy nhiên, đây chỉ là ước tính, căn cứ trên thống kê số đông từng được nghiên cứu.

Ví dụ khác, như thuốc azithromycin dùng chữ viêm tai giữa (otitis media) nhưng chỉ uống 5 ngày, trong lúc dùng amoxicillin thì uống 10 ngày; đều là những khuyến cáo trên các nghiên cứu lâm sàng. Nhiễm trùng đường tiểu nếu chỉ ở bọng đái có thể chỉ uống kháng sinh một liều cao, hoặc ba ngày, nhưng nếu bs nghi nhiễm trùng liên hệ đến thận, có thể cho bệnh nhân uống 2-3 tuần kháng sinh, nhất là ở trẻ em, để tránh hư hại thận và các biến chứng về sau.Hay người bệnh lao có thể uống thuốc hàng tháng , hàng năm.

Căn cứ trên những nghiên cứu mới, hiện nay y khoa Mỹ cũng như thế giới thiên về y khoa thực chứng (evidence based medicine), người ta xét lại rất thường xuyên, rất nhiều các khuyến cáo này.

4) Răng vàng do tetracycline (tetracycline tooth staining)

Một số thuốc như thuốc kháng sinh loại tetracycline (oxytetracycline, chlortetracycline, minocycline), nếu trẻ em uống vào lúc chúng dưới 8 tuổi (lúc các răng thường trực đang thành hình), kháng sinh sẽ đi vào cơ cấu mô răng của chúng làm cho răng đổi màu vàng (sau đó có thể biến thành màu nâu), cũng như ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của các xương khác. Đàn bà có bầu cũng không được dùng tetracycline và các kháng sinh liên hệ vì tác dụng tương tự trên thai nhi, làm răng sữa chúng bị vàng. Sau 8 tuổi dùng kháng sinh tetracycline không làm vàng răng. Các thuốc kháng sinh khác không làm vàng răng vĩnh viễn như tetracycline, trừ một số ngoại lệ như ciprofloxacin . Thường bác sĩ chữa cho các em đều biết chuyện này và tránh tetracycline cho trẻ em dưới 8 tuổi, trừ trường hợp bất khả kháng, dùng rất ngắn hạn.

Chúc quý thính giả may mắn.
Bác sĩ Hồ Văn Hiền

-------------------------------------

Cảm ơn bác sĩ Hồ Văn Hiền. Chúng tôi cũng xin cảm ơn thính giả đã tham gia chương trình Hỏi Đáp Y Học này.

Quý vị có thể nghe lại các bài giải đáp trên mạng Internet ở địa chỉ voatiengviet.com

Chúng tôi vẫn dành đường dây điện thoại miễn phí để tiếp nhận các thắc mắc khác của quý thính giả về sức khỏe và y học thường thức. Số điện thoại miễn phí dành cho mục Hỏi Đáp Y học là 202-205-7890, ngày giờ nhận câu hỏi là thứ ba và thứ năm mỗi tuần, từ 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 tối, giờ Việt Nam. Quý vị cũng có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi qua điện thư ở địa chỉ Vietnamese@voanews.com.