Posts tonen met het label tiểu đường. Alle posts tonen
Posts tonen met het label tiểu đường. Alle posts tonen

dinsdag 11 oktober 2016

Ăn nhiều chất béo không bão hòa từ thực vật và cá giúp giảm nguy cơ tiểu đường

Ăn nhiều chất béo không bão hòa từ thực vật và cá giúp giảm nguy cơ tiểu đường

Việt Hà, phóng viên RFA
2016-08-22
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Chất béo không bão hòa đơn (Mono-unsaturated fat)
Chất béo không bão hòa đơn (Mono-unsaturated fat)
Internet photo
Những người quan tâm đến những vấn đề về sức khỏe khi mua thực phẩm thường được khuyên nên tránh mua những thực phẩm quá béo, có chứa quá nhiều đường và tinh bột đã qua chế biến để tránh các nguy cơ bệnh tim mạch và tiểu đường. Nhưng không phải thực phẩm nào có chất béo cũng là xấu. Theo các nhà khoa học, có những chất béo cần phải được ăn nhiều hơn những chất béo khác để giúp cải thiện sức khỏe.

Chất béo bão hòa

Khi bạn ra chợ mua thực phẩm, nhìn vào nhãn hàng bạn có thể đọc thấy những thành phần của thực phẩm như chất béo, đường, tinh bột và calories. Trong những thành phần này, hãy chú ý đến thành phần chất béo bao gồm chất béo bão hòa và không bão hòa hay còn được viết bằng tiếng Anh là saturated fat và unsaturated fat. Hai loại chất béo này theo các nhà khoa học có tác động hoàn toàn trái ngược nhau lên sức khỏe của con người.
Nói về chất béo bão hòa hay còn gọi là chất béo chuyển hóa, bác sĩ Suzanne Judd, chuyên gia dịch tễ dinh dưỡng thuộc trường đại học Alabama, Hoa Kỳ, cho biết:
“Chúng ta đã biết từ nhiều nghiên cứu trước đây là chế độ ăn có quá nhiều chất béo bão hòa sẽ gây nghẽn mạch máu, từ đó dẫn đến tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim.”
Nhiều nghiên cứu xem xét về cơ chế làm giảm đường trong máu của chất béo không bão hòa. Một lý thuyết cho rằng nó giúp kiềm chế stress do oxi hóa trong tế bào, phản ứng với viêm nhiễm, và đồng thời làm giảm các chất độc từ các axit béo tự do.
- Bác sĩ Fumiaki Imamura
Chất béo bão hòa có nhiều trong các sản phẩm có nguồn gốc động vật, bao gồm các sản phẩm từ sữa, phô mai, các loại thịt mỡ. Theo lý thuyết, gan dùng chất béo bão hòa để sản xuất ra cholesterol. Chế độ ăn có quá nhiều chất béo bão hòa sẽ làm tăng lượng cholesterol trong máu, đặc biệt là loại cholesterol xấu, yếu tố dẫn đến các nguy cơ bệnh về tim mạch.
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà khoa học trên thế giới đã lên tiếng cảnh báo về tác hại của loại chất béo này. Kết quả là mọi người thường được khuyên là nên chọn ăn các loại đồ ăn ít béo như sữa không béo, phô mai không béo, hay ăn margarine thay cho bơ. Thậm chí mọi người cũng được khuyên là không nên ăn nhiều trứng vì trứng cũng có lượng chất béo bão hòa cao.
Tuy nhiên, một nghiên cứu vào năm 2014 tại Mỹ lại cho một kết quả khác hẳn khi các bác sĩ tham gia nghiên cứu này nhận định chất béo bão hòa không hẳn xấu như người ta vẫn nghĩ. Nghiên cứu dựa vào 72 nghiên cứu đã công bố về mối liên quan giữa các loại chất béo với bệnh tim ở hơn 600.000 người tham gia ở 18 nước. Các nhà khoa học nhận định chất béo bão hòa dường như không làm tăng nguy cơ bệnh tim. Các nhà khoa học cũng nhận định các loại axit béo không bão hòa như omega 3 và omega 6 vốn có nhiều trong cá, và thực vật lại có tác dụng tốt cho tim.
Kết quả này sau đó cũng nhận phải những phản bác từ một số nhà khoa học. Các nhà khoa học thuộc trường đại học Harvard, Mỹ vào năm ngoái đã tiến hành một nghiên cứu khác về chất béo bão hòa, đường và tinh bột đã qua chế biến trong đồ ăn. Chuyên gia nghiên cứu Adela Hruby, thuộc khoa dinh dưỡng, trường đại học y tế cộng đồng, đại học Harvard cho biết:
“Chúng tôi có thể nói là chất béo bão hòa không phải là tốt. Những nghiên cứu trước nói rằng không có mối liên quan giữa chất béo bão  hòa với nguy cơ bệnh tìm cũng đúng ở điểm là người ta so sánh nó với những yếu tố khác cũng không tốt cho biêm như tinh bột qua chế biến, và đường… Nhưng nếu chúng ta so sánh chất béo bão hòa với các chất béo không bão hòa đơn, hoặc chất bột không chế biến thì khác.”
Các nhà nghiên cứu ước tính việc thay thế 5% năng lượng nhập vào cơ thể từ chất béo bão hòa bằng các chất béo không bão hòa đơn và bột nguyên chất không qua chế biến có thể làm giảm khoảng từ 9% đến 25% nguy cơ bệnh tim mạch.

Chất béo không bão hòa

Chất béo không bão hòa bao gồm loại chất béo đơn và chất béo đa. Chất béo không bão hòa đa được tìm thấy chủ yếu trong các loại dầu thực vật, dầu cá. Loại chất béo này được cho là có thể giúp hạ mức cholesterol trong máu. Tuy nhiên theo các bác sĩ, việc dùng quá nhiều loại chất béo này cũng làm giảm lượng cholesterol tốt cho cơ thể.

chat-beo-2.jpg
Chất béo bão hòa. Internet photo

Chất béo không bão hòa đơn có nhiều trong các loại rau, dầu thực vật như dầu olive, đậu phộng. Loại chất béo này được cho là có tác dụng làm giảm cholesterol xấu mà không làm ảnh hưởng tới cholesterol tốt.
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc trường đại học Tufts ở Mỹ kết hợp với các nhà khoa học thuộc trường đại học Cambridge, Anh, cho thấy việc ăn nhiều hơn các loại chất béo không bão hòa, đặc biệt là không bão hòa đơn còn giúp làm giảm nguy cơ hoặc giúp kiểm soát bệnh tiểu đường type 2. Nói về nghiên cứu này, bác sĩ Fumiaki Imamura, đồng tác giả của nghiên cứu thuộc trường đại học Cambridge cho biết:
“Chúng tôi tiến hành hơn 100 thử nghiệm, trong đó những nhà nghiên cứu sẽ cho người tham gia nghiên cứu ăn những bữa ăn và sau đó chúng tôi cho biết các thông số về số lượng chất béo, tinh bột và chất đạm (protein) trong các bữa ăn và kết quả cuối của những thử nghiệm bao gồm các thông số về đường trong máu lúc đói, chỉ số A1C. Dựa trên những số liệu đã có chúng tôi phân tích ảnh hưởng của các loại chất béo không bão hòa (unsaturated fat) lên những chỉ số đó và chúng tôi thấy nhìn chung là các loại chất béo không bão hòa, tức là các chất béo từ cây củ, hạt và cá cải thiện khả năng điều hòa đường trong máu, khác với các loại chất béo bão hòa và tinh bột.”
A1C là một thông số trong xét nghiệm máu, thường được sử dụng để chẩn đoán bệnh tiểu đường type 1 và type 2 và cũng dùng để đánh giá việc kiểm soát bệnh tiểu đường như thế nào.
Theo kết quả của nghiên cứu mới, việc ăn thay thế các loại chất béo bão hòa và tinh bột bằng những loại chất béo không bão hòa, đặc biệt là không bão hòa đơn, giúp làm cải thiện đáng kể những thông số trong xét nghiệm máu và giảm nguy cơ các bệnh tiểu đường và tim mạch. Bác sĩ Imamura giải thích:
“Theo tính toán của chúng tôi, chỉ số A1C có thể được cải thiện 0.1% trong 100 kcalorie từ tinh bột  được thay thế bằng 100 kcalories từ các axit béo không bão hòa đơn cho một cá nhân có chế độ ăn 2.000 kcalories. Con số này có thể không rõ ràng đối với tất cả mọi người nhưng chúng tôi biết được là 0.1% A1C cũng gần tương đương với việc giảm khoảng 20% nguy cơ tiểu đường type hai và khoảng 7% nguy cơ  bệnh tim mạch.”
Nói về cơ chế tác động giữa chất béo không bão hòa lên các thông số sức khỏe, bác sĩ Imamura cho biết:
“Có nhiều nghiên cứu xem xét về cơ chế làm giảm đường trong máu của chất béo không bão hòa. Một lý thuyết cho rằng nó giúp kiềm chế stress do oxi hóa trong tế bào, phản ứng với viêm nhiễm, và đồng thời làm giảm các chất độc từ các axit béo tự do trong cơ thể, cải thiện hiện tượng kháng insulin trong cơ thể. Vì các chất béo nguyên chất có sẵn trong tự nhiên nên cơ thể chúng ta được cấu tạo để có thể tiêu hóa các loại chất béo này theo nhiều cách. Chúng tôi không thể chỉ ra một đường cụ thể nhưng dường như có nhiều cơ chế giải thích những ích lợi của những loại chất béo tự nhiên nguyên chất này.”

Chế độ ăn cân bằng giữa hai loại chất béo

Dù có hại hay không có hại, lượng các loại chất béo đưa vào cơ thể cũng được khuyến cáo cụ thể. Đối với các chất béo bão hòa, các bác sĩ thường khuyên mọi người giới hạn mức năng lượng nạp vào cơ thể từ loại chất béo này không quá 10% một ngày. Mức này cũng được áp dụng tương đương với chất béo không bão hòa đa. Với chất béo không bão hòa đơn, mức này được khuyến cáo là từ 10-15%.
Chúng ta nên cố gắng thay những loại bột tinh chế và chất béo bão hòa bằng các loại chất béo không bão hòa nhưng vẫn phải cân nhắc các thành phần khác như chất xơ.
- Bác sĩ Fumiaki Imamura
Theo bác sĩ Imamura, mặc dù nghiên cứu mới cho thấy những ích lợi của việc thay thế các chất bột đã qua chế biến và đường bằng những chất béo không bão hòa, nhưng việc theo đuổi một chế độ ăn khắt khe, loại bỏ hoàn toàn các loại chất bột tinh chế, đường và chất béo bão hòa là điều không thể. Vì vậy ông chỉ khuyên mọi người nên hạn chế những loại không tốt mà thôi.
“Chúng tôi không xét đến các thử nghiệm chế độ ăn khắt khe quá mức như không có chút nào tinh bột hay không có chất béo bão hòa, vì chúng tôi biết là không thể nào duy trì được một chế độ ăn nghiêm ngặt như vậy với mọi người. Nhưng chúng tôi có thể nói thế này: trong một chế độ ăn bình thường, chúng ta nên cố gắng thay những loại bột tinh chế và chất béo bão hòa bằng các loại chất béo không bão hòa nhưng vẫn phải cân nhắc các thành phần khác như chất xơ chẳng hạn. Dựa trên nghiên cứu này chúng tôi chỉ có thể khuyên mọi người nên hạn chế đường, bột tinh chế, các loại rau củ có quá nhiều tinh bột và thay thế chúng bằng đồ ăn có chất béo từ rau củ và cá, hạt.”
Một số các nghiên cứu khác trước đây cho rằng, việc ăn một số loại rau củ có tinh bột nhưng nhiều chất xơ như khoai lang chẳng hạn cũng giúp kiểm soát thành công bệnh tiểu đường. Tuy nhiên theo bác sĩ Imamura, bên cạnh việc hạn chế đường, chất béo bão hòa, mọi người cũng không nên ăn quá nhiều các loại củ có tinh bột như khoai lang hay sắn.
Xin quý vị chia sẻ các thông tin và những đóng góp về các vấn đề y tế, sức khỏe đến trang tạp chí sức khỏe đời sống tại email vietha@rfa.org hoặc www.facebook.com/vietharfa.

Thức ăn chiên/rán và nướng có thể gây ung thư và tiểu đường

Thức ăn chiên/rán và nướng có thể gây ung thư và tiểu đường

Đồ ăn nướng và rán/chiên thường là những loại thức ăn hấp dẫn nhiều người vì mùi vị đặc trưng của chúng. Tuy nhiên theo các nhà khoa học, việc ăn thường xuyên các loại thức ăn này có thể khiến người ta dễ bị ung thư hoặc tiểu đường dạng 2. Tại sao những đồ ăn chế biến dạng khô lại có thể làm tăng nguy cơ bệnh tật ở người?

Đồ nướng và rán/chiên làm tăng nguy cơ tiểu đường

Bún chả Hà Nội, bún thịt nướng, nem rán/chiên là những món ăn ngon và quen thuộc với nhiều người. Đa số các bữa tiệc của người Việt đều phải có ít nhất một món nướng hay rán này. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, việc ăn những đồ ăn này thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ bị tiểu đường dạng hai ở người.
Tiểu đường là một bệnh không lây nhiễm rất phổ biến trên thế giới hiện nay. Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có khoảng 400 triệu người mắc bệnh tiểu đường trên toàn thế giới. Tại Việt Nam con số này là khoảng 3 triệu người, theo ước tính được công bố vào năm nay của Bộ Y tế.
Một nghiên cứu mới được công bố gần đây của các nhà khoa học thuộc trường đại học Y Icahn Mount Sinai ở New York, cho thấy nguy cơ tiểu đường tăng cao ở những người đã có một số yếu tố rủi ro nhất định liên quan đến bệnh tiểu đường khi thường xuyên ăn những lọai đồ ăn chế biến khô như nướng và rán. Để tiến hành nghiên cứu, các bác sĩ đã chọn ra 99 người có độ tuổi từ 50 trở lên. Những người này được chia làm hai nhóm. Tất cả người tham gia nghiên cứu đều có những rủi ro bệnh tiểu đường như có hội chứng chuyển hóa hoặc bị kháng insulin. Mục đích mà các bác sĩ muốn tìm hiểu là liệu các hợp chất được hình thành khi thực phẩm được chế biến ở nhiệt độ cao và trong điều kiện khô trong một thời gian dài có ảnh hưởng thế nào đến tình trạng tiểu đường ở người. Các hợp chất này được gọi là AGEs. Bác sĩ Jaime Uribarri, người đứng đầu nghiên cứu cho biết
Bằng cách theo đuổi chế độ ăn kiểu này, ngay cả khi người tham gia nghiên cứu không thay đổi lượng đạm, chất béo và calories, tinh bột thì chúng tôi cũng thấy có những lợi ích. - Bs. Jaime Uribarri
Bs. Jaime Uribarri: Chúng tôi chọn những người bị hội chứng chuyển hóa, bị kháng insulin. Những người này thường ăn các đồ ăn có AGEs cao. Rồi chúng tôi chọn bất kỳ trong số họ một nhóm người vẫn tiếp tục ăn chế độ ăn như cũ và một nhóm ăn ít hơn bằng cách thay đổi cách nấu nướng. Chúng tôi làm nghiên cứu trong 1 năm. Các chuyên gia về dinh dưỡng theo dõi chế độ ăn của họ, nói chuyện với họ để đảm bảo là họ theo đúng cách nấu mà chúng tôi hướng dẫn. Chúng tôi không cố ý thay đổi những lượng dinh dưỡng như đạm, lượng calories hay tinh bột trong chế dộ ăn của họ để xem cách nấu ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe của họ. Cuối năm, chúng tôi thấy những người có chế độ ăn ít AGEs bị kháng insulin ít hơn. Bằng cách theo đuổi chế độ ăn kiểu này, ngay cả khi người tham gia nghiên cứu không thay đổi lượng đạm, chất béo và calories, tinh bột thì chúng tôi cũng thấy có những lợi ích.
Theo bác sĩ Uribarri, các hợp chất AGEs có tác động trực tiếp lên các protein ở tế bào và làm thay đổi các chức năng của các protein này, từ đó dẫn đến một loạt các viêm nhiễm trong cơ thể, gây kháng insulin, dấu hiệu đầu tiên dẫn đến bệnh tiểu đường dạng hai. Bác sĩ Uribarri cho biết, một người chỉ cần giảm khoảng 30% lượng các chất AGEs ăn vào cơ thể cũng làm giảm đáng kể các nguy cơ tiểu đường thể hiện qua các chỉ số về sức khỏe như viêm nhiễm và kháng insulin. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người theo đuổi chế độ ăn ít chất AGEs hơn cũng giảm được cân.
Trước đó, các nhà khoa học thuộc trường đại học y Icahn cũng đã làm một nghiên cứu tương tự về tác động của các chất AGEs lên sức khỏe của những người khỏe mạnh. Bác sĩ Uribarri cho biết:
Bs. Jaime Uribarri: Trong một nghiên cứu trong quá khứ mà chúng tôi đã công bố, chúng tôi chọn những người khỏe mạnh và cũng chia nhóm bất kỳ. Những người này cũng ăn chế độ có nhiều AGEs. Cuối cùng chúng tôi thấy là các chỉ số sức khỏe ở những người  ăn thực phẩm có ít AGEs tốt hơn ở những người ăn nhiều AGEs.  Từ điểm này, chúng tôi có xu hướng tin rằng ngay cả người khỏe mạnh nếu ăn chế độ ăn như vậy trong thời gian dài thì họ cũng có thể bị tiểu đường.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Uribarri các nhà khoa học vẫn cần thêm các nghiên cứu khác để khẳng định kết luận này.

Đồ nướng và chiên/ rán với bệnh ung thư

Thực phẩm nướng và chiên/rán từ lâu cũng bị cho là có liên quan đến nguy cơ ung thư ở người. Một nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Ung thư Anderson, trường đại học Texas, Hoa Kỳ, hồi năm ngoái cho thấy thịt rán ở nhiệt độ cao hoặc thịt nướng trực tiếp trên lửa tạo ra những chất có thể gây ung thư. Tiến sĩ Stephanie Melkonian, người đứng đầu nghiên cứu này cho đài Á châu Tự do biết:
Khi chúng ta cứ ăn những chất gây ung thư như vậy thì thận sẽ phải tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung. Vì vậy việc cơ thể bị tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung thư làm tăng nguy cơ ung thư thận. - Stephanie Melkonian
Stephanie Melkonian: Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy cách mà chúng ta chế biến thịt cũng làm sản sinh ra những chất gây ung thư… Đây là những chất sinh ra khi thịt được chế biến ở nhiệt độ cao, trực tiếp trên lửa và có vết bén cháy. Khi chúng ta nghĩ về thận thì chúng ta biết là thận có nhiệm vụ lọc những độc tố khỏi cơ thể. Khi chúng ta cứ ăn những chất gây ung thư như vậy thì thận sẽ phải tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung. Vì vậy việc cơ thể bị tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ung thư làm tăng nguy cơ ung thư thận.
Trong nghiên cứu này các nhà khoa học cũng nhận thấy những người bị ung thư thận thường là những người ăn nhiều thịt và họ thường bị tiếp xúc với nitrogen phát sinh từ thịt chế biến nhiều hơn so với mức bình thường.

Thay đổi cách chế biến đồ ăn giảm nguy cơ bệnh

Theo bác sĩ Uribarri, việc thay đổi cách nấu đồ ăn sẽ giúp làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh tật ở người, đặc biệt là với bệnh tiểu đường dạng hai. Các phương pháp hấp, hầm, luộc được khuyên dùng nhiều hơn thay cho các phương pháp nướng và rán đồ ăn ở nhiệt độ cao trong thời gian dài. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là người ta có thể bỏ hoàn toàn việc nướng và chiên/rán đồ ăn.
Việc tẩm ướp gia vị, theo bác sĩ Uribarri, cũng góp phần đáng kể làm giảm sự phát sinh các chất AGEs trong thực phẩm chế biến.
Bs. Jaime Uribarri: việc tẩm ướp gia vị trước khi nấu cũng rất quan trọng, ví dụ như khi bạn cho thêm chanh hay dấm vào thì bạn làm giảm sự hình thành các chất có hại này. Cho nên khi bạn không dùng nhiệt độ quá cao, bạn steam đồ ăn và tẩm ướp các gia vị như chanh, dấm, cà chua… bạn có thể làm giảm sự hình thành các chất AGEs.
Tuy nhiên, bác sĩ Uribarri cũng cho biết có một số thực phẩm vốn có nhiều AGEs ngay từ đầu trước khi qua chế biến so với các thực phẩm khác. Những thực phẩm vốn có nhiều các chất AGEs bao gồm thịt đỏ và pho mát. Các thực phẩm vốn có ít các chất AGEs nhất là các loại rau xanh. Các loại thực phẩm từ ngũ cốc có ít AGEs bao gồm gạo và hạt yến mạch (oatmeal). Bác sĩ Uribarri cho rằng thật khó để có thể bỏ hoàn toàn các chất AGEs trong thực phẩm chúng ta ăn vào hàng ngày, nhưng chỉ cắt giảm một nửa số này cũng làm cải thiện đáng kể sức khỏe.
BS. Jaime Uribarri: trong nghiên cứu chúng tôi cố gắng giảm 50% lượng các chất AGEs ăn vào. Tôi không nói là chúng ta có thể bỏ hẳn được toàn bộ AGEs nhưng vấn đề là mức độ. Chúng tôi nghĩ là chỉ cần giảm AGEs thì cũng có thể làm thay đổi các chỉ số sức khỏe theo hướng tốt.
Theo hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, mọi người nên ăn nhiều rau quả trong chế độ ăn của mình hơn. Khuyến cáo chung khi ăn thịt với một người lớn khỏe mạnh là không nên ăn quá 3 đến 4 ounces, tương đương từ 85 đến 113 gram thịt một suất ăn. Nếu nhìn vào kích cỡ của miếng thịt thì không lớn hơn một bàn tay.
Tạp chí sức khỏe đời sống tuần này xin tạm dừng tại đây. Việt Hà cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi. Xin quý vị chia sẻ các thông tin về các vấn đề y tế, sức khỏe đến trang tạp chí sức khỏe đời sống tại email vietha@rfa.org hoặc www.facebook.com/vietharfa

dinsdag 25 maart 2014

Khổ qua - Mướp đắng có thể chữa lành các bịnh : Tiểu đường - Sỏi thận - Giảm cholesterol - Ung thư tuyến tụy

10 lý do không nên bỏ qua mướp đắng

Dù có vị hơi đắng, nhưng mướp đắng (hay khổ qua) lại rất hữu ích với sức khỏe. Để có được lợi ích đó, hãy tìm mua và nấu ăn nó thường xuyên
muop-3937-1395390404.jpg
1. Bệnh tiểu đường loại II
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mướp đắng làm giảm lượng đường trong máu thông qua việc tăng cường trao đổi glucose. Uống một cốc nước ép mướp đắng mỗi ngày và trải nghiệm hiệu quả. Ngừng uống nếu bạn bị đau bụng, tiêu chảy hoặc sốt. Theo dõi lượng đường trong máu thường xuyên và điều chỉnh thuốc khi cần thiết, với sự trợ giúp của bác sĩ.
2. Sỏi thận
Sỏi thận cực kỳ đau đớn. Mướp đắng có thể giúp bạn thoát khỏi căn bệnh này một cách tự nhiên. Mướp đắng làm giảm axit cao gây ra sỏi trong cơ thể. Hòa bột mướp đắng với nước để tạo thành một loại trà hữu dụng cho sức khỏe. Loại trà này có hương vị hấp dẫn và bạn có thể sử dụng mà không cần thêm đường.
3. Giảm lượng cholesterol
Mướp đắng giúp làm giảm lượng cholesterol, từ đó giúp bạn thoát khỏi nguy cơ mắc bệnh đau tim và đột quỵ. Cholesterol cao chỉ có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu. Ăn mướp đắng thường xuyên sẽ đem lại hiệu quả đáng ngạc nhiên.
4. Ung thư tuyến tụy
Một trong những lợi ích sức khỏe đáng ngạc nhiên nhất của mướp đắng là đặc tính chống ung thư. Mướp đắng đã được chứng minh có tác dụng làm gián đoạn việc sản xuất đường, có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư tuyến tụy. Nó cũng có thể ức chế tế bào ung thư khác trong gan, đại tràng, vú, hoặc tuyến tiền liệt.
5. Tốt cho da
Mướp đắng rất có lợi cho da. Uống nước ép mướp đắng thường xuyên có thể làm làn da trắng và mịn màng, giảm mụn trứng cá. Mướp đắng thậm chí còn giúp điều trị bệnh vẩy nến và eczema... Hãy thử món canh mướp đắng để chữa các bệnh ngoài da hoặc cho làn da đẹp hơn.
6. Giảm cân
Mướp đắng rất ít calo và rất nhanh làm bạn cảm thấy no. Ăn mướp đắng thường xuyên giúp bạn giảm cân hoặc duy trì mức cân nặng lý tưởng. Loại quả này cũng chứa hàm lượng dinh dưỡng cao.
7. Bổ gan
Mướp đắng là thực phẩm bổ gan, hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện chức năng túi mật, và làm giảm tích trữ chất lỏng. Xơ gan, viêm gan, táo bón có thể thuyên giảm bởi mướp đắng. Bạn nên uống nước ép mướp đắng ít nhất một lần một ngày. Mướp đắng cũng hỗ trợ giảm cân và làm giảm triệu chứng ruột kích thích.
8. Chuyển hóa carbonhydrate
Đây là một lợi ích rất quan trọng đối với những người có bệnh tiểu đường loại II. Carbohydrate chuyển sang đường, và mướp đắng giúp chuyển hóa các loại đường. Chuyển hóa carbohydrate nhanh hơn có nghĩa là ít chất béo được lưu trữ trong cơ thể hơn dẫn đến giảm cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh. Chuyển hóa carbohydrate nhanh cũng hỗ trợ tăng trưởng và phát triển cơ bắp.
9. Nguồn Vitamine K dồi dào
Vitamine K giúp tăng cường sức khỏe của xương, chống đông máu, và là chất chống viêm. Vitamine K giúp cải thiện chứng viêm khớp, đau khớp. Việc bổ sung mướp đắng đáp ứng nhu cầu vitamine K hàng ngày cho cơ thể bạn. Ngoài ra, nó cũng là nguồn chất xơ tuyệt vời mà bạn không nên bỏ qua.
10. Tăng cường miễn dịch
Một hệ miễn dịch khỏe mạnh là quan trọng cho việc chống nhiễm trùng và bệnh tật. Mướp đắng giúp ngăn ngừa cảm lạnh và có lợi cho hệ tiêu hóa. Nó còn giúp ngăn chặn hoặc hạn chế dị ứng thực phẩm, loại bỏ các bệnh nhiễm trùng nấm men tự nhiên. Một lợi ích khác là giúp điều trị chứng trào ngược axit và chứng khó tiêu.

woensdag 12 juni 2013

Ô nhiễm xe hơi làm tăng nguy cơ tiểu đường

Thứ sáu 07 Tháng Sáu 2013

Ô nhiễm xe hơi làm tăng nguy cơ tiểu đường

DR

Thanh Phương
Ai cũng biết rằng ô nhiễm do xe hơi rất có hại cho sức khoẻ con người, nhưng một nghiên cứu vừa được đăng trên một tạp chí chuyên khoa của Anh quốc gần đây cho thấy là ô nhiễm này có thể gây ra nhiều loại bệnh và đặc biệt là làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.


Theo công trình nghiên cứu nói trên, những trẻ em lớn lên trong những khu vực bị ô nhiễm không khí nặng do lưu thông xe hơi có mức độ kháng insuline mạnh hơn, khiến cơ thể khó hấp thụ chất glucose và như vậy dễ bị bệnh tiểu đường type 2 hơn.
Các nhà khoa học Đức đã thu thập mẫu máu của 400 trẻ em 10 tuổi, đa số sống ở thành phố Munich và đã phân tích những khí thải từ xe hơi chung quanh căn nhà mà các em lớn lên. Để cho nghiên cứu được chuẩn xác, họ cũng đã tính đến những yếu tố như : gia cảnh, trọng lượng lúc mới sinh, chỉ số khối cơ thể và thói quen hút thuốc trong gia đình.
Kết quả cho thấy rõ ràng những em mà nhà gần đường lớn có mức độ kháng insuline cao. Cụ thể, nhà nằm gần 500 mét so với một con đường có nhiều xe cộ lưu thông, tức là bị ô nhiễm rất nặng, thì mức độ kháng insuline của trẻ em 10 tuổi tăng 7%.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên nêu lên mối liên hệ giữa bệnh tiểu đường với ô nhiễm không khí do xe hơi. Vấn đề bây giờ là xem nếu các em chuyển nhà đi nơi khác hoặc khi lớn lên, tác động nói trên có còn tiếp diễn hay không.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn chứng minh rằng ô nhiễm do xe hơi là nguyên nhân gây ra 14 ca bệnh suyễn nơi trẻ em, tức là tác hại cũng giống như là các em hít khói thuốc lá do người lớn hút.
Cũng cần phải thấy rằng xe hơi không chỉ gây ô nhiễm từ khói xe, mà còn gây ô nhiễm về tiếng ồn. Một êkíp nhà nghiên cứu của Anh quốc đã ghi nhận rằng nếu mỗi ngày phải chịu đựng một tiếng ồn trung bình 60 décibel thì nguy cơ huyết áp cao sẽ tăng 25%. Trên 64 décibel thì nguy cơ tăng đến 90%. Ai cũng biết rằng huyết áp cao dẫn đến đủ thứ bệnh tim mạch.
Tóm lại, tốt hơn hết là nên sống thật xa những con đường có mật độ lưu thông cao, nếu muốn kéo dài tuổi thọ.

http://www.viet.rfi.fr/khoa-hoc/20130607-o-nhiem-xe-hoi-lam-tang-nguy-co-tieu-duong

maandag 21 januari 2013

Mối liên hệ giữa ung thư vú và tiểu đường

Mối liên hệ giữa ung thư vú và tiểu đường

2013-01-17
Việc tìm hiểu mối liên hệ giữa ung thư và bệnh tiểu đường, đã được các nhà khoa học chú ý từ lâu. Đã có những bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa hai loại bệnh này.

Mới đây, một nghiên cứu mới ở Canada lại cho thấy có mối liên hệ khá rõ giữa ung thư vú và tiểu đường ở phụ nữ.

Ung thư vú dễ bị tiểu đường?

001_GR322814-220.jpg
Biểu đồ những thông số liên quan bệnh ung thư vú. AFP photo.
Ung thư vú và tiểu đường là hai căn bệnh khá phổ biến trên thế giới hiện nay. Cũng từ lâu, các nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành những nghiên cứu để tìm hiểu về mối liên hệ giữa ung thư, trong đó có ung thư vú với tiểu đường. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Canada cho thấy những phụ nữ đã từng bị ung thư vú có hơn 20% khả năng bị tiểu đường sau đó.

Bác sĩ Lorraine Lipscombe, thuộc viện nghiên cứu và bệnh viện cho phụ nữ ở Toronto, tác giả của nghiên cứu cho biết:
“Điều chúng tôi thấy là sau khi bệnh nhân được phát hiện bệnh thì nguy cơ bị tiểu đường không lên cao ngay, nó chỉ tăng lên 2 năm sau đó tới 7% so với những phụ nữ ở cùng độ tuổi nhưng không có ung thư. Và sau 10 năm thì những phụ nữ sống sót sau ung thư vú có nguy cơ bị tiểu đường cao hơn 20% so với những phụ nữ không có ung thư. Chúng tôi không chắc nguyên nhân vì sao, có thể là những phụ nữ bị ung thư vú cũng có những nguy cơ nghiêm trọng giống như ở những phụ nữ bị tiểu đường, hoặc cũng có thể là do những điều trị bệnh ung thư. Điều chúng tôi thấy là những phụ nữ đã qua hóa trị thì có nguy cơ bị tiểu đường cao rất sớm sau khi điều trị. Có thể là điều trị hóa trị đã mang tiểu đường đến cho những phụ nữ vốn có nguy cơ bị tiểu đường.”
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các số liệu y tế ở quận Ontario từ năm 1996 đến năm 2008 với gần 25.000 phụ nữ đã sống sót sau khi phát hiện ung thư vú có độ tuổi từ 55 trở lên, và khoảng gần 125.000 trường hợp phụ nữ có độ tuổi tương ứng nhưng không bị ung thư vú. Đây là nghiên cứu chủ yếu nhắm vào phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh.
Tuy nhiên, một nghiên cứu khác do bác sĩ Lipscombe thực hiện cũng cho thấy mối liên hệ này ngay trong số những phụ nữ trẻ tuổi bị ung thư vú. Bác sĩ Lipscombe cho biết:

Phát hiện bệnh thì nguy cơ bị tiểu đường không lên cao ngay, nó chỉ tăng lên 2 năm sau đó tới 7% so với những phụ nữ ở cùng độ tuổi nhưng không có ung thư.
Lorraine Lipscombe
“Chúng tôi cũng làm một nghiên cứu khác với những phụ nữ trẻ bị gene gây ung thư vú BRCA1 và BRCA2 và chúng tôi thấy cũng thấy kết quả tương tự. Chúng tôi thấy những phụ nữ trẻ bị gene ung thư vú thì cũng tăng khả năng bị tiểu đường trong tương lai. Vì vậy điều này không chỉ áp dụng với phụ nữ lớn tuổi.”
Gene BRCA1 và BRCA 2 là hai loại gene có tác dụng kiềm chế khối u. Các đột biến trong các gene này có thể dẫn đến ung thư vú và ung thư buồng trứng.

Mối liên hệ giữa ung thư và tiểu đường

Nghiên cứu của các nhà khoa học Canada phát xuất từ những nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ giữa hai loại bệnh ung thư và tiểu đường. Bác sĩ Lorrain Lipscombe nói:
“Tôi đã nghiên cứu mối liên hệ giữa ung thư và tiểu đường trong nhiều năm, ngày càng có nhiều bằng chứng cho rằng những bệnh nhân có tiểu đường thì cũng có nhiều nguy cơ bị một loạt các loại ung thư và tỷ lệ tử vong cao sau khi phát hiện ung thư. Vì thế tôi đã làm nghiên cứu về vấn đề này. Để có thể hiểu tốt hơn về dấu hiệu cho thấy mối liên hệ này. Chúng tôi tìm hiểu những nhân tố gây nguy hiểm chung giữa hai bệnh là gì, liệu đó là do béo phì hay do kháng insulin. Và nếu như vậy thì chúng tôi muốn xem xét là có chiều ngược lại không là bệnh nhân có ung thư thì cũng có khả năng bị bệnh tiểu đường cao.”
Theo một báo cáo gần đây của Hội Ung thư Mỹ và Hội tiểu đường Hoa Kỳ những người bị tiểu đường type 2 thường có nguy cơ cao hơn người không bị tiểu đường đối với các bệnh ung thư như ung thư gan, tụy, đại tràng và bọng đái.
Báo New York Times trích lời giáo sư dịch tễ và dinh dưỡng, Edward Giovannucci, thuộc trường đại học Havard cho biết ngày càng nhiều người được phát hiện mắc hai bệnh tiểu đường và ung thư cùng lúc. Có những ước tính cho thấy mối liên hệ giữa tiểu đường và ung thư có thể về mặt số lượng sẽ trở nên quan trọng hơn mối liên hệ giữa thuốc lá với ung thư.
000_Par6322969-250.jpg
Một hộp thuốc trị tiểu đường Actos (Pioglitazone) tại một hiệu thuốc ở Dijon, phía đông nước Pháp, ngày 09 tháng 6 năm 2011. AFP PHOTO / JEFF PACHOUD.
Số liệu thống kê của WHO vào năm 2008 cho biết có khoảng hơn 12 triệu ca mắc bệnh ung thư trên thế giới với các bệnh un thư phổ biến nhất là ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, cuống phổi, đại tràng và ung thư vú. Trong khi đó số liệu thống kê về những người bị bệnh tiểu đường trên toàn thế giới cho thấy trong những người từ độ tuổi 20 đến 79, có khoảng 285 triệu người bị tiểu đường. Trên toàn thế giới, ung thư là căn bệnh gây chết người thứ hai, còn tiểu đường là căn bệnh gây chết người thứ 12. Báo cáo của Hội Ung thư Mỹ và hội tiểu đường Hoa Kỳ cũng cho thấy ngày càng có nhiều người bị phát hiện có cả hai bệnh ung thư và tiểu đường cùng lúc.

Vậy những nhân tố chung có nguy cơ cao giữa hai bệnh là gì? Bác sĩ Lipscombe nói đến chứng kháng insulin trong tiểu đường là một yếu tố gây ung thư:
“Chứng kháng insulin có liên quan đến béo phì, tất nhiên không phải là tất cả mọi loại béo phì mà một số loại nhất định ví dụ như béo phì bụng tức là những phụ nữ có thân hình dáng trái táo. Khi bạn bị kháng insulin, ở thời kỳ đầu thì bạn có mức insulin rất cao trong máu, nó có tác dụng kiềm chế lượng đường trong máu lên cao để không bị tiểu đường sớm. Nhưng đã có bằng chứng là insulin cao có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vì insulin cũng là một nhân tố tác động. Sau nhiều năm bạn bị kháng insulin thì mức insulin bắt đầu hạ xuống và lúc đó có tiểu đường. Do mối liên hệ này và thời điểm của nó nên những người bị kháng insulin có thể bị ung thư sớm và sau đó bị tiểu đường.”
Insulin được biết là có tác dụng nuôi dưỡng sự tăng trưởng của tế bào. Trong khi đó, các tế bào ung thư lại tiêu thụ rất nhiều đường glucose so với các chất dinh dưỡng khác.

Đã có bằng chứng là insulin cao có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư vì insulin cũng là một nhân tố tác động.
Lorraine Lipscombe
Việc điều trị một trong hai căn bệnh cũng có thể coi là một mối liên hệ giữa hai bệnh mà theo giải thích của bác sĩ Lipscombe thì việc điều trị bệnh này có thể khiến bệnh kia xảy ra sớm hơn ở những người có nguy cơ cao. Ví dụ việc điều trị hóa trị với các bệnh nhân ung thư có thể khiến tiểu đường xuất hiện sớm hơn. Lý do được bác sĩ giải thích có thể là do hóa trị đã kiềm chế hormone estrogen. Thường những bệnh nhân sau khi được hóa trị dễ bị tăng cân, trong khi tăng cân được coi là một trong những yếu tố nguy hiểm dẫn đến bệnh tiểu đường. Ngoài ra glucorticoids, loại thuốc kê đơn có tác dụng giảm nôn được dùng khá phổ biến hiện nay trong điều trị hóa trị cũng tăng khả năng kháng insulin trong bệnh nhân.
Mặc dù vậy, bác sĩ Lipscombe cho rằng các nhà khoa học vẫn cần làm nhiều những nghiên cứu bổ xung để có thể làm rõ hơn về mối liên hệ qua lại giữa hai căn bệnh phổ biến này.

Bệnh nhân cần chú ý

000_Was4300995-250.jpg
Nhà Trắng được chiếu sáng bằng đèn hồng hôm 03 tháng 10 năm 2011, để kỷ niệm Tháng Nhận Thức về ung thư vú. AFP PHOTO / Saul Loeb.
Với số lượng người bị phát hiện nhiễm hai căn bệnh tiểu đường và ung thư cùng một lúc ngày một nhiều, việc điều trị hai bệnh một lúc có thể là một khó khăn không chỉ về vấn đề sức khỏe mà còn cả về tâm lý đối với họ.

Tâm lý của một số người bệnh thường cho rằng, tiểu đường không nguy hiểm như ung thư nên khi họ bị phát hiện hai bệnh một lúc, họ có thể nghĩ cứ để bệnh tiểu đường sang bên cạnh mà tập trung nhiều hơn vào điều trị ung thư. Đây là một tâm lý không đúng, vì theo các bác sĩ, lượng đường trong máu cao có thể gây hại đối với thận, mạch máu và hệ thống miễn dịch, do đó có ảnh hưởng không tốt đến việc điều trị bệnh ung thư.
Những mối liên hệ qua lại được tìm thấy trong các nghiên cứu gần đây giữa hai căn bệnh cũng có thể khiến người ta lo lắng về việc liệu có nên tiếp tục điều trị bệnh này mà bỏ lại bệnh kia tạm thời vì sợ phương pháp điều trị có thể khiến họ bị bệnh. Bác sĩ Lipscombe khuyên rằng, khi đã phát hiện bệnh thì tốt nhất nên điều trị kịp thời:
“Tôi chắc chắn không khuyên mọi người tránh không điều trị bệnh, dù đó là tiểu đường hay ung thư vì điều quan trọng là phải điều trị khỏi các bệnh đó. Tuy nhiên, chúng ta biết là ít nhất đối với bệnh tiểu đường, việc giữ một cuộc sống mạnh khỏe, tránh tăng cân, tập thể dục đều đặn và ăn uống hợp lý thực tế có thể giảm nguy cơ tiểu đường và nó cũng giúp cho việc điều trị ung thư tốt hơn.”
Đối với phụ nữ nói chung, bác sĩ Lipscombe cũng có lời khuyên nên duy trì một lối sống mạnh khỏe bởi trên thực tế có rất nhiều phụ nữ bị ung thư vú có thể được điều trị khỏi và sống lâu hơn trước kia.
Tạp chí sức khỏe đời sống tuần này xin tạm dừng tại đây. Việt Hà cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi. Xin quý vị chia sẻ các thông tin và câu hỏi về các vấn đề y tế, sức khỏe đến trang tạp chí sức khỏe đời sống tại email vietha@rfa.org hoặc www.facebook.com/vietharfa
Việt Hà thân mến tạm biệt và xin hẹn gặp lại quý vị kỳ tới.

Theo dòng thời sự:


http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/link-between-breast-cancer-n-diabetes-vh-01172013160735.html

donderdag 20 december 2012

Công dụng của Mật Ong giúp chữa lành vết lở loét cho bệnh nhân tiểu đường

Friday, 07 December 2012 19:33

Võ Hà
Mật ong được tạo thành từ chất ngọt do ong thu thập được trong các bông hoa. Theo quy định của Hội Đồng Ong Mật Quốc Gia Mỹ và nhiều quy định về thực phẩm quốc tế khác quy định rằng "mật ong là một sản phẩm thuần khiết không cho phép thêm bất kỳ chất gì vào... bao gồm nhưng không giới hạn trong, nước và các chất ngọt khác". Bài này chỉ đề cập về mật ong do ong mật (chi Apis) tạo ra; mật do các loài ong khác hay các loài côn trùng khác có các đặc tính rất khác biệt.
Một trong những đặc tính của Mật Ong là giúp chữa lành vết lở loét cho bệnh nhân tiểu đường
Ở các bệnh nhân tiểu đường, các vết thương dù nhỏ nhất cũng rất khó lành, nhiều khi phải tiến hành cắt bỏ tay, chân. Nhưng giờ đây, các nhà khoa học đã khám ra một phương thuốc chữa trị hiệu quả cho các bệnh nhân tiểu đường.
Ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, những vết lở loét thường rất khó chữa do khả năng chống nhiễm trùng của cơ thể rất kém. Thậm chí nếu vết loét quá sâu và nặng thì phải “đoạn chi” (cắt cụt tay, chân). Tuy nhiên những phát hiện mới nhất cho thấy: mật ong có thể giúp chữa trị hiệu quả chứng lở loét nguy hiểm này.
Các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường thường xuyên phải chú ý tới hoạt động của mình, vì chỉ cần một vết xước nhỏ ở chân hay một vết xước móng ở tay cũng có thể mưng mủ hàng tháng trời, sau đó chuyển thành loét. Thực tế, loét chân là chứng bệnh thường gặp phải ở bệnh nhân tiểu đường. Một nghiên cứu đã tìm ra rằng: cứ 5 người mắc tiểu đường thì có 1 người bị nhiễm loét và phải chữa bằng phương pháp “đoạn chi” (cắt cụt tay, chân). Tuy nhiên gần đây các nhà nghiên cứu đã tìm ra một phương thuốc cổ xưa và có hiệu quả điều trị chứng lở loét ở những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường: đó là mật ong.
Rita Arsenault, một bệnh nhân tiểu đường sống tại thành phố Mass, Michigan, đồng thời cũng là một trong số những người đã được chữa trị loét chân thành công bằng mật ong mà không cần dùng tới phương pháp “đoạn chi” cho biết: “Tôi bị một con nhện đốt vào ngón chân, vài ngày sau vết thương đó ngày càng loét rộng và sâu. Thậm chí tôi còn có thể nhìn thấy gân chân của mình. Một vài bác sĩ khuyên tôi nên điều trị bằng phương pháp cấy ghép da. Nhưng nếu nó không thành công, có khả năng tôi sẽ mất đi đôi chân. Thay vào đó, tôi tìm gặp bác sĩ Paul Liguori, thuộc bệnh viện Haverhill, để được điều trị bằng cách bôi mật ong vào vết thương rồi băng bó lại. Thật không thể tin được, sau hơn một tháng vết loét đã hoàn toàn biến mất, thậm chí còn không để lại sẹo.”
Sử dụng mật ong để chữa lành vết thương không phải là một phương pháp mới. Các nhà nhân chủng học đã tìm ra những bằng chứng chỉ ra rằng: những người Ai Cập cổ đại đã sử dụng nó từ hơn 5000 năm trước. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn còn rất nhiều người không biết tới tác dụng này của mật ong.
Tiến sĩ Peter Molan thuộc Đại học Waikato New Zealand cho biết: “Mật ong có đặc tính tiêu diệt vi khuẩn rất mạnh, do trong mật ong có hàm lượng axit cao, hàm lượng nước thấp, đặc tính khử nước mạnh. Những vi khuẩn gây loét có tính kháng thuốc rất cao, do vậy gần như mọi loại thuốc kháng sinh đều không có tác dụng. Mật ong là một phương thuốc hiệu quả để điều trị chứng lở loét.”
Một nghiên cứu đã được tiến hành trên 2 nhóm bệnh nhân tiểu đường bị loét chân. Cả 2 nhóm được điều trị trong 12 tuần theo hai phương pháp khác nhau. Nhóm 1 được điều trị bằng mật ong, nhóm 2 sử dụng hydrogel, một loại gel trong suốt thường được dùng để làm lành vết thương.
Kết quả là: nhóm 1 giảm được tới 34% kích cỡ của vết loét. Ngược lại nhóm 2 chỉ giảm được 13%. Sau 12 tuần, số lượng bệnh nhân trong nhóm 1 khỏi bệnh nhiều hơn hẳn so với nhóm 2.
Tiến sĩ Peter cho biết thêm: “Ngoài khả năng tiêu diệt vi khuẩn, mật ong còn đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Chữa trị bằng mật ong ít gây đau đớn hơn và ít để lại sẹo cho người bệnh. Hơn nữa, đây là phương pháp tiện lợi, dễ sử dụng, chi phí lại thấp nhưng hiệu quả hơn nhiều so với các phương pháp điều trị khác.”
Võ Hà

http://www.baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10219%3Acong-dng-ca-mt-ong-trong-bnh-tiu-ng&catid=117%3Aph-n-tinh-yeu&Itemid=53