Posts tonen met het label thất nghiệp. Alle posts tonen
Posts tonen met het label thất nghiệp. Alle posts tonen

zondag 9 februari 2014

Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm xuống mức thấp nhất tính từ 5 năm nay

Chủ nhật, 09/02/2014



Tin tức / Kinh tế

Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm xuống mức thấp nhất tính từ 5 năm nay

Quảng cáo thuê nhân viên
Quảng cáo thuê nhân viên
CỠ CHỮ- +
Tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đã giảm đôi chút trong tháng Giêng, hạ 1 phần 10 của 1%, xuống còn 6,6%. Đây là mức thất nghiệp thấp nhất tính từ năm 2008.

Phúc trình do Bộ Lao Động Mỹ công bố  hôm nay còn cho biết là tổng cộng có tới 113.000 công ăn việc làm mới trong nền kinh tế, thấp hơn nhiều so với số việc làm mới được kiến tạo hàng tháng trong năm qua.

Thất nghiệp gia tăng trong các ngành xây dựng, chế tạo nhưng giảm trong ngành bán lẻ và trong giới công chức.

Các dữ kiện mới cho thấy hiện có 10,2 triệu người Mỹ vẫn được chính thức coi là thất nghiệp.

Con số những người thất nghiệp lâu hơn 27 tuần giảm hơn 200,000 người, nhưng hiện vẫn còn 3 triệu 600.000 người lâm vào cảnh thất nghiệp trường kỳ.

Phúc trình về tình trạng nhân dụng mới được công bố một ngày sau một nỗ lực thất bại tại Thượng viện Mỹ, nhằm hồi sinh một chương trình sẽ duy trì tiền trợ cấp thất nghiệp cho những người bị mất việc trong thời gian dài.

Ngoài ra, Quốc hội còn tranh luận về thời điểm cũng như phương cách nào để nâng cao mức nợ trần của chính phủ.
 
 

zondag 20 oktober 2013

Việt Nam: Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?

Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?



Cập nhật: 15:12 GMT - chủ nhật, 20 tháng 10, 2013

Giáo dục Việt Nam
Việt Nam cam kết đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu của phát triển
Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, tình trạng thất nghiệp gia tăng là điều tất yếu. Điều này thể hiện rõ tính cung cầu lao động trong nền kinh tế thị trường.
Không riêng gì tại Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng gia tăng nạn thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian qua.
Báo chí đã nói rất nhiều về tình trạng lao động chất lượng cao bị thất nghiệp, hoặc phải nhận những công việc không tương xứng với bằng cấp được đào tạo. Chẳng hạn như hàng nghìn cử nhân thất nghiệp ở Nghệ An, gần 25.000 sinh viên ra trường thất nghiệp ở Thanh Hóa, cả nghìn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệp ở Đà Nẵng,...
Không chỉ cử nhân thất nghiệp, mà cả thạc sỹ cũng thất nghiệp. Nhiều bài báo đã nêu lên những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp đi bán sim điện thoại, ở nhà nội trợ, thậm chí đi phụ xe để lấy tiền xin việc hoặc đi làm công nhân thời vụ.
Đâu là nguyên nhân của vấn đề này?
Theo Luật giáo dục, mục tiêu của đào tạo thạc sỹ là “giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” (điều 39). Đồng thời, yêu cầu chất lượng thạc sỹ được đào tạo phải “nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình” (điều 40).
"Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc"
Thế nhưng, những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp được báo chí nêu ra hình như không đúng với mục tiêu và chất lượng đào tạo. Các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này đều cùng lý do không xin được việc sau khi tốt nghiệp đại học nên học tiếp để hy vọng bằng thạc sỹ sẽ xin việc dễ hơn. Đây cũng là lý do của phần lớn những người đi học cao học ngay sau khi tốt nghiệp.
Rõ ràng, mục tiêu đào tạo thạc sỹ là tạo ra lực lượng lao động có chuyên môn sâu về chuyên ngành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong chuyên môn và có khả năng nghiên cứu khoa học.
Thế nhưng, hầu hết lý do học cao học là để dễ xin việc như nói ở trên cho thấy, mục tiêu đi học của những người này không đồng nhất với mục tiêu của đào tạo thạc sỹ. Vì thế, không thấy những người này khẳng định một cách thẳng thắn về năng lực chuyên môn lẫn khả năng sáng tạo và nghiên cứu khoa học để phủ nhận việc loại hồ sơ của họ là bất hợp lý ngoài việc khẳng định họ có bằng thạc sỹ.
Thêm nữa, hầu hết chỉ thấy các thạc sỹ này nộp đơn xin việc vào các vị trí công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước. Rõ ràng, các vị trí công chức hành chính lẫn chuyên môn ở từ cấp xã/phường đến cấp sở không cần bằng thạc sỹ. Cũng như các vị trí viên chức trong các trường tiểu học và phổ thông, các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng không cần đến bằng thạc sỹ.
Có một điều bất nhẫn là hầu hết những ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí nêu trên đều có gia cảnh khó khăn, gia đình phải vay mượn tiền để cho họ đi học. Và khi học xong, không tìm được việc làm thì nợ lại chồng nợ.

'Cao học làm gì?'

Giáo dục Việt Nam
Tác giả đặt câu hỏi về mục đích của việc theo học cao học của giới trẻ
Không biết sự thật mà báo chí nêu đến đâu, nhưng nếu thực sự là như vậy thì những gia đình này, những ‘thạc sỹ’ này đều có cái nhìn thiển cận về bằng cấp và công việc. Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc.
Vậy, họ cố gắng lấy bằng thạc sỹ để làm gì nếu không có mục tiêu làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, hoặc giảng dạy sau phổ thông? Họ vay tiền để đi học làm gì nếu ra trường không xin được công việc đúng với chuyên môn và bằng cấp?
Họ học cao, nhưng tư duy và trình độ có thực sự cao? Bằng cấp có tương xứng với năng lực?
Như đã nêu ở trên, không thấy các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này khẳng định có đủ năng lực chuyên môn lẫn kiến thức liên ngành, có đủ năng lực làm việc độc lập và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, dư luận hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Bằng thạc sỹ của họ có tương xứng với năng lực thực sự của họ hay không?
Mỗi chuyên ngành học đều có những đặc thù về nghề nghiệp, và một người có trình độ cao sẽ khai thác được đặc thù đó trong quá trình tìm kiếm công việc lẫn tạo ra thu nhập của mình bằng đúng chuyên môn đã được đào tạo.
Đơn cử trường hợp cô thạc sỹ văn chương mà báo chí nêu trong thời gian qua phải xin đi làm công nhân thời vụ. Một thạc sỹ văn chương loại giỏi hoàn toàn có đủ khả năng làm việc độc lập bằng chuyên môn như có thể đi dạy hợp đồng tại các trường phổ thông, ĐH, CĐ hoặc cộng tác với các báo, tạp chí chuyên ngành để viết bài nghiên cứu, bài báo, thậm chí viết bài đưa tin.
Thực tế trong xã hội đã cho thấy những công việc như vậy không quá khó nếu họ có năng lực thật sự tương ứng với bằng cấp. Hiện tại, không ít các sinh viên đã làm những việc như vậy khi còn đang ngồi trong giảng đường.
Vậy, tại sao một thạc sỹ văn chương loại giỏi không làm được như vậy mà phải đi làm công nhân thời vụ? Rõ ràng, chỉ có thế là kiến thức thực sự của họ không tương xứng với tấm bằng.
Sẽ có người đặt câu hỏi rằng, không phải ai cũng viết bài chuyên môn, viết báo được, hoặc xin đi dạy hợp đồng cũng không dễ. Nhưng xin thưa, điều này hoàn toàn không khó khăn đối với một thạc sỹ văn chương loại giỏi. Nếu không làm được điều này, chỉ có thể là năng lực của họ không xứng đáng với tấm bằng, hoặc có vấn đề trong quá trình đào tạo và cấp bằng của các trường đại học.
Trên đây chỉ phân tích một trường hợp cụ thể. Các ngành nghề khác cũng có tính chất tương tự, nghĩa là mỗi ngành đều có một đặc thù riêng trong xã hội, và người có chuyên môn không khó để kiếm việc nếu giỏi thật sự. Tất nhiên, cũng không loại trừ một số lĩnh vực hẹp, và sẽ có những người giỏi khó kiếm việc. Nhưng là khó chứ không phải không thể.

'Việc làm nhà nước?'

"Hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước... Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?"
Nhu cầu lao động chất lượng cao là cần thiết trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu này cần thiết cho cả nền kinh tế quốc dân, nghĩa là cần thiết cho cả các tổ chức, doanh nghiệp khu vực tư nhân chứ không chỉ dành riêng cho khu vực nhà nước.
Trong tiến trình cải cách đất nước theo hướng hội nhập và phát triển ở Việt Nam. Khu vực nhà nước sẽ thu hẹp lại ở lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ chuyển sang cổ phần hóa có vốn nhà nước hoặc tư nhân hóa toàn bộ. Những lĩnh vực công như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ cũng không nằm ngoài xu hướng này.
Hiện tại, lao động chất lượng cao của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chất lượng đầu ra của các trường đại học, cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Rõ ràng, các trường này cũng như những người học phải xác định rõ đào tạo như thế nào và học cái gì để đáp ứng yêu cầu đó.
Như vậy, có thể thấy nếu một người được đào tạo đảm bảo chất lượng, có đầy đủ kiến thức chuyên ngành và tư duy tương xứng với bằng cấp, thì không khó kiếm một công việc, kể cả khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng như trong thời gian qua.
Thế nhưng, hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước như đã nêu ở trên. Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?
Kinh tế Việt Nam
Nhiều người có bằng cấp ở VN làm các công việc khác với chuyên môn được đào tạo, theo tác giả
Có thể thấy, hầu hết các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí đề cập đều không phải thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Và rõ ràng cơ chế tuyển dụng lao động ở khu vực ngoài nhà nước rất sòng phẳng, minh bạch, không cần tiền “bôi trơn”, không quá quan tâm đến bằng cấp, cũng như mức thu nhập sẽ cao hơn nhiều khu vực nhà nước.
Vậy tại sao họ lại cố gắng vào nhà nước, trong khi biết rõ cơ chế làm việc của phần lớn các đơn vị, cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập trong phân công lao động, vẫn còn hiện tượng ưu tiên con ông cháu cha, vẫn còn hiện tượng bỏ tiền để “chạy việc”. Thậm chí, để hoàn thành giấc mơ đó, có thạc sỹ chấp nhận đi làm phụ xe để dành tiền đi xin việc.
Rõ ràng, có một sự mâu thuẫn đối với các thạc sỹ này, họ muốn nhận được công việc tương xứng với bằng cấp, nhưng lại không thể hiện được năng lực làm việc tương ứng. Trong khi, khu vực ngoài nhà nước hoàn toàn có thể cho họ cơ hội thể hiện điều đó. Phải chăng, họ chỉ dám nộp đơn xin việc vào cơ quan nhà nước vì chỉ dựa được vào tấm bằng?
Vấn đề ‘thạc sỹ thất nghiệp’ sẽ còn nhận được nhiều đánh giá, nhận định khác nhau trong xã hội. Và người viết cũng chỉ đề cập các quan điểm trên theo thực tế chung chứ không phải đúng hết với mọi đối tượng, mọi nghành nghề trong xã hội.
Tuy nhiên, có thể thấy rõ sự bất cập trong công tác đào tạo lao động chất lượng cao và nhu cầu của xã hội. Đồng thời, không thể không nói đến chất lượng và định hướng của công tác đào tạo.
Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết, các thạc sỹ này nên tự nhìn nhận và đánh giá năng lực của mình, trước khi đổ lỗi cho cho nguyên nhân khách quan từ cơ chế, chính sách của nhà nước.
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, người đang sinh sống ở Hà Nội.


Thêm về tin này

donderdag 1 november 2012

Hơn 18 triệu người thất nghiệp ở châu Âu

1/11/2012

Hơn 18 triệu người thất nghiệp ở châu Âu


Một phần tư dân số Hy Lạp và Tây Ban Nha không có việc làm, khiến tỷ lệ thất nghiệp chung của eurozone lên 11,6%, cao nhất từ trước tới nay.
>Châu Âu thất nghiệp cao kỷ lục


Theo số liệu được công bố vào thứ Tư, Eurozone hiện có khoảng 18,49 triệu người thất nghiệp, tăng 146.000 người so với tháng trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động dưới 25 tuổi cũng tăng lên 23%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Các nhà phân tích hy vọng với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong độ tuổi lao động trẻ, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ tiến hành cắt giảm lãi suất để hỗ trợ các quốc gia khủng hoảng. Hầu hết chính phủ các quốc gia trong eurozone đều chọn giải pháp cắt giảm chi tiêu nhằm chuẩn bị cho kế hoạch tạo thêm việc làm, bỏ qua dự báo về tình trạng có thể tồi tệ hơn trong những tháng tới.

Bồ Đào Nha đã thông qua dự thảo cắt giảm ngân sách của mình vào thứ Tư. Kế hoạch này có thể đẩy Bồ Đào Nha vào một năm tăng trưởng âm thứ ba liên tiếp với tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục gia tăng. Hy Lạp cũng có kế hoạch cắt giảm 13,5 tỷ euro và dự định tăng thuế trong năm tới.

Tây Ban Nha là quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong eurozone. Ảnh Guardian
Tây Ban Nha là quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong eurozone. Ảnh Guardian

Ở một số quốc gia, bức tranh việc làm còn tệ hơn do tỷ lệ nhập cư gia tăng, hầu hết đều là lao động trẻ đến từ các quốc gia khủng hoảng như Hy Lạp, Ireland, Italy, Tây Ban Nha. Chỉ tính riêng trong năm 2011, số lượng người Tây Ban Nha di cư ra nước ngoài đã lên đến 370.000, cao hơn 10 lần so với trước cuộc khủng hoảng năm 2008.

Eurozone đang tìm mọi cách để kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm cho người dân. Tuy nhiên, nỗ lực của chính phủ các nước chưa đạt hiệu quả khi Italy và Tây Ban Nha vẫn chìm trong suy thoái, còn Pháp công bố ba quý không tăng trưởng. Số lượng người thất nghiệp ở 27 nước trong Liên minh châu Âu (EU) tăng thêm 169.000 người, lên mức 25,75 triệu người.

Đỗ Hiên (theo Guardian)

vrijdag 15 juni 2012

10 nước có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thế giới

15/6/2012

Dựa trên số liệu năm 2011 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), CNBC đưa ra danh sách các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong 50 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
>10 nghề lương bạc tỷ dành cho người hướng nội
>10 việc làm kém hấp dẫn nhất tại Mỹ


1. Nam Phi


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 24,7%

Tăng trưởng GDP 2011: 3,1%

Kể từ năm 1997, tỷ lệ thất nghiệp tại Nam Phi, nền kinh tế lớn nhất châu lục đen, luôn ở mức trên 20%. Theo ông Sparreboom, chuyên gia kinh tế cấp cao tại ILO, nguyên nhân chính của trình trạng này là nạn phân biệt chủng tộc trong lịch sử đã tạo nên một thị trường việc làm kiểu “chợ đen” tại Nam Phi.

Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên tới 25,2%. Thất nghiệp trong các ngành xây dựng, khai khoáng và khai thác đá cao hơn hẳn so với ngành sản xuất và bán lẻ. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nam Phi vẫn ở mức dưới 7%.

Theo Ngân hàng Trung ương Nam Phi, thất nghiệp cao cũng khiến tỷ lệ nợ của các hộ gia đình tại nước này tăng cao, ở mức 75% thu nhập khả dụng. Các chuyên gia kinh tế e ngại rằng tình hình nợ tại Nam Phi sẽ trở nên xấu đi khi các ngân hàng đẩy mạnh cho vay không đảm bảo.

2. Tây Ban Nha


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 21,6%

Tăng trưởng GDP 2011: 0,7%

Tây Ban Nha là nền kinh tế lớn thứ tư tại khu vực đồng tiền chung và cũng là nước có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất tại đây. Nước này lâm vào suy thoái kinh tế vào giữa năm 2008 do đổ vỡ bong bóng bất động sản và ngành dịch vụ. Khủng hoảng khiến lượng lao động bị sa thải tăng gấp đôi.

Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này lên tới 21,3%, cao hơn gấp 2 lần so với mức trung bình tại châu Âu. 4,9 triệu trên tổng số 45 triệu lao động không có việc làm khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Tây Ban Nha lên cao nhất trong 14 năm.

Thất nghiệp cao tác động tiêu cực tới tiêu dùng nội địa, từ đó khiến GDP của nước này suy giảm. Doanh số bán lẻ tháng 3 tại Tây Ban Nha sụt giảm mạnh nhất trong vòng 2 năm.

3. Hy Lạp


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 17,7%

Tăng trưởng GDP 2011: -6,9%

Suy thoái kinh tế khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp tăng kỷ lục, lên mức 21,7% vào tháng 2 vừa qua. 54% người dân Hy Lạp trong độ tuổi 15 đến 25 không có việc làm. Tổng cộng, có tới 1,1 triệu người thất nghiệp tại quốc gia này, tăng 42% so với hồi tháng 2 năm ngoái.

Nền kinh tế Hy Lạp liên tiếp suy giảm trong 5 năm qua. Thị trường việc làm ảm đạm cộng với việc cắt giảm lương theo chương trình thắt lưng buộc bụng đã khiến người dân nước này tỏ ra bất mãn với chính phủ lâm thời.

Việc cắt giảm chi tiêu ngân sách theo các điều khoản của gói cứu trợ từ Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã gây ra làn sóng giải thể và phá sản trong giới doanh nghiệp. Điều này càng khiến tình trạng thất nghiệp trở nên tồi tệ hơn.

Thất nghiệp và chất lượng cuộc sống suy giảm cũng gây ra nhiều hệ lụy xã hội tại Hy Lạp. Trong nửa đầu năm 2011, tỷ lệ tự tử tại quốc gia này đã tăng 40% so với cùng kỳ năm trước.

4. Ireland


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 14,4%

Tăng trưởng GDP 2011: 0,7%

Năm 2011, Ireland chứng kiến sự suy giảm mạnh của ngành dịch vụ và tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao nhất trong 20 năm, cao hơn gấp đôi so với Đức – nền kinh tế lớn nhất tại eurozone.

Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này là 14,5%, tăng vọt so với mức 4,5% của năm 2007. Nhiều công ty phải sa thải nhân viên ồ ạt. Điển hình phải kể đến Ngân hàng Trung ương với hơn 1.000 nhân viên bị sa thải. Tính đến cuối năm 2011, ngân hàng này chỉ còn 13.200 nhân viên, giảm từ 16.000 người hồi cao điểm bong bóng bất động sản năm 2008.

5. Bồ Đào Nha


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 12,7%

Tăng trưởng GDP 2011: -1,5%

Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp của Bồ Đào Nha là 12,7%. Tuy nhiên, con số này đã tăng lên mức kỷ lục 14,9% trong quý I/2012 khi nước này lâm vào suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ những năm 1970. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ cũng tăng lên 36,2%.

Khủng hoảng nợ công khiến nhiều ngành công nghiệp của nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điển hình là ngành công nghiệp đóng tàu một thời bùng nổ. Những biện pháp thắt lưng buộc bụng khắc khổ của chính phủ Bồ Đào Nha theo các điều khoản của gói cứu trợ 116 tỷ USD từ EU và IMF khiến thị trường việc làm trở nên ảm đạm hơn.

6. Iran


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 11,5%

Tăng trưởng GDP 2011: N/A

Các biện pháp cấm vận của phương tây cộng với việc sản lượng dầu mỏ sụt giảm khiến nền kinh tế Iran bị ảnh hưởng nghiêm trọng và thị trường việc làm cũng chịu chung số phận.

Theo chính quyền Iran, khoảng 15% lực lượng lao động nước này không có việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế con số này còn lớn hơn do nhiều việc làm chính thống không trả đủ lương cho người lao động sinh sống.

Theo Trung tâm Điều tra dân số Iran, tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động dưới 25 tuổi là 29,1%, nhưng giới phân tích cho rằng con số thực tế phải gấp đôi. Theo Bộ trưởng Lao động Iran, cử nhân đại học tại nước này có nguy cơ thất nghiệp cao gấp 10 lần so với những người có trình độ thấp hơn.

7. Colombia


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 10,8%

Tăng trưởng GDP 2011: 5,9%

Kể từ khi chính phủ Colombia kiểm soát được nội chiến và lực lượng nổi dậy, kinh tế nước này tăng trưởng nhanh chóng. Tuy nhiên, Colombia vẫn có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong khu vực châu Mỹ Latinh.

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của nước này đã giảm xuống còn 10,8% từ mức 11,8% của năm 2010, con số này vẫn cao hơn 2 điểm phần trăm so Venezuela, nước đứng thứ hai trong khu vực về tỷ lệ lao động không có việc làm. Trong tháng 3 vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp tại thủ đô Quibdo của Colombia lên tới 19,1%.

Tháng 12/2011, chính quyền Colombia đặt mục tiêu thất nghiệp ở mức 8,5% vào năm 2014 bằng việc thực hiện giảm thuế bảng lương cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để kích thích tuyển dụng nhân viên. Tuy nhiên, IMF cho rằng trở ngại lớn nhất cho thị trường việc làm chính thống tại Colombia là mức lương tối thiếu tương đối cao. Năm 2010, chính phủ nước này đã tăng 4% mức lương tối thiểu, lên 300 USD một tháng sau khi tỷ lệ lạm phát lên tới 3,1%. IMF cho rằng mức lương tối thiểu cao khiến cho chi phí lao động tại Colombia ở mức cao.

8. Thổ Nhĩ Kỳ


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,8%

Tăng trưởng GDP 2011: 8,5%

Dù đạt được mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong suốt 10 năm qua, thị trường lao động của Thổ Nhĩ Kỳ lại khá ảm đạm. Từ năm 2002 đến 2005, tăng trưởng kinh tế nước này vượt mức 7% nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại luôn ở quanh ngưỡng 10%.

Theo chuyên gia kinh tế Rauf Gonec thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nguyên nhân chính của tình trạng này là việc nhiều người lao động rời bỏ khu vực nông nghiệp và đổ xô tới các thành phố. Trong khi nền kinh tế ngày càng cần những công việc đòi hỏi tay nghề cao thì lực lượng lao động trình độ thấp tại Thổ Nhĩ Kỳ lại chiếm đa số.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ thất nghiệp trong lao động trẻ tại nước này có xu hướng giảm, từ mức 17,1% vào tháng 12/2007 xuống còn 15,4% vào tháng 3/2012.

9. Hà Lan


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,6%

Tăng trưởng GDP 2011: 4,3%

Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại Hà Lan lên tới 12,6%, dù đã giảm 0,3% so với tháng 4 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức 9,6% của năm 2011. Theo một nghiên cứu mới đây của OECD, cứ 5 lao động trẻ Hà Lan thì có một người không có việc làm. Trong tháng 3 vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ lên tới 26,7%, tăng vọt so với mức 18,5% vào tháng 12/2007.

Góp thêm vào sự ảm đạm của thị trường việc làm tại nước này, mới đây, hãng sản xuất thép hàng đầu thế giới công bố sẽ sa thải nhân viên hàng loạt tại khu vực tây Âu, trong đó có 1.000 lao động Hà Lan. Thất nghiệp và lương thấp khiến người lao động Hà Lan đổ xô sang các nước như Đức và Áo. Năm 2011, mức lương trung bình tháng tại Hà Lan là 1.215 USD, chỉ bằng một phần ba so với tại Đức.

10. Pháp


Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,3%

Tăng trưởng GDP 2011: 1,7%

Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của Pháp là 9,3%, nhưng hiện nay con số này đã tăng lên 10%, cao nhất trong 13 năm. Chính phủ nước này đang ra sức ngăn chặn việc giải thể trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tổ chức công đoàn Pháp mới đây cũng yêu cầu tổng thống Hollande có biện pháp ngăn chặn việc hơn 45 doanh nghiệp lớn đóng cửa, có nguy cơ khiến 90.000 lao động mất việc. Theo tổ chức này, những doanh nghiệp đang có kế hoạch đóng cửa nhà máy gồm có PSA Peugeot Citroen, General Motors và hãng bán lẻ Conforama.

Tuyến Nguyễn