Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi (T) họp báo chung với tổng thống Mỹ Donald Trump, Nhà Trắng, Washington, 26/06/2017.REUTERS/Kevin Lamarque
Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên tại Nhà Trắng hôm qua, 26/06/2017, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã kêu gọi tôn trọng tự do hàng hải ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ở vùng này một cách hòa bình, theo đúng luật pháp quốc tế.
Tổng thống Trump và thủ tướng Modi đưa ra lời kêu gọi nói trên trong bối cảnh tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước láng giềng về chủ quyền Biển Đông và biển Hoa Đông vẫn gay gắt. Đặc biệt, Bắc Kinh đã xây nhiều đảo nhân tạo ở Biển Đông và quân sự hóa các đảo này, gây quan ngại cho các nước trong khu vực, cũng như cho Hoa Kỳ và Ấn Độ.
Trong bản tuyên bố chung sau cuộc họp hôm qua, hai lãnh đạo Mỹ-Ấn Độ cũng lên án việc Bắc Triều Tiên tiếp tục bắn thử tên lửa và thử nghiệm hạt nhân, đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh toàn cầu. Ông Trump và ông Modi kêu gọi Bình Nhưỡng tuân thủ nghiêm chỉnh các nghĩa vụ và cam kết quốc tế.
Ngoài ra, hai nhà lãnh đạo Mỹ-Ấn Độ đã thảo luận về tình hình Afghanistan, nơi mà Hoa Kỳ dự trù triển khai thêm từ 3.000 đến 5.000 quân.
Riêng về quan hệ song phương, hôm qua, thủ tướng Modi đã không nói gì đến những hồ sơ gây bất đồng giữa hai nước, đặc biệt là hồ sơ về việc thị thực nhập cảnh làm việc, mà tổng thống Trump muốn hạn chế và thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu, mà ông Trump đã quyết định rút ra khỏi.
Trong lĩnh vực quốc phòng, tập đoàn General Atomics hôm qua thông báo đã được cấp phép bán máy bay không người lái MQ-9B Guardian cho Ấn Độ. Với loại máy bay không người lái này, New Delhi sẽ tăng cường khả năng giám sát vùng Ấn Độ Dương, nhất là theo dõi sát sát hơn những di chuyển của tàu bè Trung Quốc tại vùng biển này.
Chính quyền Mỹ cũng đã cho phép bán một máy bay vận tải quân sự C-17 cho New Delhi, với giá được thẩm định là khoảng 366 triệu đôla, theo thông báo của Lầu Năm Góc.
Những người ủng hộ đảng Dân Tiến chờ đợi kết quả, Đài Bắc, 16/01/2016. Khẩu hiệu trong ảnh: "Đài Loan không phải là một bộ phận của Trung Quốc".REUTERS/Pichi Chuang
Trong diễn văn chào mừng chiến thắng của đảng Dân Tiến trong cuộc bầu cử tổng thống và Nghị viện Đài Loan ngày hôm qua 16/01/2016, tổng thống mới đắc cử Thái Anh Văn không dấu lập trường cứng rắn với Hoa Lục : tự do hàng hải tại Biển Đông phải được tôn trọng và Đài Bắc sẽ tiếp tục « thắt chặt » quan hệ với Tokyo.
Đêm hôm qua tại Đài Bắc, tổng thống tân cử Thái Anh Văn tuyên bố : đây là một bằng chứng mới của nền dân chủ đã bắt rể tại Đài Loan, người dân đã bầu chọn một chính phủ biết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Từ Đài Bắc, đặc phái viên Heike Schmidt tường thuật : Từ nay, màu cờ chính trị của Đài Loan không còn là màu xanh nước biển của Quốc Dân đảng mà đã được thay thế bằng màu xanh lục của Dân Tiến đảng. Theo Ủy ban bầu cử, bà Thái Anh Văn đã đánh bại đối thủ Chu Lập Luân (Eric Chu) với tỷ lệ theo thứ tự 56,12% và 31,04%, một thảm bại lịch sử của Quốc Dân đảng. Đây là lần đầu tiên đối lập Đài Loan vừa lấy được ghế tổng thống vừa chiếm đa số tuyệt đối tại Viện lập pháp (Nghị viện). Trong tổng số 113 ghế dân biểu, đảng Dân Tiến thắng 68 ghế, Quốc Dân đảng chỉ còn 35. Bà Thái Anh Văn, được coi như là « Angela Merkel của Châu Á », một nữ chính trị gia dè dặt nhưng quyết tâm, sẽ có rộng quyền tiến hành một đường lối cứng rắn với Hoa lục. Hòn đảo nhỏ chỉ nằm cách lục địa có 180 km không muốn để cho anh láng giềng khổng lồ dọa nạt. Cử tri Đài Loan đã đồng ý bằng lá phiếu. Nền dân chủ non trẻ này từ nay sẽ giữ khoảng cách với Trung Quốc cho dù Bắc Kinh bố trí hơn 1600 tên lửa đe dọa « hòn đảo nổi loạn » . Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà Đài Loan sẽ cắt đứt quan hệ với Hoa lục, bởi vì Trung Quốc là bạn hàng số một, nhập khẩu đến 40% hàng hóa xuất khẩu của Đài Loan. Phản ứng quốc tế
Hoa Kỳ chào mừng chiến thắng của đối lập Đài Loan. Bộ Ngoại giao Mỹ nhận định kết quả bầu cử tổng thống hôm thứ bảy chứng tỏ Đài Loan là một « nền dân chủ vững chắc » và mong sớm hợp tác với chính quyền mới.
Về phần Trung Quốc, theo Reuters, nếu so với lần đầu tiên đảng Dân Tiến thắng cử vào năm 2000 với tổng thống Trần Thủy Biển, phản ứng lần này của Bắc Kinh được xem là khá chừng mực.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố : « vấn đề Đài Loan là chuyện nội bộ của Trung Quốc. Bà Thái Anh Văn đắc cử không làm thay đổi gì, vì trên thế giới chỉ có một nước Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không tha thứ để mất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ».
Tân Hoa xã thì kêu gọi Đài Loan « bỏ ảo vọng » độc lập. Hoàn Cầu Thời Báo, thuộc xu hướng diều hâu đe dọa : Đài Loan sẽ « đụng vào ngõ cụt nếu tìm cách vượt làn ranh đỏ ». Đọc thêm : Bầu cử Đài Loan: Đảng Dân Tiến thắng, quan hệ Trung-Đài hứa hẹn nhiều biến động
Từ Thượng Hải, thông tín viên Delphine Sureau tường thuật :
« ''Người dân Đài Loan đã chọn bà Thái Anh Văn, chứ không phải nền độc lập'', đây là hàng tít lớn trên tờ Hoàn cầu thời báo trong số ra sáng hôm nay. Như để trấn an và giảm thiểu quy mô của cuộc bầu cử tổng thống lần này, tờ nhật báo của đảng Cộng Sản đã nhắc lại sự thận trọng của nữ tân tổng thống trong chiến dịch tranh cử, cũng như quan điểm ''giữ nguyên hiện trạng'' của bà. Tờ báo cảnh báo : độc lập là một viễn cảnh không thể xảy ra. Chính bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng nhắc lại ý trên vào tối muộn ngày hôm qua. Phát ngôn viên Hồng Lỗi tuyên bố : Chỉ có một nước Trung Hoa duy nhất trên thế giới, gồm cả đại lục và Đài Loan. Ông nói thêm : Chính phủ Trung Quốc ''phản đối'' mọi hình thức độc lập. Hai tháng sau cái bắt tay lịch sử giữa chủ tịch Tập Cận Bình và tổng thống mãn nhiệm Mã Anh Cửu, Bắc Kinh lo ngại là sự xích lại gần nhau giữa hai bờ eo biển Đài Loan sẽ bị đưa ra xem xét lại. Chính phủ Trung Quốc luôn hy vọng lấy lại Đài Loan, dù phải dùng tới cả vũ lực. Vì vậy, chính quyền đã thiết lập biện pháp kiểm duyệt nhằm giảm thiểu chiến thắng của đảng Dân Tiến. Mục đích là ngăn chặn người sử dụng internet đưa ra phản ứng và bình luận. Trên mạng Weibo, được coi là twitter Trung Quốc, các tìm kiếm về bà Thái Anh Văn hoàn toàn bị ngăn chặn ».
Nhật sẽ tham gia chương trình tự do hàng hải của Mỹ tại biển Đông
Đô đốc Hải quân Mỹ, Giám đốc Điều hành Naval John Richardson (trái) bắt tay với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe trước cuộc đàm phán tại văn phòng của ông Abe tại Tokyo ngày 15 tháng 10 năm 2015
AFP photo
Việt Hà phỏng vấn ông Tetsuo Kotani, chuyên gia cao cấp về an ninh biển thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế Nhật bản về vai trò của Nhật ở biển Đông. Trước hết ông Kotani nhận xét về kết quả hội nghị các Bộ trưởng quốc phòng ASEAN và đối tác vừa diễn ra ở Malaysia vừa qua:
Tôi không có gì ngạc nhiên lắm khi hội nghị quốc phòng ASEAN với các đối tác không đưa ra được tuyên bố chung. Trung Quốc có ảnh hưởng lớn đối với các nước thành viên ASEAN. Mặt khác ASEAN luôn cố gắng cân bằng trong quan hệ với các cường quốc ở châu Á. Hoa Kỳ mới chỉ bắt đầu thực hiện chương trình tự do hàng hải ở châu Á và sẽ mất vài năm cho Hoa Kỳ để có thể gây ảnh hưởng lên vấn đề này….Tất nhiên tôi thất vọng, nhưng tôi đã nghĩ là ADMM sẽ không ra được thông báo nào cho nên điều này cũng bình thường. Việt Hà: Ông nghĩ vấn đề này sẽ được các nước đề cập ra sao tại thượng đỉnh Đông Á sắp tới? Tetsuo Kotani: Tôi không nghĩ thượng đỉnh Đông Á cũng đạt được tiến bộ nào trong vấn đề này. Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước khác sẽ đề cập đến vấn đề tự do hàng hải trong khi Trung Quốc tiếp tục nói nước này có chủ quyền ở biển Đông. Cho nên lập trường của hai bên là đối lập. Nhưng lần này có khác các cuộc gặp trước là bởi vì đây là cuộc gặp cấp cao nhất của nhiều nước không phải là cuộc gặp của những lãnh đạo ASEAN không thôi. Cho nên đây sẽ là cơ hội cho lãnh đạo các nước trong khu vực thảo luận về vấn đề này. Điều này làm cho thượng đỉnh Đông Á quan trọng nhưng tôi không nghĩ sẽ có tiến bộ gì đáng kể. Việt Hà:Việc Trung Quốc cho xây dựng các đảo nhân tạo ở biển Đông mà nhiều nước lo ngại là để thực hiện việc quân sự hóa khu vực này đã tạo ra mối đe dọa thế nào với Nhật? Tetsuo Kotani: Tôi không dùng từ đe dọa mà gọi là lo ngại đối với Nhật Bản. Những hoạt động của Trung Quốc tại biển Đông là mối lo ngại lớn đối với Nhật. Nhưng tôi chưa coi đó là những mối đe dọa với Nhật. Những hoạt động gần đây của Trung Quốc tại biển Đông, đặc biệt là việc xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc làm Nhật Bản rất lo ngại. Việc xây dựng các đảo này thiếu những cơ sở pháp lý ở vùng biển quốc tế làm phương hại đến tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế.
Nhật Bản rất lo ngại việc sử dụng những đảo nhân tạo này vào mục đích quân sự. Khi Trung Quốc gia tăng khả năng chiến lược của nước này tại biển Đông thì điều này sẽ có ảnh hưởng về mặt quân sự lên an ninh của Nhật Bản. Đó là mối quan ngại cơ bản của Nhật vào lúc này. Tôi không nghĩ là những đảo nhân tạo đó sẽ làm thay đổi một cách nhanh chóng và mạnh mẽ sự cân bằng quân sự ở Đông Á. Ngay cả sau khi Trung Quốc hoàn tất việc xây dựng những đảo này và quân sự hóa chúng thì Nhật bản và Hoa Kỳ vẫn có vị thế về quân sự tốt hơn trong khu vực. Nhưng rõ ràng là khả năng quân sự của Trung Quốc sẽ được cải thiện qua các đảo này. Trong trường hợp đó thì tất nhiên Nhật Bản phải lo ngại. Việt Hà:Trong một phân tích mới đây về Trung Quốc, ông có viết rằng chiến lược biển mà Trung Quốc sử dụng ở khu vực là chiến lược phòng ngự. Liệu đến lúc nào thì Trung Quốc sẽ chuyển từ chiến lược phòng ngự sang chủ động tấn công? Tetsuo Kotani: Các hành động của Trung Quốc là theo kiểu phòng ngự một cách chiến lược, nhưng trên thực tế đôi khi họ lại có hành động gây hấn, hung hăng. Nhìn chung thì cân bằng về quân sự hiện tại vẫn nghiêng về phía Mỹ và Nhật. Trung Quốc biết điều này nên họ không tìm cách thách thức mối liên minh Nhật Mỹ ở mức chiến lược ở mức độ lớn. Nhưng dưới mức đó thì đôi khi họ hung hăng. Phân tích quân sự của Nhật gọi đó là vùng xám giữa thời chiến tranh và hòa bình. Trung Quốc không thực hiện những cuộc tấn công quân sự nhắm vào các nước láng giềng nhưng họ dùng kiểu chiến tranh của họ xâm chiếm dần chủ quyền của các nước khác. Đó là vấn đề lớn trong khu vực. Hiện tại Mỹ và Nhật đang thảo luận để tìm ra cách ứng phó với cái gọi là vùng xám của Trung Quốc nhưng vẫn chưa đạt được kết luận cuối cùng. Việt Hà:Liên quan đến hợp tác giữa Mỹ và Nhật trong vấn đề biển Đông. Một số đánh giá cho rằng Mỹ đã hơi chậm và làm chưa đủ, trong khi dư luận ở Nhật không hoàn toàn ủng hộ chiến lược can thiệp ra bên ngoài của Thủ tướng Nhật. Ông có đánh giá thế nào về tương lai hợp tác giữa hai nước trong việc đối phó với Trung Quốc trong khu vực? Tetsuo Kotani: Khi quốc hội Nhật thảo luận về dự luật an ninh mới, đã có những cuộc biểu tình phản đối diễn ra ở Nhật. Nhưng khi quốc hội Nhật thông qua dự luật này thì sự chống đối đã giảm và tỷ lệ người ủng hộ Thủ tướng Nhật cũng đã hồi phục trở lại. Cho nên bây giờ người Nhật đã chấp nhận luật an ninh mới của Nhật. Theo luật mới và hướng dẫn hợp tác quốc phòng Nhật Mỹ, biển Đông được coi là một trong những điểm chính trong hợp tác hai nước. tôi nghĩ vào lúc này Nhật Bản bị giới hạn trong khả năng tham gia vào vấn đề biển đông nhưng trong tương lai gần Nhật Bản sẽ cho thấy lá cờ của Nhật ở biển Đông, có thể là Nhật sẽ phối hợp các hoạt động tập trận. Trong tương lai xa, Nhật Bản có thể cung cấp các thiết bị quân sự để Nhật bản có thể thực hiện tuần tra trên biển Đông. Trong vài năm tới, Nhật Bản có thể tham gia tuần tra với Mỹ ở biển Đông một khi Nhật bản có đủ năng lực đặc biệt là máy bay tuần tra. Việt Hà:Trong hội nghị quốc phòng ASEAN cộng vừa qua, bất chấp sức ép từ Nhật bản và Mỹ, các nước đã không đưa ra được tuyên bố chung do chịu sức ép từ Trung Quốc. Điều này nói lên ảnh hưởng của Trung Quốc lên các nước ASEAN. Theo ông liệu Nhật Bản có thể phải xem xét lại cách tiếp cận tạo ảnh hưởng của mình với ASEAN trong tương lai không? Tetsuo Kotani: Cách tiếp cận ASEAN giữa Nhật và Trung Quốc là khác nhau. Trung Quốc cố gắng có ảnh hưởng lớn tới từng nước thành viên ASEAN. Nhật Bản thì khác. Nhật tôn trọng vai trò trung tâm của ASEAN và sáng kiến ASEAN, mặc dù Nhật bản sẽ tiếp tục kêu gọi giải pháp dựa vào luật quốc tế, chúng tôi không cố gắng làm gia tăng ảnh hưởng của mình lên từng nước, chúng tôi cố gắng làm việc với từng nước. Cách tiếp cận này cần nhiều năm để có thể thuyết phục từng nước ở ASEAN về tự do hàng hải, nhưng Nhật Bản sẽ tiếp tục chiến lược này khác với Trung Quốc. Việt Hà:Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/jp-join-us-freedom-of-navigation-program-scs-11192015125012.html
Công trình Trung Quốc đang xây dựng trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) ở quần đảo Trường Sa (Biển Đông).@epa
Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã ngang nhiên phá vỡ nguyên trạng Biển Đông, biến bãi ngầm và rạn san hô thành đảo nhân tạo, với ý đồ quân sự hóa khu vực, mà hệ quả sẽ là hạn chế quyền tự do qua lại của tàu thuyền và máy bay nước khác. Trước tình hình đó, chính quyền Mỹ đã nhiều lần lên tiếng đe dọa là sẽ cho hải quân thâm nhập vào bên trong vùng 12 hải lý của các đảo nhân tạo để cho thấy là Washington không chấp nhận các hành vi của Bắc Kinh.
Theo báo mạng The Diplomat của Nhật Bản, các tuyên bố trên đây của Mỹ tuy nhiên đã bị hiểu sai là Mỹ muốn bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong lúc thực ra là Hoa Kỳ chỉ chủ trương khẳng định quyền tự do hàng hải chính đáng của Mỹ chứ không muốn đi ngược lại nguyên tắc luôn tuyên bố là không thiên vị bên nào trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Vấn đề được nhà báo Shannon Tiezzi nêu bật trong bài phân tích « Sự thật về nhiệm vụ tuần tra vì tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông (The Truth About US Freedom of Navigation Patrols in the South China Sea) », công bố ngày 22/09/2015, là việc cho tàu tiến vào bên trong vùng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo của Trung Quốc không phải là hiển nhiên, vì phải tuân thủ những cơ sở pháp lý phức tạp. Tuần tra để bảo vệ tự do hàng hải chứ không phải để thách thức Bắc Kinh
Nếu Hoa Kỳ quyết định tiến hành các cuộc tuần tra, hiển nhiên đó không phải là để thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Mỹ đã nhiều lần xác định rằng họ sẽ không đứng về bên nào trên vấn đề chủ quyền của các thực thể địa lý đang tranh chấp ở Biển Đông. Thay vào đó, bằng cách tiến hành tuần tra trong vòng 12 hải lý quanh một số hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc, Washington sẽ cho thấy phần nào đó cách giải thích của Mỹ về luật quốc tế (đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS) liên quan đến quyền tự do hàng hải.
Để hiểu rõ những vấn đề nẩy sinh trong trường hợp các đảo nhân tạo của Trung Quốc và công việc tuần tra để khẳng định quyền tự do hàng hải của Mỹ, cần xem xét các điều khoản của UNCLOS áp dụng trong tình huống này. Không phải tàu nào cũng được phép tự do hoạt động trong hải phận 12 hải lý của một nước
Trong phạm vi vùng lãnh hải, được UNCLOS xác định là rộng 12 hải lý, tàu từ tất cả các quốc gia được hưởng quyền « quá cảnh vô hại » (innocent passage). Nhưng tàu phải đáp ứng một số điều kiện nhất định để có thể được hưởng quyền này.
UNCLOS liệt kê một loạt hoạt động « được xem là gây phương hại đến hòa bình, trật tự tốt hay an ninh của quốc gia ven biển » và do đó không được bao gồm trong quyền « quá cảnh vô hại ». Trong diện này, có loại hoạt động liên quan chặt chẽ đến công việc Mỹ tiến hành ở Biển Đông : « Bất kỳ hành vi nào nhằm thu thập thông tin có hại cho nền quốc phòng, an ninh của các quốc gia ven biển » (Phần II, Mục 3, Điều 19).
Điều vừa kể có nghĩa là các quốc gia không có quyền tiến hành công việc giám sát trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia khác. Vì vậy, vấn đề một cấu tạo nhất định có quyền sản sinh ra một vùng lãnh hải hay không rất quan trọng để xác định xem liệu Hải quân Mỹ có thể gửi tàu do thám và/hoặc máy bay đến tiến hành giám sát trong phạm vi 12 hải lý quanh cấu tạo đó hay không.
Vấn đề này, theo The Diplomat, được trả lời trong Điều 13, Mục 2, Phần II của UNCLOS, toàn văn như sau : 1. Một bãi cạn lúc chìm lúc nổi là một vùng đất được hình thành tự nhiên có biển bao quanh, nhô lên trên mặt nước khi thủy triều thấp, nhưng bị chìm xuống dưới mặt nước khi thủy triều cao. Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó ở cách đất liền hoặc một hòn đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì mực nước lúc thủy triều thấp nhất ở các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải. 2. Trong trường hợp một bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn nằm cách đất liền hoặc một hòn đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì bãi cạn đó không có lãnh hải riêng. [tác giả nhấn mạnh thêm] Bãi cạn lúc chìm lúc nổi và đảo nhân tạo không có lãnh hải
Thật vậy, bất kỳ cấu tạo nào mà chỉ nhô lên trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp là một bãi cạn lúc chìm lúc nổi (Low-tide elevation) và không được hưởng một vùng lãnh hải, trừ phi chính nó là một phần của lãnh hải của một cấu tạo khác (ví dụ, đường bờ biển của một quốc gia hoặc một hòn đảo).
Trong thực tế, các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn không thể được bao hàm trong các tuyên bố chủ quyền, trừ phi bản thân chúng nằm trong một vùng lãnh hải hiện có. Như vậy theo UNCLOS, một nhà nước tuyên bố chủ quyền trên một bãi cạn lúc chìm lúc nổi không có lý do gì để từ chối không cho tàu nước khác, kể cả tàu quân sự, quyền đi vào bên trong vùng 12 hải lý.
UNCLOS cũng quy định rằng « đảo nhân tạo, cơ sở và công trình kiến trúc không có quy chế hải đảo. Chúng không có lãnh hải riêng, và sự hiện diện của chúng không ảnh hưởng đến việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa » (Phần V, Điều 60). Thay vì tạo ra một vùng lãnh hải, đảo nhân tạo được phép có một « vùng an toàn », rộng không quá 500 mét – tức là không đầy một phần tư hải lý.
Căn cứ vào các quy định kể trên trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, bài báo trên tờ The Diplomat đã xem xét vấn đề những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc
Tàu quân sự chỉ bị cấm một cách rõ ràng là không được tiến hành do thám trong phạm vi lãnh hải 12 hải lý của một quốc gia khác ; bãi cạn lúc chìm lúc nổi không sản sinh ra lãnh hải, đảo nhân tạo cũng vậy ; do đó, không có lý do hợp pháp ngăn cản không cho Hải quân Mỹ hoạt động bên trong vùng 12 hải lý quanh các hòn đảo nhân tạo mà trước đây là bãi cạn lúc chìm lúc nổi. Bảy đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Trường Sa không cùng một quy chế
Điểm cuối cùng vừa kể - thường bị bỏ qua vào lúc Trung Quốc tiến hành cải tạo đất trên bảy thực thể ở Trường Sa - Đá Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross), Ga Ven (Gaven), Tư Nghĩa (Hughes), Gạc Ma (Johnson), Vành Khăn (Mischief), và Xu Bi (Subi) – là một số có đủ điều kiện để sản sinh ra một vùng lãnh hải bao quanh, ngay cả trước khi được Trung Quốc bồi đắp.
Hiện không có đồng thuận về bản chất các cấu tạo đó, đơn kiện Trung Quốc về Biển Đông của Philippines nộp lên Tòa án Trọng tài Thường trực chỉ liệt kê ba trong bảy cấu tạo (Vành Khăn, Xu Bi và Ga Ven) là bãi cạn lúc chìm lúc nổi mà thôi.
Các quan chức Mỹ thoạt đầu đã nói với tờ Wall Street Journal rằng theo Hoa Kỳ, một số các đảo nhân tạo của Trung Quốc là bãi cạn lúc chìm lúc nổi, và một số khác có quyền có lãnh hải ; công việc tuần tra vì quyền tự do hàng hải mà Mỹ thực hiện sẽ chỉ đi vào bên trong vùng 12 hải lý của các cấu tạo vốn là bãi cạn lúc chìm lúc nổi trước khi được Trung Quốc bồi đắp.
Nói cách khác, Hoa Kỳ không thách thức chủ quyền của Trung Quốc đối với các thực thể ở vùng Trường Sa mà chỉ thách thức quy chế của những cấu tạo đó theo luật quốc tế. Khi tiến hành tuần tra trong vùng 12 hải lý của Bãi Vành Khăn, Đá Xu Bi, hoặc Đá Ga Ven, Mỹ sẽ báo hiệu rằng mặc dù các cấu tạo này đã được bồi đắp thành đảo trong thời gian gần đây, Washington vẫn coi đó là bãi cạn lúc chìm lúc nổi theo UNCLOS do đó không thể có lãnh hải. Không thể tạo ra tiền lệ cho đảo nhân tạo quyền có lãnh hải
Đó là cách giải thích theo nghĩa rất hẹp mà dựa theo đó, Mỹ sẽ thách thức đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc bằng cách tiến hành các cuộc tuần tra vì quyền tự do hàng hải. Điều đó không có nghĩa là Washington coi yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa là không hợp pháp, mà chỉ có nghĩa đơn giản là Hoa Kỳ không công nhận yêu sách lãnh thổ đối với các cấu tạo nguyên là bãi cạn lúc chìm, lúc nổi, ngay cả khi cấu tạo có liên quan đã được bồi đắp và mở rộng một cách giả tạo để luôn luôn ở bên trên mặt nước khi thủy triều cao.
Tầm quan trọng của việc thiết lập tiền lệ đó rất rõ ràng : Nếu bất kỳ quốc gia nào cũng có thể nạo vét cát để bồi đắp các bãi cạn rồi tạo ra một cách giả tạo vùng lãnh hải 12 hải lý, thì điều đó có thể có những hậu quả nghiêm trọng đối với quyền tự do hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông.
Theo trang mạng Digital Gazeeter of the Spratly Islands, có rất nhiều bãi cạn lúc chìm lúc nổi đang nằm trong tay các đối thủ của Trung Quốc, trong đó có Việt Nam với Đá Tốc Tan (Alison Reef), Đảo Trường Sa Đông (Central Reef), và Đá Núi Le (Cornwallis South Reef), Malaysia với Đá Kiêu Ngựa (Ardasier Reef) và Đá Suối Cát (Dallas Reef) và Philippines với Đá Cá Nhám (Irving Reef).
Nếu có tiền lệ là một đảo nhân tạo được bồi đắp trên nền tảng một bãi cạn lúc chìm lúc nổi, lại có quyền sản sinh ra lãnh hải, chúng ta có thể thấy một sự bùng nổ của các hoạt động xây dựng ở khu vực vốn đang tranh chấp gay go.
Cần hiểu rõ vấn đề như đã được trình bày ở trên khi sau này ta lại đọc được một bài báo nói rằng Hoa Kỳ có kế hoạch thách thức chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa thông qua việc tuần tra vì quyền tự do hàng hải. Nhận xét đó không hoàn toàn sai, nhưng sự thật đằng sau hàng tựa phức tạp hơn nhiều.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (T); Thượng nghị sĩ John McCain (phía sau) tại Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, ngày 29/07/2015.Reuters
Hải quân Mỹ đã nhiều lần lên tiếng đe dọa cử chiến hạm và phi cơ tiến sâu vào vùng 12 hải lý quanh các đảo mà Trung Quốc đang bồi đắp tại Trường Sa, nhưng chưa làm. Thái độ rụt rè đó đã khiến Thượng viện Mỹ bất bình. Nhân một cuộc điều trần ngày 17/09/2015, nhiều Thượng nghị sĩ Mỹ công khai yêu cầu Lầu Năm Góc phải cho tàu Hải quân tiến vào bên trong vùng biển đó để khẳng định lập trường của Mỹ.
Theo hãng tin Mỹ AP, Thượng nghị sĩ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ, đã tuyên bố Mỹ cần phải thâm nhập vào bên trong khu vực 12 hải lý chung quanh các hòn đảo mà Trung Quốc đang rốt ráo xây dựng. Mục tiêu là để nêu bật quan điểm của Washington, không công nhận các tuyên bố của Bắc Kinh cho rằng các đảo là lãnh thổ của Trung Quốc.
Tại phiên điều trần, ông McCain khẳng định : « Mặc nhiên công nhận tuyên bố chủ quyền nhân tạo của Trung Quốc một sai lầm nguy hiểm ». Sau khi nhắc lại là Trung Quốc mới đây đã cho tàu quân sự tiến vào vùng 12 hải lý quanh quần đảo Aleutian của Mỹ, ngoài khơi Alaska, Thượng nghị sĩ McCain cho rằng Hoa Kỳ cũng cần khẳng định « một cách mạnh mẽ » quyền lưu thông trên biển của mình.
Khuyến cáo của các Thượng nghị sĩ Mỹ được cho là lời chỉ trích đối với thái độ quá thận trọng của Hải quân Mỹ. Bất chấp các tuyên bố dứt khoát từng được đưa ra, hôm qua, chính ông David Shear, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng về Châu Á-Thái Bình Dương đã thừa nhận rằng kể từ năm 2012 đến nay, tàu Mỹ chưa hề tiến vào bên trong vùng 12 hải lý quanh các đảo Bắc Kinh đang kiểm soát.
Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris cũng tiết lộ rằng phi cơ quân sự của Hoa Kỳ cũng chưa hề tiến hành một phi vụ nào trực tiếp bên trên bất kỳ thực thể nào mà Trung Quốc đang bồi đắp và xây dựng ở vùng Biển Đông.
Hai nhân vật then chốt trong guồng máy quân sự Mỹ đã liên tục bị các Thượng nghị sĩ chất vấn về việc Lầu Năm Góc đã xin Nhà Trắng bật đèn xanh cho các chiến dịch bên trong vùng 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp hay chưa, và câu trả lời ra sao ?
Câu trả lời của Đô đốc Harris khá lúng túng : một mặt ông thừa nhận rằng Hải quân Mỹ cần được phép tiến vào bên trong vùng 12 hải lý để hành xử quyền tự do hàng không và hàng hải ở Biển Đông, nhưng ông vẫn đang chờ hướng dẫn từ cấp trên.
Ông David Shear cũng từ chối nói về những cuộc thảo luận đang diễn ra giữa Lầu Năm Góc và Nhà Trắng trên vấn đề này, nhưng cho biết thêm là việc hành xử quyền tự do hàng hải trong khu vực quần đảo Trường Sa chỉ là một trong những phương án mà thôi, vì còn cần phải tìm cách ngăn chặn không cho Trung Quốc chuyển vũ khí tối tân đến các tiền đồn đó của họ trên Biển Đông.
Một Thượng nghị sĩ khác có mặt trong buổi điều trần, ông Dan Sullivan, tiểu bang Alaska, đã nhắc lại tuyên bố công khai hôm thứ Tư 16/09 vừa qua của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, theo đó Hoa Kỳ sẽ không lùi bước trong việc bảo vệ quyền tự do hàng hải trong khu vực, và « việc biến một bãi đá ngầm thành một sân bay không thể cho ta quyền đòi chủ quyền và giới hạn quyền quốc tế được quá cảnh trên không và trên biển ».
Theo các nhà quan sát, phản ứng không hài lòng của các Thượng nghị sĩ có thế lực phải chăng đang dự báo cho những động thái cứng rắn hơn nữa của Hải quân Mỹ tại Biển Đông trong thời gian sắp tới đây ?
Vào đầu năm nay, trước những phản ứng từng bị coi là yếu ớt của Washington trước các hành vi bị đánh giá là ngày càng thô bạo và đầy tính khiêu khích của Bắc Kinh tại Biển Đông, 4 Thượng nghị sĩ Mỹ trong đó có ông John McCain đã công bố thư ngỏ, yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ phải cứng rắn hơn. Kết quả là chính quyền Obama đã liên tiếp có những cố gắng vạch trần và tố cáo rộng rãi mưu đồ crua Trung Quốc tại Biển Đông.
Khuyến cáo lần này của các Thượng nghị sĩ rất có thể sẽ có kết quả tương tự.
Trong một tuyên bố chung công bố vào hôm qua 23/08/2013, Tư lệnh hai quân đội Mỹ và Philippines đã tái xác định quyết tâm duy trì quyền tự do đi lại trên biển trong khu vực Đông Nam Á. Lời cam kết này được nhấn mạnh trở lại nhân dịp các phái đoàn của hai đồng minh quân sự này bắt đầu một vòng đàm phán mới tại Washington về việc mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Philippines.
Tuyên bố chung của Tướng Emmanuel Bautista, lãnh đạo Quân đội Philippines đã trưởng chung và Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ xác định : « Chúng tôi cùng chia sẻ lợi ích chung trong việc duy trì tự do hàng hải, thương mại hợp pháp không bị cản trở, và vận chuyển người và hàng hóa trên biển. »
Bản tuyên bố chung của lãnh đạo quân đội Mỹ - Philippines nhấn mạnh : « Chúng tôi quyết tâm ... củng cố môi trường an ninh tại vùng Đông Nam Á sao cho bảo vệ được lợi ích của tất cả những ai tôn trọng giá trị của việc giao thương qua các vùng biển mà không bị cản trở, đồng thời răn đe những kẻ muốn hạn chế hoặc hành động theo cách có thể đe dọa quyền tự do thương mại này ».
Vào lúc Biển Đông đang bị khuấy động vì các hành động cứng rắn của Bắc Kinh nhằm buộc các láng giềng tôn trọng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông, gây nên quan ngại về nguy cơ khu vực bị mất ổn định, tuyên bố chung của hai lãnh đạo quân đội Mỹ-Philippines đã tránh nêu đích danh Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, Manila đã tố cáo Bắc Kinh về việc gây nguy hiểm cho hòa bình châu Á và giao thương trên biển thông qua các yêu sách chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, bao gồm cả các khu vực gần bờ biển của Philippines.
Bản tuyên bố chung của hai viên tướng Bautista và Dempsey đã kêu gọi các nước trong khu vực giải quyết các tranh chấp biển đảo dựa trên luật pháp quốc tế và bằng các biện pháp hòa bình.
Bị yếu thế về mặt quân sự so với Trung Quốc, lại bị Bắc Kinh công khai chèn ép, gặm nhắm dần dần các bãi đá mà Manila đòi chủ quyền tại Biển Đông, từ Đá Vành Khăn (Mischief Reef) cho đến Bãi cạn Scaborough, Philippines đang tích cực cầu viện Hoa Kỳ để được hỗ trợ về mặt quân sự và chính trị để đối phó với Trung Quốc.
Trước yêu cầu của Manila, Washington một mặt khẳng định không đứng về phía nào trong các tranh chấp lãnh thổ, nhưng một mặt khác lại tìm cách tăng cường lực lượng quân sự tại Philippines, một đồng minh quân sự của Mỹ từ năm 1951. Hai bên đã bắt đầu đàm phán về các quy tắc cho phép quân đội Mỹ tăng cường lực lượng và thiết bị trên lãnh thổ Philippines. Vòng đầu tiên đã mở ra tại Manila ngày 14/08 vừa qua, và sẽ được tiếp tục vào cuối tháng 8 này tại Washington.
Philippines trước đây từng là nơi đóng quân của hàng chục ngàn binh sĩ Mỹ tại hai căn cứ gần thủ đô Manila. Nhưng Hoa Kỳ đã phải rời khỏi Philippines vào năm 1992 sau khi Thượng viện nước này kết thúc hợp đồng cho thuê các căn cứ đó ủa họ trong bối cảnh phong trào bài Mỹ dâng cao trong dân chúng Philippines vào khi đó.
Tuy nhiên, đến năm 1999, quân đội Hoa Kỳ được phép quay trở lại Philippines trong khuôn khổ các cuộc tập trận chung thường niên, trong khi lực lượng đặc biệt Mỹ cũng đã được luân phiên đến công tác tại vùng miền nam Philippines từ năm 2002 để giúp quân đội Philippines tại địa phương đối phó với phe du kích Hồi giáo quá khích.