Posts tonen met het label nợ xấu. Alle posts tonen
Posts tonen met het label nợ xấu. Alle posts tonen

maandag 21 oktober 2013

Việt Nam: Nước ngoài có thể tham gia xử lý nợ xấu

Nước ngoài có thể tham gia xử lý nợ xấu

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-10-20
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (người  đứng thứ 4, tính từ bên trái) và các nhà  đầu tư nước ngoài
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (người đứng thứ 4, tính từ bên trái) và các nhà đầu tư nước ngoài
Source www.nld.com.vn

Nghe bài này
Việt Nam sẽ điều chỉnh thủ tục pháp lý phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức nước ngoài tham gia vào tiến trình xử lý nợ xấu trong nước. Công việc này liệu có khả thi và có tạo rủi ro nào không?
Điều chỉnh thủ tục pháp lý
Tại Hội Nghị Các Nhà Đầu Tư Vinacapital hôm thứ Năm vừa qua, các doanh nhân của Vinacapital, một quĩ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhận định rằng sẽ có nhiều cơ hội đầu tư nảy sinh trên thị trường Việt Nam một khi nợ xấu được giải quyết và lãnh vực bất động sản bắt đầu có thanh khoản đối với những căn hộ có giá trị thấp.
Sau khi nghe các nhà đầu tư bày tỏ ý muốn tham gia vào việc mua bán nợ xấu của Việt Nam nhưng nhận thấy hãy còn khá nhiều trở ngại, phó thủ tướng Hoàng Trung Hải nói rằng Việt Nam sẽ điều chỉnh thủ tục pháp lý phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức nước ngoài có thể tham gia vào tiến trình xử lý nợ xấu trong nước.
Cần biết để giải quyết nợ xấu tức những món tiền vay cồng kềnh và bất khả thanh toán, Việt Nam ra nghị định chính phủ cho thành lập Công Ty Quản Lý Tài Sản VAMC, chính thức hoạt động từ ngày 9 tháng Bảy. VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt để mua lại những món nợ xấu từ các tổ chức tín dụng trong thời hạn năm năm.
Trước đó, một chuyên gia tài chính quốc tế, ông Neil Hagan, từng cho rằng chuyện ngân hàng Việt Nam ngập nợ xấu và cơn khủng hoảng thị trường bất động sản là cơ hội cho giới đầu tư ngoại quốc trở lại nếu như chính phủ Việt Nam mời đón họ.
Điều chỉnh pháp lý sao cho phù hợp, mà Việt Nam đang cân nhắc, để giới đầu tư tham gia vào việc mua bán nợ xấu, cần được hiểu như thế nào? Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, chuyên gia kiêm viện phó Viện Giá Cả Thị Trường thuộc Bộ Tài Chánh, giải thích rằng mở ra cho nước ngoài như vậy không ảnh hưởng đến VAMC mà là giai đoạn sau của VAMC:
Thực ra là nguồn lực tài chính cũng có hạn,do đó việc tới đây là VAMC có thể xử lý các khoản nợ xấu đã mua đấy, trong đó có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài...ví dụ như các định chế tài chính, ngân hàng, quĩ đầu tư và thậm chí các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp nước ngoài…đều có thể tham gia vào thị trường mua nợ của VN
tiến sĩ Vũ Đình Ánh
Tức là hiện nay cơ chế mua bán nợ của Việt Nam vì không có nguồn tiền cho nên VAMC sẽ mua lại nợ xấu tại các tổ chức tín dụng dưới hai loại, một là tự nguyện bán nợ cho VAMC, loại thứ hai là buộc họ phải bán nợ nếu tỷ lệ nợ xấu của họ trên 3% trong tổng dư nợ của từng tổ chức tín dụng.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay thì thực ra là nguồn lực tài chính cũng có hạn,do đó việc tới đây là VAMC có thể xử lý các khoản nợ xấu đã mua đấy, trong đó có sự tham gia của cac nhà đầu tư nước ngoài, thì sẽ bao gồm những tổ chức ví dụ như các định chế tài chính, ngân hàng, quĩ đầu tư và thậm chí các nhà đầu tư tài chính chuyên nghiệp nước ngoài…đều có thể tham gia vào thị trường mua nợ của Việt Nam. Đó là bước thứ hai sau khi VAMC đã mua lại nợ và bây giờ họ sẽ bán lại cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào đó.
Được hỏi ông nghĩ sao khi Vinacapital đánh giá môi trường đầu tư cũng như tình hình kinh tế Việt Nam là sẽ có rất nhiều cơ hội đầu tư một khi khi nợ xấu được giải quyết và thị trường bất động sản khởi sự có những dấu hiệu tích cực, tiến sũ Vũ Đình Ánh cho rằng sự đánh giá đó tập trung chủ yếu nơi khả năng đầu tư vào thị trường Việt Nam hiện thời:
Nói chung thời điểm cuối của 2013 có những tín hiệu cho thấy sự đóng băng trước đó đã tan một phần và các nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy có khá nhiều cơ hội. Riêng với thị trường mua bán nợ, rõ ràng việc xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi VAMC đã thực hiện những bước mua nợ đầu tiên, và cái khả năng tiếp tục mua nợ trong thời gian tới là rất nhiều, thì nó sẽ tạo ra một loại hàng hóa mới.
Tôi cho rằng không chỉ đầu tư nước ngoài mà đầu tư trong nước cũng rất quan tâm đến thị trường mua bán nợ đó bởi khả năng sinh lợi cũng khá lớn, khi mà hầu hết các khoản nợ xấu đều có những tài sản đảm bảo ở mức độ này hay mức độ khác. Đặc biệt khi nó liên quan nhiều đến bất động sản là một trong những vấn đề mà đầu tư nước ngoài cũng hy vọng là trong đợt này khi mà Việt Nam cầm nguồn lực để xứ lý nợ xấu thì các điều kiện về nắm giữ và kinh doanh bất động sản đối với đầu tư nước ngoài sẽ được nới lỏng hơn.
Mọi rủi ro đều có thể xảy ra
Sau một thời gian dài các thị trường tài sản đóng băng khá lâu và các nguồn tài chính trong nước gần như bị nghẽn, nguồn lực tài chính mới từ nước ngoài sẽ kích hoạt, thậm chí là khơi thông nguồn lực đầu tư trong nước. Dưới mắt tiến sĩ Vũ Đình Ánh, đó là kỳ vọng của hai phía, một bên là các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu của Việt Nam, một bên là giới đầu tư trong nước nhằm khôi phục hoạt động sau một thời gian bị đình trệ.
Quan trọng nhất là các nha đầu tư đoán đúng được cái xu hướng. Dựa trên xu hướng đấy thì kể cả chuyện giá tài sản xuống hay giá tài sản lên thì họ đều có thể kiếm cách kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận được
tiến sĩ Vũ Đình Ánh
Tất cả mọi rủi ro đều có thể xảy ra, ông khẳng định, và không phải là không có những cảnh báo liên quan đến những vấn đề như lạm phát cao có thể tái diễn, nợ xấu ngân hàng chưa được xử lý, tài sản tiếp tục sụt giá vân vân… Tuy nhiên, ông phân tích tiếp:
Có hai góc độ. Thứ nhất là nếu các cơ quan chức năng hay chính phủ đánh giá đúng tình hình và có biện pháp ngăn chận từ trước thì những cái đó là những cảnh báo nhưng không xảy ra trong thức tế.
Thứ hai, liên quan tới bản thân nhà đầu tư nước ngoài. Giả định tất cả những đánh giá như thế biến thành hiện thực thì trong đó họ cũng sẽ tìm được những cơ hội để tìm lợi nhuận. Ví dụ trường hợp lạm phát cao chẳng hạn, thông thường kéo theo sự mất giá đồng Việt Nam, với đầu tư nước ngoài sử dụng ngoại tệ thì rõ ràng đấy là thế mạnh của họ khi đồng Việt Nam mất giá.
Nên là nếu như cho đến nay mà vấn đề nợ xấu chưa được giải quyết chẳng hạn thì đấy chính là nguyên cớ hay tiềm năng mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào với hy vọng thị trường đấy không dừng lại ở qui mô vài chục ngàn tỉ như hiện nay mà nó còn lớn hơn chẳng hạn.
Quan trọng nhất là các nha đầu tư đoán đúng được cái xu hướng . Dựa trên xu hướng đấy thì kể cả chuyện giá tài sản xuống hay giá tài sản lên thì họ đều có thể kiếm cách kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận được.
Cũng tại Hội Nghị Các Nhà Đầu Tư Vinacapital 2013, Vinacapital ước tính GDP của Việt Nam năm 2013 đạt 5,3%, tăng trưởng tín dụng 10%, thâm hụt ngoại tệ chỉ chừng 4 tỉ USD, vốn đầu tư nước ngoài gần 15 tỉ trong đó 11 tỉ đã được giải ngân.
Đó là lý do, theo Vinacapital, nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục tham gia một cách tự tin vào các lãnh vực tiêu thụ, y tế và nông nghiệp trên thị trường Việt Nam trong thời gian qua và những ngày sắp tới.

dinsdag 9 juli 2013

Việt Nam : Vai trò của Công ty Quản lý tài sản VAMC

Vai trò của Công ty Quản lý tài sản VAMC

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-07-05
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

000_Hkg7734060-305.jpg
Một công ty chứng khoáng tại Hà Nội, ảnh minh họa chụp tháng 8 năm 2012.
AFP



Để xử lý nợ xấu, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định 53 về việc thành lập VAMC Công Ty Quản Lý Tài Sản, sẽ chính thức triển khai ngày 9 tức thứ Ba tuần tới.

Không dùng tiền ngân sách

Giải thích về vai trò và sự hoạt động của AMC Công Ty Quản Lý Tài Sản (Asset Management Company) đến VAMC của Việt Nam, tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội Đồng Tư Vấn Tài Chánh Và Tiền Tệ trong chính phủ, giải thích đây là kinh nghiệm quốc tế:
TS Lê Xuân Nghĩa: AMC là công ty quản lý tài sản chung, còn chữ V đằng trước là Việt Nam. Đây là kinh nghiệm quốc tế thôi. Trên thế giới có nhiều nước sử dụng AMC như một công cụ chủ chốt để xử lý nợ xấu. Đặc biệt các công ty thành công nhất ở các nước thường là những công ty AMC tập trung, tức là cả quốc gia một công ty thì nó thành công hơn là thành lập nhiều công ty.
Ở Việt Nam thì mỗi một Ngân Hàng Thương Mại có một công ty AMC nhưng đó là những công ty phân tán và chỉ xử lý được một phần nợ xấu cho chính các ngân hàng đó. Còn nợ xấu của toàn bộ nền kinh tế thì chưa có công ty nào xử lý cho nên chính phủ phải thành lập một công ty như vậy để xử lý toàn bộ nợ xấu. Ví dụ như công ty Kamco của Hàn Quốc trước đây là mô hình mà Việt Nam học tập.
Thanh Trúc: Căn cứ trên kinh nghiệm quốc tế như ông vừa nói, thưa tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, tình trạng nợ xấu trong toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đến lúc này như thế nào?
TS Lê Xuân Nghĩa: Nói chung nợ xấu của Việt Nam ở trong giai đoạn khá là nghiêm trọng, các Ngân Hàng Thương Mại không thể tự xử lý được mà cần phải có sự can thiệp của chính phủ.
VAMC của Việt Nam cũng bị một áp lực, tức là quốc hội không cho dùng tiền của ngân sách, không cho dùng tiền thuế của dân để xử lý nợ xấu.
-TS Lê Xuân Nghĩa
Với một tỷ lệ nợ xấu vào khoảng 10, trên 10%, nếu để cho các Ngân Hàng Thương Mại tự xử lý thì nó giống như Nhật Bản trước đây sẽ kéo dài rất nhiều năm, có thể lên tới 7 đến 10 năm. Mỗi một năm các Ngân Hàng Thương Mại chỉ xử lý được một vài phần trăm thôi, và như vậy làm cho nền kinh tế bị đình đốn suốt cả thời gian đó, tín dụng cũng se bị đóng băng suốt cả thời gian đó, thị trường bất động sản có thể dẫn tới sụp đổ hoàn toàn, giống như kinh nghiệm của Nhật Bản năm 1990.
Vì vậy cho nên Việt Nam, cũng giống như mốt số nước, không lựa chọn phương án là để mặc các Ngân Hàng Thương Mại tự xử lý mà chính phủ sẽ can thiệp để xứ lý cho nhanh hầu khắc phục tình trạng đóng băng tín dụng, đóng băng bất động sản, để nền kinh tế phục hồi trở lại giống như Mỹ đang làm vừa rồi.
Thanh Trúc: Thưa tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, được biết với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, nhiều phần VAMC sẽ thực hiện phương thức mua nợ xấu bằng cách phát hành mệnh giá trái phiếu 1 tỷ đồng thay vì mua nợ xấu của Ngân Hàng Thương Mại theo giá thị trường bằng nguồn vốn. Xin ông giải thích rõ hơn về điểm này?
TS Lê Xuân Nghĩa: VAMC của Việt Nam cũng bị một áp lực, tức là quốc hội không cho dùng tiền của ngân sách, không cho dùng tiền thuế của dân để xử lý nợ xấu. Nó giống như Đảng Cộng Hòa ở Mỹ không cho Obama dùng tiền thuế của dân để xử lý cho nên buộc phải lựa chọn phương án “mixed” tức là phải có một chút tiền thuế và một chút tiền của Ngân Hàng Trung Ương. Việt Nam tình trạng cũng y như vậy, cũng là một cách xử lý nợ xấu theo lối mixed, các nợ xấu mà chính phủ phải chịu trách nhiệm vì dụ nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước thì phải xử lý bằng tiền của ngân sách tức tiền thuế, hoặc chính phủ vay nợ hoặc bán bớt doanh ngiệp nhà nước đi rồi lấy tiền xử lý. Đấy là công việc của chính phủ, còn toàn bộ cái nợ của khu vực tư nhân thì chuyển sang AMC này, mà AMC trực thuộc Ngân Hàng Trung Ương thì Ngân Hàng Trung Ương sẽ xử lý.
ngan-hang-nha-nuoc-305.jpg
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội

Chính vì vậy, để tránh tình trạng tung tiền ra vào thời điểm mà có thể dẫn đến lạm phát, Ngân Hàng Trung Ương phát hành một loại trái phiếu đặc biệt, nó là một loại tiền ghi sổ để mà xử lý.
Thanh Trúc: Nhưng vì sao sau khi đã mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt rồi thì Ngân Hàng vẫn phải phát trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản này thưa ông?
TS Lê Xuân Nghĩa: Tại vì AMC mua nợ xấu bằng hai cách. Cách thứ nhất là mua theo giá thị trường bằng tiền mặt, gọi là mua đứt bán đoạn. Cách thứ hai là mua theo giá sổ sách, tức là giá ghi sổ, không được trả bằng tiền mặt được trả bằng trái phiếu đặc biệt.
Sở dĩ người ta phải mua theo giá ghi sổ là vì muốn mua thật nhanh, tránh tình trạng mặc cả, kéo dài, chần chứ không bán, làm cho tình trạng nợ xấu tồi tệ hơn. Mua nhanh theo giá ghi sổ và sau đó dùng cái dự phòng rủi ro như một biện pháp kỹ thuật để khắc phục sự chênh lệch giữa giá ghi sổ và giá thị trường. Biện pháp kỹ thuật đó chính là việc bắt buộc trích lập dự phòng rủi ro.

Phụ thuộc năng lực thể chế

Thanh Trúc: Thưa khi mua lại nợ xấu thì Công Ty Quản Lý Tài Sản VMCA còn thúc đẩy sự tăng trưởng tín dụng trong ngân hàng?
TS Nguyễn Xuân Nghĩa: Cái thứ nhất là bản thân tài sản của họ là sạch sẽ, không còn nợ xấu nữa. Nếu có nợ xấu thì không thể mở rộng tín dụng được vì như thế là vi phạm các qui định về an toàn của Ngân Hàng Nhà Nước. Khi không còn nợ xấu nữa thì họ có khả năng đẩy được tín dụng ra tức có khả năng mở rộng tín dụng.
Cái thứ hai, họ được một cái lợi tức là mặc dù bị trích lập dự phòng rủi ro 20% cho trái phiếu đặc biệt. Nhưng nếu như không có trái phiếu đặc biệt mà họ giữ nợ xấu lại thì họ còn phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn. Bởi vì qui định của Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế qui định nợ xấu nhất là nợ nhóm bốn. Nhóm 1 là nợ tốt, Nhóm hai là nợ cần phải cảnh giác, Nhóm 3 là nợ có vấn đề, Nhóm 4 là nợ nghi ngờ không thể trả được và Nhóm 5 là nợ mất vốn. Nợ mất vốn là không thể đòi lại được nữa.
Bất cứ định chế tài chính nào, muốn hoạt động có hiệu quả, phải là một bô máy vận hành tốt rồi thì minh bạch với chất lượng của nguồn nhân lực phải thật là tốt.
-TS Lê Xuân Nghĩa
Tương ứng với một nhóm nợ như vậy thì bắt buộc phải có một tỷ lệ bắt buộc dự phòng rủi ro. Thí dụ Nhóm 1 thì trách lập rủi ro 0%, Nhóm 2 là 5%, Nhóm 3 là 20%, Nhóm 4 là 50% và Nhóm 5 là 100%. Nếu họ bán toàn bộ nợ xấu tức Nhóm 3, Nhóm 4, Nhóm 5 cho AMC thì họ sẽ không phải trích lập dự phòng rủi ro nữa. Họ nhận trái phiếu đặc biệt thì họ chỉ trích lập dự phòng rủi ro trên trái phiếu đặc biệt có 20% thôi. Cứ tưởng tượng phần lớn nợ xấu, tức là Nhóm 4 và Nhóm 5, mà bị trích lập tới 50% hoặc 100% thì như vậy họ phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn.
Nhưng mà ở Việt Nam thì các Ngân Hàng Thương Mại người ta tính toán ăn gian để người ta trích được ít hơn là cái số nếu mà họ phải nhận trái phiếu đặc biệt, với trái phiếu đặc biệt thì họ phải trích 20% mà họ không thể nào ăn gian được.
Thanh Trúc: Theo ông, hiệu quả của VAMC Công Ty Quản Lý Tài Sản Việt Nam có cao không?
TS Lê Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ nó phụ thuộc vào cái gọi là năng lực thể chế, bởi vì bất cứ định chế tài chính nào, muốn hoạt động có hiệu quả, phải là một bô máy vận hành tốt rồi thì minh bạch với chất lượng của nguồn nhân lực phải thật là tốt.
Chúng tôi đã cho các chuyên gia ở Việt Nam đi khảo sát ở nhiều nước, Thụy Điển, Ireland, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… để rút kinh nghiệm cho một AMC hoạt động có hiệu quả.
Thanh Trúc: Câu hỏi sau cùng xin được hỏi tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, ông có nghĩ sau khi chuyển nợ xấu qua VAMC rồi thì doanh nghiệp đó sẽ được vay vốn. Trong trường hợp khoản vay mới đó lại trở thành nợ không trả được, tức là khoản nợ xấu này chồng tiếp lên khoản nợ xấu kia?
TS Lê Xuân Nghĩa: VAMC của Việt Nam đặc biệt ở điểm vừa nói đấy, tức ngoài việc nó xử lý nợ xấu thì chính phủ còn cho nó chức năng tái cấu trúc lại các doanh nghiệp. Ví dụ có những doanh nghiệp đang có nợ xấu nhưng mà hoạt động tốt, nợ xấu là ở những mảng kinh doanh thêm về bất động sản thôi mà rất nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đều bị như vậy.
Thế thì VAMC sẽ nhìn vào chiến lược sản xuất của công ty đó và quyết định hoặc là sẽ gia hạn kỳ hạn trả nợ hoặc là sẽ cho vay mới. hoặc sẽ đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp đó được vay vốn ngân hàng. Đấy là điều mới của VAMC Việt Nam, tức nó sẽ chọn những doanh nghiệp nào tốt mà có khả năng tồn tại và phát triển thì hỗ trợ để có thêm vốn để đầu tư mới và có tín dụng mới.
Thanh Trúc: Xin cảm ơn tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa đã trả lời cuộc phỏng vấn của chúng tôi.

maandag 29 april 2013

Việt Nam : Nợ công và nợ xấu

Sunday, April 28, 2013

Nợ công và nợ xấu

QLB  - Nếu tính theo tiêu chuẩn quốc tế thì nợ công của Việt Nam 2011 sẽ cao gấp 2 lần con số do Bộ Tài chính công bố, tương đương 106% GDP! Sự khác biệt này nằm ở chỉ tiêu về nợ công của Việt Nam so với các tiêu chuẩn thế giới. Tuy nhiên, các ý kiến tại hội thảo khoa học “Khủng hoảng nợ công ở Liên minh châu Âu và những vấn đề gợi mở tới Việt Nam”, do Viện hàn lâm Khoa học Việt Nam tổ chức ngày 25/4 cho thấy, muốn hội nhập, Việt Nam cần tuân theo luật chơi quốc tế. 
 
Tại hội thảo, các chuyên gia đưa ra hai con số thống kê nợ công năm 2011 hoàn toàn cách biệt. Theo đó, nợ công của Việt Nam do Bộ Tài chính công bố chỉ vào khoảng 66,8 tỉ USD, tương đương 55% GDP 2011. Tuy nhiên, nếu tính theo chuẩn quốc tế, TS Lưu Bích Hồ, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược (Bộ KH-ĐT) đã chỉ ra rằng con số này phải lên tới 128,9 tỉ USD, tương đương 106% GDP.Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch tuyệt đối trên, theo TS Nguyễn Trọng Hậu, Đại học Almamer, Ba Lan, là do Việt Nam đã lược bớt một số chỉ tiêu nợ công so với các nước khác, trong đó có 2 chỉ tiêu quan trọng là nợ của doanh nghiệp nhà nước và khoản Nhà nước vay của quỹ hưu trí. TS Hậu dẫn chứng, trong khi ở nước ngoài, bất kỳ một doanh nghiệp nào có cổ phần của Nhà nước khi vay nước ngoài cũng được tính vào nợ công. Trong khi đó, ở Việt Nam, điển hình như trường hợp vay cả tỷ USD như của Vinashin cũng không được tính vào nợ công. 

Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng việc đánh giá thực trạng nợ công của Việt Nam thực sự gặp khó khăn khi các số liệu vừa thiếu, vừa không đủ tin cậy. Trong khi nhiều nước trên thế giới, con số nợ công được cập nhật tới từng quý, nghĩa là ở thời điểm hiện tại, nhiều quốc gia đã biết được nợ công chính xác của nước mình tính đến hết quý I/2013, thì ở Việt Nam tính cập nhật rất yếu. Tính đến nay, con số báo cáo nợ công chính thức mới được Bộ Tài chính công bố đến năm 2010. Con số nợ công củanăm 2011 mới chỉ là ước tính. 

Một lần nữa, tính minh bạch thông tin, điều mà giới đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài quan ngại, lại ám mầu lên chất lượng báo cáo chỉ số kinh tế quan trọng này. Càng nhiều chỉ số bị liệt vào dạng thiếu minh bạch, tính cạnh tranh về môi trường đầu tư của Việt Nam càng thấp trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. 

Cho rằng tình trạng nợ công của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với nợ công của EU, PGS, TS Lưu Ngọc Trịnh, Viện Kinh tế Chính trị Thế giới nhận định, điểm chung của các quốc gia này là kỷ luật tài khóa lỏng lẻo. Nó thể hiện rõ ở Việt Nam khi chi ngân sách cuối năm luôn vượt xa Nghị quyết của Quốc hội về chi ngân sách theo công bố đầu năm.Bên cạnh đó, việc phân bổ nguồn vốn dễ bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu chính trị hơn là các mục tiêu kinh tế. Và khi thu không đủ bù chi, Việt Nam nhiều khả năng sẽ bị rơi vào “vòng xoáy nợ công” giống như Hy Lạp thời gian qua. 

Trong khuôn khổ cuộc hội thảo, có một số ý kiến bày tỏ sự quan ngại trước thực trạng nợ công hiện nay. Cụ thể, TS Nguyễn Trọng Hậu cho rằng cần đề phòng trước khả năng các khoản nợ tư được biến thành nợ công. Khi các tập đoàn kinh tế tư nhân vay vốn từ nước ngoài và phát triển lên quy mô lớn, và nếu bị đổ vỡsẽ tạo ra hệ lụy sâu sắc cho nền kinh tế. Do đó, trong nhiều trường hợp, Nhà nước lại phải đưa tay ra cứu. 

Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ công hiện nay, GS.TS Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Hội đồng Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã đề cập vềkhả năng mô hình tăng trưởng kinh tế quá nóng, dựa quá nhiều vào vốn và phát triển theo chiều rộng. Trong khi đó, để xử lý được vấn đề nợ công, PSG.TS Nguyễn An Hàcho rằng trước hết cần sự minh bạch đối với các con số trong hoạt động này, tiếp đến là cùng tham gia theo luật chơi quốc tế, một khi đã muốn hội nhập quốc tế. Như vậy, sẽ phải điều chỉnh, bổ sung thêm các chỉ tiêu về nợ công so với tiêu chuẩn hiện tại của Việt Nam. 

Hiện không chỉ có nợ công, mà nhiều chính sách điều hành kinh tế, thị trường khác ở Việt Nam cũng đang trong thời kỳ được xem xét và có khả năng điều chỉnh cho phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, tính minh bạch là điều kiện tiên quyết trong bất kỳ một hoạt động quản lý vĩ mô nào, nếu định hướng đến tính hiệu quả và lợi ích chung. 

Trường Giang 
http://ebank.vnexpress.net/gl/ebank/tin-tuc/2013/04/nua-trieu-ty-dong-no-xau-ngan-hang/ 
‘Nửa triệu tỷ đồng nợ xấu ngân hàng’ 
Quy mô nợ xấu có thể vượt nửa triệu tỷ đồng nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines – theo tính toán của Tiến sĩ Trịnh Quang Anh. 

Tại Diễn đàn kinh tế Mùa xuân đang diễn ra ở Nha Trang, phần lớn các diễn giả đều cho rằng vẫn nợ xấu vẫn chưa có con số thống nhất, trong đó không ít ý kiến hoài nghi về số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố. Nợ xấu toàn hệ thống theo báo cáo từ các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2012 là 120.000 tỷ đồng, chiếm 4,1% tổng dư nợ tín dụng. Còn theo công bố mới nhất của đại diện Chính phủ, quy mô tính đến cuối tháng 2/2013, đã giảm xuống còn khoảng 6% thay vì mức hơn 8,8% Thống đốc công bố năm ngoái. 
 
Ông Trịnh Quang Anh cho rằng thực tế nợ còn “xấu” hơn rất nhiều. Trong cuốn kỷ yếu Diễn đàn kinh tế Mùa xuân năm 2013, Tiến sĩ Trịnh Quang Anh – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam đưa ra những ước tính về quy mô nợ xấu hiện nay. 

Theo ước tính của ông, nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780 và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng. Con số này tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống hay khoảng 17% GDP danh nghĩa năm 2012. Con số nợ xấu thực của nhóm khách hàng doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục được nhân lên nếu bóc tách phần nợ thực chất đã “chết” đang còn “ẩn nấp” trong nhóm “nợ cần chú ý” để hạch toán sang đúng nhóm nợ. 

Bình luận về việc nợ dưới chuẩn giảm mạnh (hơn 2%) theo công bố mới đây của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Tiến sĩ Tô Ánh Dương cho rằng không loại trừ khả năng nhiều khoản đã được làm đẹp bằng những hợp đồng vay mới để trả nợ cũ quá hạn. 

“Tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh chỉ là giảm số liệu, không phải là bản chất, giảm thật sự. Nói cách khác, trích lập dự phòng rủi ro là một trong những biện pháp làm giảm nợ xấu phần nào trên bảng cân đối kế toán”, ông Dương thẳng thắn cho biết. Trên thực tế, khi xử lý rủi ro bằng dự phòng không có nghĩa là khoản nợ đã được xóa cho khách hàng. 

Các chuyên gia cũng đưa ra những số liệu theo chính ông gọi là “đáng sợ” về cơ cấu của nợ xấu. Theo ông Quang Anh, xét con số tuyệt đối, nợ xấu nằm chủ yếu ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, trước hết là Agribank rồi đến BIDV – chiếm tới gần 1/3 tổng nợ xấu toàn hệ thống. Tại khối cổ phần, nhóm ngân hàng yếu kém nằm trong diện phải tái cơ cấu năm 2012 – chiếm tới gần 1/5 tổng nợ xấu toàn hệ thống (chưa tính Habubank do đã được sáp nhập vào SHB). 

Một đặc điểm nữa về cơ cấu nợ xấu theo Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng Giám đốc Học Viện Ngân Hàng là thống kê của Bộ Tài chính cho hay, các địa phương có công trình xây dựng cơ bản hiện nợ các doanh nghiệp liên quan đến dự án khoảng 90.000 tỷ đồng. “Đây là khoản nợ xấu phải thuộc trách nhiệm các địa phương xử lý, chứ không thể là các ngân hàng”, ông Hưng cho biết. 

Nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản và chứng khoán (trước đây được tính vào lĩnh vực phi sản xuất, bị hạn chế tăng trưởng tín dụng) chỉ chiếm 8% tổng nợ xấu. Theo nhiều diễn giả, đây là một con số rất đáng ngờ. “Sự thực, rất nhiều khoản cấp tín dụng dưới các danh nghĩa khác nhau, được ‘luồn’ vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán hay có liên quan đến lĩnh vực phi sản xuất này. Nợ xấu từ số dư nợ cho vay trên, hiển nhiên sẽ được che giấu kỹ nhất”, ông Quang Anh cho biết. 

Theo Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Giàu, số liệu mà ông Quang Anh đưa ra chưa rõ căn cứ vào cơ sở pháp lý nào. Cách đây 3 hôm, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu theo hạch toán mà các tổ chức tín dụng báo cho Ngân hàng Nhà nước đến nay là 4,46%. Diễn biến cao nhất của nợ xấu được hạch toán là vào quý III/2012, ở mức 4,93%. 

Ông Giàu cho rằng, việc đánh giá và phân loại tín nhiệm cũng như công bố thông tin nằm trong thông lệ quốc tế và các quy định chặt chẽ của pháp luật Việt Nam, chứ không phải nhìn ở góc độ này hay khía cạnh khác đánh giá. 

Thanh Thanh Lan – Bạch Hường 
 
 
 

zondag 17 maart 2013

Tiền có cứu được đảng hay không?

Tiền có cứu được đảng hay không?
Friday, March 15, 2013 6:26:13 PM




Ngô Nhân Dụng

Hôm Thứ Năm, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố kế hoạch sẽ bơm 30 ngàn tỷ đồng (1.4 tỷ đôla Mỹ) vào nền kinh tế để cứu khu vực bất động sản và giải quyết khối nợ xấu đè nặng trên hệ thống ngân hàng.
Theo thông tư chính thức thì kế hoạch này, sẽ áp dụng trong ba năm kể từ ngày 15 Tháng Tư, nhằm giúp các người dân muốn mua nhà nhỏ. Nhưng mục đích chính ai cũng thấy là họ muốn cứu các ngân hàng của nhà nước đang ôm cả đống “nợ xấu;” đồng thời cứu cả những người đang ôm những cao ốc đang xây nửa chừng phải ngưng, hoặc ngôi nhà hay căn hộ không thể đem bán hay cho thuê được. Tóm lại, là đem tiền chung của toàn dân ra giúp một số những tay đầu cơ bất động sản; cùng các ngân hàng tham dự vào cơn sốt đầu cơ địa ốc trong mấy năm qua.
Năm năm trước, nhiều người nghĩ Việt Nam là một nền kinh tế đang lên, một con cọp Á Châu mới, với triển vọng chạy theo các con cọp Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore thời 1980. Nhưng trong ba năm qua, kinh tế Việt Nam chìm ngập trong lạm phát, thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng giảm sút, hệ thống ngân hàng sa lầy vì quả bong bóng địa ốc được thổi phồng lên đang chờ sắp bể. Hành động bơm gần tỷ rưỡi đô la vào hệ thống ngân hàng trước hết là để cứu thị trường địa ốc. Giống như kinh tế Mỹ hiện nay đang bị trì trệ vì giá địa ốc sụt giảm chưa lên, kinh tế Việt Nam cũng khó hy vọng cải thiện nếu thị trường địa ốc sống ngắc ngoải.
Hơn một tỷ đô la được bơm vào sẽ cứu rất nhiều người. Những người đó là ai? Các nhà đầu cơ địa ốc ở Việt Nam phần lớn chính là các viên chức đảng cộng sản đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước, những cán bộ trong ngành tài chánh, ngân hàng, và những người liên hệ mật thiết với họ. Họ không cần dùng tiến vốn riêng mà có thể dùng ngay tiền của các doanh nghiệp nhà nước để đầu cơ bất động sản. Trên hết, họ có thể vay tiền dễ dàng của các ngân hàng do đảng cộng sản kiểm soát để mua nhà, đất rồi bán lại kiếm lời. Ðây là một thị trường địa ốc không theo luật cung cầu tự nhiên.
Trong các nền kinh tế bình thường, số nhà cửa được xây cất là do nhu cầu của người tiêu thụ. Thị trường địa ốc lên hay xuống trước hết là do số cầu thúc đẩy. Thị trường có thể mất quân bình khi số cầu lên quá cao vì chính sách tiền tệ dễ dãi. Khi đó, nhiều người không đủ khả năng trả nợ cũng vay để mua nhà và được ngân hàng chấp nhận cho vay, như đã thấy ở Mỹ trong những năm trước 2007; vì thế gây ra khủng hoảng. Nhưng ở Việt Nam, thị trường địa ốc lại được thúc đẩy vì số cung; và cơn khủng hoảng cũng từ đó sinh ra.
Những người có quyền kiểm soát các món tiền lớn, đứng đầu các ngân hàng và xí nghiệp quốc doanh, họ nắm tiền trong tay nhưng không nghĩ tới, hoặc không biết cách sử dụng tiền vào các việc đầu tư ích lợi cho xí nghiệp và tạo công việc làm. Họ lại thấy phương pháp dùng tiền sinh lợi dễ dàng nhất là địa ốc. Số tiền họ đem vào thị trường này đẩy giá nhà, đất lên cao, tạo ra một thứ nhu cầu không có thật. Nhiều người khác, các tư nhân, thấy giá lên thì cũng đua nhau mua để hy vọng sẽ bán kiếm lời. Các công ty xây dựng thúc đẩy cho thị trường lên cao hơn với những dự án xây cất các khu cư trú đắt tiền. Họ được các quan chức trong đảng cộng sản hỗ trợ vì thấy có lợi. Trước hết là các quan chức địa phương tìm cách chiếm đất của nông dân để bán cho các công ty xây dựng với giá cao hơn. Thuế mua bán địa ốc lại là một nguồn thu lợi lớn trong ngân sách các thành phố và thị xã, cho nên người ta càng khuyến khích xây cất thêm.
Một lý do khác khiến việc xây cất được đẩy mạnh dù không có nhu cầu tiêu thụ, là các quan chức trung ương nắm quyền ký giấy phép xây cất. Một chữ ký cho phép xây một khu gia cư có thể đem lại những món tiền hối lộ hàng chục triệu Mỹ kim, hoặc nhiều hơn. Ngay khi nhận được giấy phép, nhà thầu đã sẵn sàng dâng cho các quan chức món quà họ sẽ tặng, là dành riêng cho các quan một khu đất nào đẹp nhất, một ngôi nhà to nhất, tùy ý lựa chọn, và cho đứng tên ai thụ hưởng cũng được! Ðây là một cách hối lộ ít dấu vết và rất dễ chối tội nếu có người khui ra.
Loại quan chức, cán bộ thứ ba là những người ngồi ở các ngân hàng, có quyền khai thác việc xây cất để kiếm lợi riêng. Mỗi chữ ký cho vay tiền của họ cũng có giá trị ngang chữ ký cho phép của các quan trong Bộ Xây Dựng! Hơn nữa, chính các quan chức có quyền sử dụng tiền của công dùng tiền đầu cơ địa ốc đã đẩy giá lên cao hơn. Năm 2011, lợi tức đầu người của Việt Nam đứng hàng thứ 120 trên thế giới; nhưng chỉ số giá nhà đất cao đứng hàng thứ 20! Với nhu cầu kiếm chác của các quan chức ba loại trên, thị trường địa ốc ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong mấy năm; mặc dù không liên quan đến nhu cầu nhà đất của người tiêu thụ. Khi kinh tế xuống thấp, cả thị trường địa ốc bị tê liệt, như đã thấy trong hai năm qua.
Nền kinh tế trì trệ từ năm 2011 là một đòn giáng nặng vào nhóm người đầu cơ địa ốc. Năm 2008 tiền thuê văn phòng ở Sài Gòn có lúc giá lên tới 80 đô la một mét vuông, đầu năm 2012 xuống chỉ còn 30 đô la, nếu có người thuê. Tại các thành phố lớn, từ Sài Gòn ra Hà Nội, hàng trăm công trường đang xây cất dở dang bị bỏ phế. Một dự án cao ốc xây được một tầng thì bỏ ngang, biến cả tầng dưới cùng thành nơi cho thuê để xe gắn máy, cho các anh “bảo vệ” kiếm chút cháo! Tại Hà Nội, công ty địa ốc quốc doanh của thành phố trước đây có 600 nhân viên, đến năm 2012 chỉ còn 60 người làm việc.
Khi nhà cửa xây lên bán không được, các nhà thầu không có tiền trả nợ các ngân hàng, các ngân hàng chứa đầy những món nợ xấu. Ngay lúc đó, chính các ngân hàng lại bị khó khăn vì chính quyền lo chống lạm phát, ra lệnh phải giảm số tiền cho vay. Trong ba năm từ năm 2010, số xí nghiệp bị phá sản đã tăng vọt vì không thể đi vay nợ mới để trang trải nợ cũ. Ngân Hàng Trung Ương năm ngoái thú nhận có 10% số nợ trong cả hệ thống ngân hàng không thể đòi lại được; tỷ lệ nợ xấu cao nhất cả vùng Ðông Châu Á. Nhưng ngân hàng Standard Chartered ở Hồng Kông ước tính tỷ lệ nợ xấu từ 15% đến 20%.
Ðầu Tháng Ba vừa qua, Hiệp Hội Bất Ðộng Sản thành phố tại Sài Gòn đã xin chính phủ đánh thuế vào các tài khoản tiết kiệm trên 500 triệu đồng gửi trong các ngân hàng; để lấy số tiền đó “hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác.” Nói giản dị, họ xin đảng cộng sản thu tiền của dân trong nhóm này, rồi bỏ vào túi một nhóm khác! Mà nhóm khác họ muốn giúp đó, không cần nói, ai cũng biết là các công ty bất động sản, đại đa số là các cán bộ, quan chức đã đi đầu cơ! Trước những lời phản đối của các công dân mạng, chính quyền cộng sản không dám đặt ra thứ thuế này. Thay vào đó, kế hoạch bơm 30 ngàn tỷ đồng vào hệ thống ngân hàng nhằm mục tiêu giúp các ngân hàng của nhà nước đang chồng chất nợ xấu; cũng là một hành động đáp ứng đòi hỏi của các nhà đầu cơ địa ốc. Nhưng họ cứu chữa cơn khủng hoảng này được không, và được bao lâu?
Nếu tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam là từ 10%, con số của Ngân Hàng Nhà Nước, đến 20% là con số các ngân hàng ngoại quốc ước tính; thì riêng trong lãnh vực địa ốc, số nợ xấu phải cao hơn, có thể từ 20 đến 30%. Lấy số trung bình, coi như 25%, một phần tư, các món nợ xây cất và buôn bất động sản không thể đòi được. Tháng Tám năm 2012, Bộ Xây Dựng ở Việt Nam cho biết tổng số nợ liên quan đến ngành bất động sản là khoảng 1 triệu tỷ đồng, tức 47.8 tỷ đôla Mỹ. Bây giờ có thể tính tròn con số đó lên 60 tỷ. Tính 25% tỷ số nợ xấu, thì trong lãnh vực địa ốc số nợ khó đòi lại cũng lên tới 15 tỷ đô la.
Số tiền 1.4 tỷ đô la sắp bơm vào hệ thống ngân hàng và thị trường bất động sản chưa bằng một phần 10 tổng số nợ xấu trong ngành địa ốc. Ðây cũng là một hành động lấy tiền chung của toàn dân đem đi cứu các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các quan chức đảng. Nhưng cứu được bao lâu? Việc bơm tiền vào thị trường bất động sản có thể gây ra một phản ứng ngược, là các chuyên gia đầu cơ thấy có thể vay tiền dễ dàng (chắc chắn họ vay dễ hơn và sẽ được vay trước những người dân bình thường); họ lại đi vay thêm để tiếp tục đầu cơ nữa, vì họ thấy triển vọng nhiều người khác sẽ có tiền mua nhà. Và như vậy thì thị trường địa ốc sẽ thêm một cơn sốt khác trước khi bể vỡ.
Trong khi toàn dân phải đối phó với cảnh kinh tế trì trệ, đem tiền đi giúp các nhà đầu cơ bất động sản chỉ khiến nỗi uất ức của dân chúng càng lên cao. Người dân đang thấy rõ là kinh tế chỉ có thể phục hoạt được nếu cả hệ thống kinh tế được thay đổi, với những người có khả năng biết lo cho dân chứ không phải chỉ biết lo cho bè đảng, tay chân của mình.


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=163140&zoneid=7