Posts tonen met het label mô hình. Alle posts tonen
Posts tonen met het label mô hình. Alle posts tonen

maandag 28 oktober 2013

Việt Nam và Trung Quốc : Một mô hình, hai tầm nhìn (Tiến sỹ Vũ Minh Khương)

VN và TQ: Một mô hình, hai tầm nhìn


Cập nhật: 03:30 GMT - thứ tư, 23 tháng 10, 2013

'Việt Nam thua Trung Quốc một tầm nhìn'
Tiến sỹ Vũ Minh Khương giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như Trung Quốc dù hai mô hình kinh tế khá giống nhau.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Một chuyên gia người Việt trò chuyện với BBC về quá trình phát triển của Việt Nam trong ba thập niên qua.
Ông Vũ Minh Khương, tiến sỹ đại học Harvard và hiện là giảng viên Đại học Quốc gia Singapore, cũng giải thích lý do tại sao Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như Trung Quốc dù hai mô hình kinh tế khá giống nhau, đồng thời giải thích mối liên hệ giữa xã hội dân chủ và nền kinh tế và chỉ ra đâu là hướng đi cho Việt Nam trong tương lai giữa bối cảnh đầy khó khăn hiện nay.

Chậm tiến vì chiến thắng

BBC: Vài thập kỷ sau 'Khai phóng', Trung Quốc đã vươn mình trở thành nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và đang leo lên vị trí ngày càng cao trên chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam cũng là quốc gia đã trải qua một quá trình tương tự dưới tên gọi 'Đổi Mới'. Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của Việt Nam so với Trung Quốc trong ba thập kỷ qua?
Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cuộc cải cách khi mà tình thế phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa không thành công. Cho nên tính tiếp nhận một cuộc cải cách mới là rất cao trong dân chúng.
Thế nhưng đặc điểm cải cách của hai nước có những khác biệt nhất định.
Ở Trung Quốc họ có một tầm nhìn xa, muốn có một chương trình hiện đại hóa toàn diện để Trung Quốc trở thành một cường quốc hiện đại vào trước năm 2050.
Việt Nam thì cải cách trên tình thế bí bách, bị Liên Xô cắt viện trợ và buộc phải tìm con đường đổi mới, cho nên cải cách mang tính chất thoát khỏi tình cảnh khó khăn hiện tại.
Hơn nữa, Trung Quốc thì trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa và xây dựng xã hội chủ nghĩa trước đó thì chưa để lại một thành quả gì mang tính thuyết phục trong việc nâng cao tính chính danh của đảng mình, cho nên họ buộc phải tạo nên một thành quả kinh tế kỳ vĩ.
Việt Nam thì có những chiến thắng huy hoàng trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nên có thể ỷ lại thắng lợi của những cuộc chiến tranh này để duy trì sự chính danh của mình, cho nên nhiều khi trong cải cách không triệt để, mà chỉ cốt đủ ăn đủ sống. Điều này tạo ra những khiếm khuyết rất căn bản cho cải cách sâu rộng ở Việt Nam.
Vì các đặc điểm đó, cho nên lãnh đạo Việt Nam chưa đủ tầm để xác định một chiến lược kỳ vĩ, chẳng hạn như đưa Việt Nam trở thành một đất nước hùng cường vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của mình vào năm 2045 mà thường nặng về những xoay sở để đủ tồn tại, bởi lẽ cái chính danh của quá khứ cũng tạm đủ cho họ tồn tại trong một số thập kỷ tới.

Lợi thế của lạc hậu

"Năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, đến việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân."
BBC: Người Nhật phải mất hơn 40 năm mới có được vị trí hiện tại trên chuỗi giá trị toàn cầu. Nam Hàn mất 30 năm, trong khi Trung Quốc chỉ tốn hơn 20 năm. Theo ông yếu tố nào dẫn đến điều này, và nó có ý nghĩa thế nào với Việt Nam?
Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Đặc điểm của các nước đi sau đó là phát triển kinh tế rất thuận lợi. Đây gọi là lợi thế của sự lạc hậu.
Khi mình khai thác lợi thế lạc hậu này bằng cách hội nhập nhanh chóng với thế giới, tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật của thế giới để chuyển hóa vào nước mình, cộng với đầu tư nước ngoài thì có thể rút ngắn được khoảng cách phát triển rất nhanh.
Tuy nhiên vẫn rất phải coi trọng tiếp nhận kỹ thuật và tri thức công nghệ, chứ không chỉ đơn thuần là tiếp nhận vốn đầu tư.
Trung Quốc họ hơn mình ở cái đó. Họ rất chú trọng vấn đề nhập khẩu kỹ thuật .Nếu tính về tỷ lệ nhập khẩu kỹ thuật trên GDP thì Trung Quốc đã vượt Mỹ trong thập kỷ vừa rồi.
Còn Việt Nam hầu như không có số liệu, không coi trọng vấn đề này và chỉ loay hoay thu hút đầu tư nước ngoài ở bất kể dạng gì, thiếu một tầm chiến lược xa.
Cho nên ở Việt Nam, có những thành quả trong phát triển kinh tế rất đáng trân trọng, nhưng để có một tầm trỗi dậy của một dân tộc thì chưa có.
Tiến sỹ Vũ Minh Khương nói tang lễ tướng Giáp đã cho thấy sức mạnh chiến lược của Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc

Dân chủ và kinh tế

BBC: Trở lại với câu chuyện thành công của Trung Quốc, khi Triệu Tử Dương tiến hành cải cách kinh tế, ông tin rằng cải cách kinh tế phải đi đôi với cải cách về chính trị. Ông có đồng tình với góc nhìn của Triệu Tử Dương hay không? Và theo ông, một nền dân chủ tác động tới nền kinh tế như thế nào?
Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi nghĩ Triệu Tử Dương có những ý rất đúng. Nhưng tôi vẫn khâm phục Đặng Tiểu Bình bởi tầm nhìn của ông. Bởi vì ưu tiên chiến lược là phải biến Trung Quốc thành một cường quốc, các ý tưởng cụ thể thì có thể tham khảo ở nhiều nguồn khác nhau.
Tuy nhiên cải cách kinh tế phải luôn đi đôi với cải cách xã hội và cải cách chính trị thì mới đảm bảo cho kinh tế phát triển lâu dài, còn những bước đi cụ thể của từng nước thì cái đó là do từng nước quyết định.
Nhưng tôi nghĩ dân chủ là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển. Nước Nhật từ thời cải cách Minh Trị đã nhận ra vấn đề đó. Người dân phải có tiếng nói quyết định trong tất cả những vấn đề trọng đại của đất nước. Có như vậy họ mới gắn bó với công cuộc phát triển, có như vậy đất nước mới thu hút được nhân tài, có như vậy đất nước mới trỗi dậy được.
Thiếu dân chủ giống như một đền thờ thiếu ánh sáng, sẽ có nhiều chuột bọ lúc nhúc trong đó, không thể nào có một sức hút lớn cho một dân tộc, mà nhất là dân tộc có truyền thống văn hiến lâu dài như Việt Nam ta.
"Khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ."
BBC: Nhân nói về dân chủ, ông đã sống và làm việc ở đây nhiều năm. Singapore là một nền kinh tế thành công, quốc gia với GDP bình quân trên đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng mặt khác, Singapore cũng bị chỉ trích là không có tự do báo chí, không có tự do biểu tình. Một số ý kiến gọi Singapore là "nền dân chủ kiểu phương Đông". Ông có bình luận gì về khái niệm "nền dân chủ kiểu phương Đông" này, và ông có cho rằng đây là mô hình mà Việt Nam muốn áp dụng trong tương lai không?
Tiến sỹ Vũ Minh Khương: Tôi đã sống ở Singapore hơn sáu năm. Từng ngày tôi đều cố gắng ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và học hỏi.
Singapore không phải là hoàn hảo, nhưng có rất nhiều điều cho Việt Nam học tập.
Cái dân chủ tự do ở trong xã hội châu Á này thì phải hiểu rằng là tạo cho con người cái tự do phát huy cao nất năng lực của mình. Cái dân chủ nghĩa là nếu người ta mong muốn làm việc gì đó cho đất nước của mình thì họ hoàn toàn có quyền lập hội, lập tổ chức, thậm chí trở thành đảng đối lập hoặc tham gia vào chính đảng cầm quyền.
Cái hay trong xã hội dân chủ ở đây, là đảng cầm quyền - Đảng Hành động Nhân dân (PAP), rất lo bị mất ghế trong Quốc hội, cho nên luôn luôn tìm kiếm tài năng để thu nhập vào đảng của mình. Nếu để đảng đối lập giành được người đó thì họ phải có người giỏi hơn để có thể thắng cử được. Cho nên trọng dụng nhân tài, chiến lược phát triển và tranh thủ lòng dân là ý thức rất cao trong từng quan chức chính phủ ở Singapore, cho từng cán bộ đảng PAP ở đây.
Yếu tố dân chủ mà theo định nghĩa đó, thì tôi thấy rất mạnh mẽ ở Singapore này. Và cái đó, tôi mong từng ngày sẽ được người Việt Nam ta nghiên cứu, áp dụng. Đó sẽ là khởi đầu cho dân tộc Việt Nam trỗi dậy trong tình thế khó khăn và thách thức hiện nay.

Con đường tương lai

Tiến sỹ Vũ Minh Khương cho rằng Việt Nam vẫn còn thua Trung Quốc rất xa về tầm nhìn
BBC: Hai khó khăn chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là khu vực ngân hàng và khối doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, chính phủ đang phải cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa khu vực ngân hàng, thậm chí có thể phải giảm bớt sở hữu tại các ngân hàng thương mại để thu hút vốn ngoại. Đây có phải là xu hướng cho thấy trong tương lai, chính phủ sẽ phải giảm đáng kể sự kiểm soát đối với nền kinh tế? Điều này có ý nghĩa gì cho tương lai Việt Nam?
Tôi nhìn lại các điểm hạn chế trong phát triển của Việt Nam thì tôi thấy có ba điểm phải chú ý, hơn là mình nhìn vào một vài vấn đề kỹ thuật mang tính chất ngắn hạn hoặc là rất cụ thể như doanh nghiệp nhà nước hoặc là hệ thống ngân hàng.
Tôi nhìn thấy những vấn đề rất lớn, rất nổi trội mà Việt Nam thua kém rất xa so với Trung Quốc và với nhiều nước khác.
Thứ nhất là không có một chiến lược phát triển dài hạn để nhìn thấy đâu là sức mạnh của dân tộc mình, đâu là cơ hội và thách thức trên thế giới, đâu là mục tiêu mà chúng ta sẽ đi tới trong vòng vài thập kỷ nữa. Tất cả đều không rõ.
Thứ hai là năng lực học hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam rất hạn chế; từ việc thu hút nhân tài, đối sánh mình với thế giới ra sao, trong việc thử nghiệm những chính sách dũng cảm, trong việc liên tục đổi mới và cải tiến, lắng nghe nhân dân.
Những đặc điểm đó làm đất nước mình ngày càng tụt lùi.
Khi năng lực học hỏi được nâng lên, khi chiến lược phát triển kinh tế được hoạch định sắc bén và triệt để thì đất nước sẽ trỗi dậy. Khi đó những bài toán cụ thể như cải cách ngân hàng ra sao, cải cách doanh nghiệp nhà nước thế nào, hoặc thậm chí những vấn đề rất đơn giản như chống lại chuyển giá của các doanh nghiệp nước ngoài, thì mình đều có những tổ công tác đánh giá trên cái nhìn toàn cầu là tại sao lại như vậy? Ta có thể biến khó khăn thành cơ hội như thế nào ở đất nước mình?
Những điều này tôi nghĩ chúng ta phải nghiên cứu thấu đáo, trên tầm nhìn chiến lược, với năng lực học hỏi rất cao, mà cái cốt lõi là phải thu hút được nhân tài ở khắp nơi.
Tôi rất cảm kích trong đợt lễ tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi thấy đây là một cuộc biểu dương lực lượng của vũ khí chiến lược Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc người Việt Nam rất lớn. Đây chỉ là sự thể hiện một phần, một cuộc diễu binh lớn, một sự thể hiện để chứng mình rằng nếu chúng ta không xứng đáng với khát vọng lớn của dân tộc, chúng ta sẽ thất bại.
Đó là cái giá rất đắt, khi nhiều thế hệ phải hy sinh mà không được đền đáp. Đó là điều chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ.


Thêm về tin này

donderdag 3 oktober 2013

Mặt trái của mô hình kinh tế Đức

Thứ ba 01 Tháng Mười 2013
Mặt trái của mô hình kinh tế Đức
Một người vô gia cư tại Đức bới thùng rác trên quảng trường Alexanderplatz tại Berlin.
Một người vô gia cư tại Đức bới thùng rác trên quảng trường Alexanderplatz tại Berlin.
REUTERS/Thomas Peter/files
Thanh Hà
Trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, kinh tế Đức được coi là một tấm gương sáng để noi theo. « Phép lạ » kinh tế của Đức làm mê hoặc các đối tác châu Âu của Berlin. Vào lúc cả châu Âu đang lao đao vì tác động của khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Hy Lạp, nước Đức của thủ tướng Merkel vẫn tăng trưởng ở số dương –dù không cao lắm, và là một trong những quốc gia châu Âu có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Uy tín của Berlin lớn đến nỗi các nhà tài trợ quốc tế đều sẵn sàng cho Đức vay tín dụng với lãi suất thấp.
Từ năm 2011 tới nay, trong hầu hết các cuộc tuyển cử tại châu Âu, từ Pháp đến Ý, từ Tây Ban Nha đến Bồ Đào Nha, các chính quyền mãn nhiệm đều bị cử tri trừng phạt vì không đủ sức vực dậy kinh tế trong cơn khủng hoảng. Riêng tại Đức, thì sau hai nhiệm kỳ thủ tướng, bà Angela Merkel lại được người dân tin tưởng để tiếp tục điều hành đất nước thêm một nhiệm kỳ ba. Những thành tựu kinh tế gần đây của Đức củng cố vị thế của bà thủ tướng Đức đầu tiên, cả trên sân khấu quốc tế lẫn trên bàn cờ chính trị của nước Đức.
Không ai có thể phủ nhận những thành tựu kinh tế của chính quyền Merkel khi mà vào năm 2012, thâm hụt ngân sách của Pháp tương đương với 4,8 % GDP thì tại Đức chính phủ lại thu nhiều hơn chi : thặng dư ngân sách của chính quyền liên bang tương đương với 0,2 % tổng sản phẩm nội địa của quốc gia này.
Nhìn đến một chỉ số khác là tỷ lệ nợ công so với GDP : nợ công của Pháp đã lên đến 90,8 %, của Đức là 83 %, tức là thấp hơn nhiều so với trung bình trong khối euro (90,2%).
Trong lúc Pháp bối rối vì các dự báo cho thấy tỷ lệ tăng trưởng gần như ở số không, thì kinh tế Đức sẽ tăng khoảng từ 0,5 đến 0,7 % trong năm 2013. Trên thị trượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp trung bình trong khu vực đồng tiền chung châu Âu là 11,7 %. Tại Đức, chỉ có 6,8 % người trong tuổi lao động không có việc làm. Chỉ nội một điểm này cũng đủ biến nước Đức của thủ tướng Merkel thành « thiên đường » trong mắt người lao động, đặc biệt là tại những quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 27 % như Hy Lạp hay Tây Ban Nha.
Phép màu kinh tế của Đức do đâu mà có ? Đâu là những bí quyết thành công của Berlin và đâu là những giới hạn của mô hình kinh tế Đức ?
Lợi thế của nước Đức
Trong quá trình thống nhất đất nước, các chính phủ Đức liên tiếp đã phải mạnh dạn tiến hành cải tổ trong suốt gần 20 năm, đặc biệt là kể từ năm 2000 thủ tướng Gerhard Schroeder đã cải tổ sâu rộng thị trường lao động của Đức, xét lại toàn bộ chính sách lương bổng và hệ thống bảo hiểm xã hội.
Trả lời đài RFI Pháp ngữ, nhà báo Marc Vignaud đặc trách về các hồ sơ kinh tế của tạp chí Le Point nêu lên một vài điểm son trong mô hình kinh tế của Đức, và không quên nhắc đến công lao cựu thủ tướng Schroeder :
" Mô hình phát triển kinh tế của Đức có nhiều nét tiêu biểu. Trước hết vào khoảng năm 2000, kinh tế Đức đã tìm cho mình một vị trí riêng biệt trên bàn cơ thương mại quốc tế. Nhờ vậy mà ngành xuất khẩu của Đức đi lên. Bên cạnh đó còn phải kể đến công lao thủ tướng Schroeder. Ông là người đã cởi trói cho thị trường lao động của Đức. Chính sách tự do hóa thị trường lao động đó đã cho phép những người không cần có tay nghề cao vẫn có thể dễ dàng tìm việc làm, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, cho dù họ không được trả lương cao.
Vào năm 2005, Đức có 4,9 triệu người thất nghiệp. Đến cuối năm 2012, số đó giảm xuống còn 2,3 triệu. Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức hiện vào khoảng 6 % trong khi chỉ số đó tại Pháp vẫn là gần 11 %."
Bên cạnh chủ trương mạnh dạn cải tổ của Berlin, phải nêu lên ba yếu tố khác để giải thích về phép màu kinh tế của Đức trong hơn một chục năm qua.
Thứ nhất, trong 15 năm trở lại đây, dân số Đức không hề tăng mà còn có khuynh hướng giảm sút- giảm đi 400 ngàn trong thời gian từ 2000 đến 2010. Đức lại không hề bị tác động của hiện tượng bong bóng địa ốc. Hai yếu tố đó cộng lại, khiến các nguồn tiết kiệm của Đức chủ yếu được dùng để đầu tư vào sản xuất, vào các doanh nghiệp thay vì đầu tư vào giáo dục hay nhà ở.
Nét tiêu biểu thứ nhì là về cơ cấu thì từ đầu những năm 2000, nền công nghiệp của Đức đã chọn cho mình một hướng đi riêng, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu của các nền kinh tế đang trỗi dậy (xe hơi, xe tải, máy cày, máy móc sản xuất …). Vì vậy Đức vẫn là nhà xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới.
Lợi thế thứ ba là ngành ngân hàng Đức tương đối được coi là « mở rộng », các chi phí ngân hàng cũng như lãi suất tín dụng trung bình thấp hơn so với ở những nơi khác trong khối euro. Đó là động cơ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư.
Bên cạnh ba lợi thế cơ bản đó, kinh tế Đức trong thập niên vừa qua đã gặp nhiều may mắn. Vào năm 2004 khi mà Liên Hiệp Châu Âu mở rộng cửa đến các nước Đông Âu cũ thì Đức đã lợi dụng thời cơ mua lại nhiều cơ sở công nghiệp của các nước cộng sản cũ với giá rẻ, qua đó củng cố thêm mạng lưới công nghiệp quốc gia. Thế rồi cơ may thứ nhì lại mở ra khi vào năm 2009 khi mà thế giới đang chao đảo dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và của khu vực đồng euro, thì Đức được coi là một thành trì kiên cố, là một trong những địa điểm đầu tư an toàn nhất hành tinh. Tư bản của thế giới đang được ký gửi ở các ngân hàng nam Âu, đổ về nước Đức. Lãi suất ngân hàng của Đức nhờ vậy được đẩy xuống mức thấp chưa từng thấy. Điều này khiến các doanh nghiệp của Đức dễ dàng đi vay để đầu tư và nâng cao năng suất.
Hàng « made in Germany » vốn đã tốt lại càng có khả năng cạnh tranh cao. Đó cũng là lý do vì sao cho dù đồng euro có tăng giá so với đô la, ngành xuất khẩu của Đức vẫn không bị khuynh đảo.
Thách thức của thành công
Nhưng mô hình kinh tế Đức bắt đầu bị đặt trước nhiều thử thách. Đành rằng chủ trương cởi trói thị trường lao động, do cựu thủ tướng Schroeder khởi xướng hơn một chục năm trước đây đã giúp cho các doanh nghiệp không bị bó buộc về khối lượng giờ làm việc hay về mức lương cố định. Giới chủ không bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội cho nhân viên, đồng thời họ được quyền dễ dàng tuyển dụng hoặc sa thải nhân viên tùy theo tình hình thời cuộc.
Đây là một lợi thế không nhỏ khi biết rằng 80 % các doanh nghiệp Đức là những cơ sở tư nhân cỡ vừa và nhỏ. Chính nhờ vậy mà tỷ lệ thất nghiệp của Đức luôn được coi là thấp vào bậc nhất tại châu Âu. Nhưng cái giả phải trả của phép màu kinh tế đó là tại nền kinh tế số 1 châu Âu này, lại có tới 20 % dân số Đức trong cảnh bị coi là « bấp bênh ». Hơn 6 triệu người lao động đi làm với đồng lương chỉ bằng 75 % so với mức lương tối thiểu của Pháp.
Tại Đức hiện không có mức lương tối thiểu. Từ năm 2000 đến 2010, lương trung bình tại Đức chỉ tăng 1 %. Nhưng khi nhìn đến thu nhập thực sự của người lao động Đức, tức là sau khi họ phải đóng thuế thì lương của những tầng lớp có thu nhập thấp nhất, chẳng những đã không tăng mà lại còn bị giảm đi từ 16 đến 22 % trong cùng thời kỳ. Cuộc chạy đua để nâng cao năng suất và lợi nhuận của các doanh nghiệp đã khiến xã hội Đức trở nên bất công hơn.
Về điểm này, tổng biên tập tạp chí kinh tế Alternatives économiques , Guillaume Duval một chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đức, phân tích thêm về mặt trái của chính sách cởi trói thị trường lao động của cựu thủ tướng Schroeder, đồng thời ông điều chỉnh lại một vài thông tin sai lạc về cái được gọi là thành tựu của Đức trong công cuộc đẩy lui thất nghiệp :
« Trên thực tế, khi ông Schroeder lên cầm quyền, Đức có tỷ lệ nghèo khó và bất công xã hội thấp hơn so với Pháp. Ngày nay hai chỉ số đó ở Đức tương đương với tình hình ở Pháp. Cựu thủ tướng Schroeder được giới chủ hoan nghênh, nhưng chính sách của ông cũng đẩy không ít người lao động vào hoàn cảnh bấp bênh. Một phần lớn giới làm công ăn lương không được hưởng các điều khoản an sinh xã hội. Hiện có khoảng 6 triệu người lao động ở Đức đi làm với đồng lương chưa đầy 6 euro/giờ.
Dư luận Đức chán ngán với chính sách lương bổng tồi tệ đó và họ bắt đầu đòi chính phủ phải quy định để bảo đảm cho người dân một mức thu nhập tương đối đủ sống và có thể chấp nhận được. Ngoài ra dưới nhiệm kỳ của ông Schroeder, nợ công của Đức cũng đã tăng vọt. Tuy nhiên sở dĩ kinh tế Đức đứng vững trong gần 10 năm qua, và đặc biệt là kể từ sau khủng hoảng tài chính thế giới và của khu vực đồng tiền chung châu Âu, điều đó có được là nhờ : dân số của Đức không ngừng sụt giảm. Khối lượng người gia nhập thị trường lao động giảm đi, đương nhiên là tỷ lệ thất nghiệp phải được giảm xuống. Đó không có gì là phép lạ cả.
Ngoài ra, chính sách khuyến khích phụ nữ sinh con là một điều tốt cho tương lai, nhưng trong ngắn hạn chính sách đó đòi hỏi nhà nước phải đầu tư vào trường học, nhà trẻ, phải tạo điều kiện cho phụ nữ có con mà vẫn có thể đi làm … tất cả những biện pháp đó đè nặng lên ngân sách của nhà nước.
Trong khi Pháp phải chi ra những khoản tốn kém đó, thì Đức không phải làm như vậy. Đó cũng chính là lý do vì sao Đức trả lương giáo sư hơn nhiều so với Pháp nhưng ngân sách của Đức dành cho ngành giáo dục lại thấp hơn đến 1,5 % GDP so với của Pháp.
Ngoài ra, do dân số giảm, nhu cầu địa ốc không tăng, từ 15 năm qua, giá nhà đất ở Đức vẫn giậm chân tại chỗ. Đây là một lợi thế không nhỏ. Khi biết rằng, năm 2009, trung bình giá nhà mới xây ở Đức chỉ bằng 1/3 so với ở Pháp. Điều đó có nghĩa là, nhờ không phải chi ra quá nhiều để có được một mái nhà, người Đức dễ dàng chấp nhận đi làm với đồng lương thấp hơn. Đây là một lợi thế rất lớn đối với ngánh ản xuất, xuất khẩu của Đức ».
Câu hỏi đặt ra đối với chính quyền Đức là phải lựa chọn giữa hai giải pháp, hoặc là để nạn thất nghiệp tăng hoặc là phải chấp nhận hy sinh, đi làm dù với đồng lương ít ỏi. Đó là một sự chọn lựa về mô hình kinh tế và xã hội. Không thể trả lời mô hình của Pháp hay của Đức tốt hơn.
Ngoài ra Đức như tổng biên tập nguyệt san kinh tế Alternatives Economiques, Guillaume Duval vừa nói, Đức còn là một quốc gia nơi mà phụ nữ chỉ có một chỗ đứng rất khiêm tốn trên thị trường lao động. Điều đó là một trong những yếu tố giải thích vì sao tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thấp.
Chỉ mới chưng 10 năm gần đây phụ nữ bắt đầu đi làm nhiều hơn. Nhưng vấn đề đặt ra là lương họ thấp, công việc lại bấp bênh, và phần lớn những người chấp nhận đi làm không có tay nghề cao. Đức là nơi khác biệt về lương bổng giữa phái nam và nữ được coi là cao nhất tại châu Âu. Khác biệt về khối lượng giờ là việc cũng vậy. Trung bình một phụ nữ Đức làm việc ít hơn một phụ nữ Pháp đến 3 giờ mỗi ngày. Khác biệt đó rất lớn và nó kèm theo nhiều tác động về phương diện kinh tế, xã hội, gia đình …
Ngoài ra, tại Đức có những người đi làm nhưng lương tháng lại chưa đầy 450 euro. Số này hầu như không đóng góp vào các quỹ an sinh xã hội và họ cũng không được hưởng trợ cấp y tế, xã hội hay hưu trí. Có khoảng 7 triệu rưỡi người lao động ở Đức trong tình cảnh này.
Khắc phục những thiếu sót về phương diện xã hội, sẽ là trọng tâm của các cuộc thương lượng sắp mở ra vào ngày 04/10/2013 giữa đảng bảo thủ Dân chủ Thiên chúa giáo của bà Angela Merkel với đảng Dân chủ Xã hội cấp tiến để thành lập chính phủ liên minh.
Tổng biên tập nguyệt san Alternatives Economiques, Guillaume Duval điểm ra một số những ưu tiên của chính phủ Merkel trong nhiệm kỳ sắp tới:
« Bà Merkel đã cam kết bảo đảm cho người lao động một mức lương tối thiểu. Chính phủ cũng sẽ có một chính sách ưu đãi hơn dành cho các gia đình, chẳng hạn như xây thêm trường học và nhà trẻ, để tạo điều kiện cho các bà mẹ đi làm, khuyến khích phụ nữ có con. Ngoài ra thì Berlin cũng sẽ đầu tư vào hạ tầng cơ sở vì trong nhiều năm qua, Đức đã giảm chi tiêu công cộng đáng kể. Hạ tầng cơ sở bị xuống cấp. Nói tóm lại trong nhiệm kỳ tới, thủ tướng Merkel sẽ nới lỏng các khoản chi tiêu, và qua đó, kích thích tiêu thụ và đầu tư tại Đức. Một cách gián tiếp thì chính sách này của Berlin sẽ ảnh tạo nên một đà mới cho các đối tác châu Âu. Chắc chắn là không có chuyện Đức giúp đỡ các đối tác yếu kém trong khu vực đồng euro ».
Theo thẩm định của Viện nghiên cứu kinh tế Đức, quốc gia này cần đầu tư thêm ít nhất là 7 tỷ euro trong những năm tới để tu chỉnh hệ thống cầu đường. Chính sách tiết kiệm chi tiêu công cộng của Berlin trong những năm qua khiến 20 % hệ thống xa lộ của Đức bị xuống cấp và có tới 40 % các tuyến đường giao thông cần được tu bổ.