Posts tonen met het label lãnh đạo Cộng sản. Alle posts tonen
Posts tonen met het label lãnh đạo Cộng sản. Alle posts tonen

vrijdag 18 oktober 2013

Hungary truy tố một cựu lãnh đạo Cộng sản 92 tuổi phạm tội ác dưới chế độ cũ

Thứ sáu 18 Tháng Mười 2013

Hungary truy tố một cựu lãnh đạo Cộng sản phạm tội ác dưới chế độ cũ

Mộ của cố thủ tướng Imre Nagy tại nghĩa trang Budaest, 23/10/2011
Mộ của cố thủ tướng Imre Nagy tại nghĩa trang Budaest, 23/10/2011
REUTERS

Hoàng Nguyễn / Tú Anh
Hôm qua, 16/10, Viện Công tố Budapest đã đệ cáo trạng lên Tòa án Thủ đô, buộc tội Biszku Béla, cựu Bộ trưởng Nội vụ Hungary thời cộng sản, vì tội ác chiến tranh và những tội khác như chống phong trào dân chủ 1956. Nhân vật này là ai ? Vì sao bị trừng phạt trong khi không phải cán bộ Cộng sản nào cũng bị ra tòa ?


Thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Budapest
 
18/10/2013
 
 
Từ Budapest, nhà báo Hoàng Nguyễn tường thuật :
RFI : Biszcu Bela từng nắm giữ các chức vụ gì và đã làm gì trong chế độ Cộng sản ?
Hoàng Nguyễn: Trong 3 năm qua, nhân vật Biszku Béla được nhắc tới rất nhiều trên truyền thông Hungary, như một trong những kẻ thủ ác cuối cùng còn sống sót của quá khứ cộng sản Hungary. Vừa qua sinh nhật lần thứ 92, Biszku Béla là cựu lãnh đạo cộng sản đầu tiên tại Hung sẽ phải ngồi trên ghế bị cáo vì đã tham gia đàn áp cuộc cách mạng năm 1956.
Là một trong những nhân vật trụ cột của làn sóng đàn áp sau cuộc cách mạng 1956, Biszku Béla được người đời đặt cho biệt hiệu “nắm đấm cứng nhất của thể chế độc tài mềm”. Sinh năm 1921 tại vùng Márok, chuyên nghề thợ nguội, gia nhập Đảng Cộng sản Hungary năm 1944, với thời gian Biszku đã leo mọi nấc thang của bộ máy đảng.
Khi cuộc cách mạng dân chủ 1956 bùng nổ, Biszku đã tổ chức những đơn vị vũ trang, thành viên là các đảng viên và công nhân trung thành với đảng, để chống lại quân khởi nghĩa. Vì thành tích đó, sau biến cố 1956, ông được tặng Kỷ niệm chương Vì chính quyền Công-Nông, một trong những phần thưởng lớn nhất của thể chế Kádár.
Trong hơn 20 năm sau đó, Biszku Béla từng là một yếu nhân của chế độ với những cương vị cao cấp như Bí thư thứ nhất Thành ủy Budapest (1956-1957), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng, 1961-1962), Bí thư Trung ương đảng (1962), Ủy viên Bộ Chính trị (1957-1980)...
Trong 4 năm giữ chức Bộ trưởng Nội vụ sau cách mạng 1956, Biszku được coi là người trực tiếp chỉ đạo chiến dịch đàn áp của chính phủ mới, với chừng 300 bản án tử hình và 20.000 án tù đày dành cho những người tham gia cuộc cách mạng.
Đặc biệt, Biszku đã can thiệp thô bạo vào hoạt động của cơ quan tư pháp. Nhiều bằng cứ văn bản cho thấy trong các phiên họp nội bộ của Trung ương Đảng, Biszku đã lên tiếng đòi tòa các cấp tại Hungary phải đưa ra những bản án “nghiêm khắc” hơn nữa, và rằng con số các bản án tử hình như vậy vẫn còn “quá nhẹ tay”.
Luôn chủ trương cứng rắn, năm 1978, Biszku bị cách chức và cho về hưu vì phản đối chính sách hòa dịu của Tổng bí thư Kádár János. Tuy nhiên, thời kỳ 1980-1989, Biszku vẫn giữ một trọng trách trong Hội đồng Công đoàn Toàn quốc (SZOT) và chỉ thực sự rời chính trường khi Hungary trải qua biến chuyển dân chủ vào năm 1989.
Từ đó, không ai nghe đến cái tên Biszku, thậm chí nhiều người tưởng ông đã chết. Tuy nhiên, cách đây 3 năm, hai đạo diễn trẻ đã phát hiện ra ông, lúc đó đang sống tại một biệt thự ở Đồi Hoa hồng, khu “thượng lưu” ở Budapest, với mức lương hưu gấp 3-4 lần mức lương hưu của một người dân bình thường.
RFI : Không phải đảng viên nào cũng phạm tội ác với dân chúng và bị trả thù. Vậy phiên tòa dành cho cựu bộ trưởng nội vụ Hungary mang ý nghĩa gì : chính trị hay do công lý đòi hỏi ?
Hoàng Nguyễn: Kể từ thời điểm bị phát giác, đã có nhiều nỗ lực đến từ nhiều hướng, nhằm trừng phạt một trong những yếu nhân của làn sóng đàn áp 1956. Với nhiều lý do và nhiều luận cứ khác nhau, nhiều người đã tố giác Biszku lên tòa, với mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự đương sự theo những tội danh khác nhau.
Đầu tháng 8/2010, một dân biểu đảng cực hữu JOBBIK tố giác Biszku vị phạm một điều khoản trong Bộ Luật Hình Sự (BLHS) mới được sửa đổi của Cộng hòa Hungary, theo đó, có thể phạt tù giam tối đa 3 năm đối với người nào công khai phủ nhận các tội ác diệt chủng của các thể chế Quốc xã và Cộng sản, cũng như các tội ác chống nhân loại khác.
Bởi lẽ, trong thực tế, chưa bao giờ Biszku tổ ra hối hận vì những gì đã làm, ông ta vẫn khẳng định biến cố 1956 là “phản cách mạng”, và làn sóng đàn áp của chính quyền Kádár thời gian sau đó - trong đó có những án tử hình, đặc biệt là bản tử hình dành cho vị thủ tướng Nagy Imre - là “hợp pháp và công minh”.
Cuối tháng 10/2010, một luật gia gửi đề xuất tới chính quyền, viện dẫn Luật Quốc tế, đề nghị khởi tố Biszku Béla về những tội ác chống lại sự nhân bản. Tuy đơn này bị bác, nhưng nó cũng khiến nội các Hungary, vào ngày cuối cùng của năm 2011, đã phê chuẩn một đạo luật mới cho phép trừng phạt cả tội ác cách đây gần 6 thập niên.
Mang tên Ðạo luật về sự trừng phạt những tội ác được thực hiện dưới chế độ cộng sản cũng như những tội ác chống sự nhân bản, đạo luật khẳng định những tội ác chống sự nhân bản không bao giờ hết thời hiệu. Đối tượng của đạo luật, không giấu giếm, chính là những kẻ như Biszku, hiện cùng lắm chỉ còn vài chục người.
Sau nhiều "phép thử" như vậy, chỉ tới vụ án hiện tại, Biszku mới thực sự phải đối mặt với nguy cơ sẽ bị trừng phạt. Cáo trạng vạch ra rằng ông ta từng là thành viên Ban lãnh đạo thượng đỉnh của Đảng Cộng sản Hungary, và nắm mọi quyền hành trong tay khi đưa ra các quyết định đàn áp những người tham gia cách mạng 1956.
Trên cương vị Bộ trưởng Nội vụ, Biszku đã biết đến hai vụ thảm sát, khi các đơn vị vũ trang thân chính quyền mới nổ súng vào đoàn người vô tội, khiến gần 50 người bỏ mạng vào tháng 12/1956. Tuy nhiên, ông ta đã không đề xuất truy cứu trách nhiệm các thủ phạm theo luật định đương thời: theo Viện Công tố, chính ông ta là một trong những người chỉ đạo các hành vi tội ác đó.
Viện Công tố nhấn mạnh: ngay theo những luật định vào thời 1956, Biszku cũng phạm tội và thậm chí khung hình phạt có thể là án tử hình. Tuy nhiên, theo Bộ Luật Hình sự Hungary hiện tại, vị cựu lãnh đạo này cùng lắm chỉ có thể bị án tù chung thân, có thời hạn (phân biệt với án tù chung thân vĩnh viễn, là hình phạt trước kia chưa có nên không thể áp dụng).
RFI : Trong những ngày qua, bên Ý, cựu đại úy SS Đức Quốc xã Erich Priebke, từ trần ở tuổi 100 nhưng không có đất chôn vì công luận Ý chống đối. Ngay nước Đức cũng không nhận. Phải chăng Hungary cũng muốn qua vụ án Biszcu Bela nhấn mạnh đến vấn đề nhân quả cho hậu thế ?
Hoàng Nguyễn: Trong vụ án Biszku Béla, nhiều câu hỏi được đặt ra. Lôi lại một chuyện cũ từ gần sáu thập niên trước, để trừng phạt một ông già lâu nay đã trong cảnh gần đất xa trời, để làm gì? Phiên tòa xét xử Biszku mang tính chính trị, trả thù, hay hay đơn thuần vì nhu cầu công lý đòi hỏi?
Ở đây, không thể phủ nhận một khía cạnh: với những nước bài quyết liệt, mà gần đây nhất là việc đưa khả năng trừng phạt những kẻ đã gây tội ác trong thể chế cũ vào bản Hiến pháp mới, đảng cầm quyền cánh hữu FIDESZ muốn gửi một thông điệp mang tính "dằn mặt" tới cánh tả, đặc biệt là Ðảng Xã hội Hungary, đảng đối lập lớn nhất.
Trở lại đạo luật cho phép trừng phạt Biszku Béla và những đồng phạm, FIDESZ đã không giấu giếm khi nói rằng, đảng này đã tạo cơ hội để “bồi đắp quá khứ”, và sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết nếu có ai tố cáo, chứ họ không trực tiếp đứng ra làm việc đó. Và đóng vai trò tố giác, không ai khác, ngoài đảng cực đoan JOBBIK.
Một bộ phận của công luận Hungary nhận ra điều đó, và cho rằng đây là một ván bài chính trị được sử dụng nhằm “bê-tông hóa” quyền lực của phe cầm quyền. Thật mâu thuẫn khi xử Biszku, nhưng các dân biểu cầm quyền lại bỏ phiếu chống dự luật nhằm bạch hóa quá khứ của tất cả những ai đã tham gia và hợp tác với cơ quan mật vụ chính trị cộng sản.
Tuy nhiên, bên cạnh và song song với những toan tính chính trị ấy, có lẽ vụ án Biszku vẫn thỏa mãn và phù hợp với nhu cầu trong sạch và trực diện với quá khứ, vốn dĩ là ý nguyện của số đông cư dân từng là nạn nhân bị đàn áp, tù đày, hoặc bị theo dõi, chỉ điểm bởi chính quyền cộng sản.
Nhìn lại hơn hai thập niên kể từ khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, do đã có những biến chuyển dân chủ từng bước rất sớm từ thập niên 80 thể kỷ trước, nên sự chuyển tiếp hầu như không gặp phải khó khăn gì liên quan tới vấn đề đối diện với quá khứ cộng sản.
Các viên chức của chế độ cũ nhìn chung không bị kỳ thị, không ít quan chức cộng sản tiếp tục trở thành những yếu nhân trong Ðảng Xã hội Hungary (MSZP), một trong hai chính đảng mạnh nhất, đã nhiều lần cầm quyền tại Hungary từ năm 1990, cũng như trong bộ máy chính quyền các cấp.
Cũng chính vì thế mà một thập niên trở lại đây, xã hội Hungary trở nên nhạy cảm hơn với quý khứ cộng sản, cho đến nay vẫn bị coi là chưa được xử lý thỏa đáng. Nhiều văn nghệ sĩ, chính khách, nhân sĩ bị báo chí cánh hữu phanh phui là từng hợp tác với cơ quan mật vụ chính trị, khiến công luận dần dần có nhu cầu trong sạch hóa quá khứ.
Nếu có thể có một bài học "nhân quả" cho tương lai, thì thông qua phiên tòa Biszku, có thể khẳng định rằng công lý sẽ được thiết lập, dù sớm hay muộn, đối với những nạn nhân và những thủ phạm, và không có một tội ác nào bị bỏ quên, kẻ gieo gió ắt phải gặp bão, cho dù gần 60 năm đã trôi qua, như trong trường hợp Biszku Béla...
tags: Châu Âu - Hungary - Pháp luật - Phỏng vấn - Quốc tế - Tội ác - Xã hội
 
http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20131018-biku-bela-cuu-lanh-dao-cong-san-hungary-bi-truy-to-toi-ac-thoi-che-do-cu

vrijdag 16 augustus 2013

Danh sách tài sản của những lãnh đạo cộng sản Việt Nam

Hãy xem lại những số tiền khổng lồ của những tên quan chức CSVN. Làm sao chống tham nhũng khi CSVN là những tên tham nhũng chưa từng thấy trong lịch sử.

http://danlambaovn.blogspot.nl/2013/08/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-16-vo.html#more

-Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USD
-Nguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USD
-Thích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USD
-Lê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USD
-Trần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USD
-Đỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USD
-Nguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USD
-Nguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USD
-Lê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USD
-Nguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USD

-Võ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USD
-Nông Đức Mạnh : Chủ Tịch Quốc Hội 1 tỷ 143 triệu USD
-Phạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USD
-Trần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USD
-Hoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USD
-Lý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USD
-Nguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USD
-Võ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USD
-Ma Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USD
-Nguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USD
-Trần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USD
-Nguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USD
-Vương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USD

Hoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USD
Nguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USD
Nguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Nguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USD
Nguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USD
Phạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USD
Thích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USD
YA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Hà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USD
Hoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USD
Lê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USD
Lê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USD
Lý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USD
Phạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USD

Vương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USD
Trần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USD
Trần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USD
Hoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Ngô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Trương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USD
Hồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USD
Lâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Ngô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Trần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USD
Trương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USD

Đỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USD
Đỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USD
Lê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USD
Nguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USD
Phạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USD
Nguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USD
Trần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USD
Vũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USD
Nguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USD

-Bùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USD
-Hoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USD
-Lưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USD
-Nguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USD
-Nguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USD
-Nguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USD
-Hoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USD
-Phan Quang : Hội nhà báo Việt Nam, Uỷ viên UBMT 256 triệu USD
-Vưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USD
-Cao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USD
-Chu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USD
-Đăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USD

-Hoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USD
-Lê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USD
-Lợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
-Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USD
-Ngô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
-Nguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
-Nguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
-Nguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
-Đinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USD
-Đoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USD
-Lê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USD
-Mùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USD

Trần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USD
Lê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USD
Nguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USD
Nguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Thào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Trần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USD
Lê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USD
Hà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USD
Ama Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Âu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Bế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD

-Đàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USD
-Đặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Đặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Đinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Đinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USD
-Hà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Hoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Lâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USD
-Lê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USD
-Lương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD

-Nguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USD
-Phùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USD
-Rơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USD
-Sầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USD
-Thích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USD
-Thích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
-Trần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USD
-Triệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USD
-Trương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
-Trương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USD
-Ung Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USD
-Vũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD

Mong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USD
Đinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USD
Lê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USD
Mấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USD
Nguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USD
Phan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USD
Trần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USD
Hoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Nguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Phạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Phan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD

-Trần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
-Vi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USD
-Bùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
-Kpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
-Lê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USD
-Nông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USD
-Phạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USD
-Phạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
-Từ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
-Viễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USD
-Nguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USD

-Trương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USD
-Bùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USD
-Trần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USD
-Hồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
-Phan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
-Nguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
-Trần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
-Vũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USD
-Chu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
-Đỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USD
-Dương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
-Huỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD

-Mai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USD
-Ngô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USD
-Nguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USD
-Nguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USD
-Phạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
-Thượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USD
-Trần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USD
-Trần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
-Lê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USD

-Nguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USD
-Trần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USD
-Amí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
-Bùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USD
-Danh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USD
-Đào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
-Đồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
-Hà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
-Hồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
-Hoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USD
-Kim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USD
-Lê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD

-Lý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
-Nguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USD
-Nguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USD
-Nguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu -USD
-Nguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
-Nguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USD
-Nguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USD
-Nguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
-Nguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
-Nguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USD

-Nông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
-Phùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USD
-Sùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
-Trương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USD
-Tương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
-Vũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USD
-Hà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USD
-Nguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USD
-Trần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USD
-Võ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USD

-Cù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USD
-Lê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USD
-Huỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USD
-Hồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USD
--------------------
Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết :
“ Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.

“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là “ Giai cấp mới trong các chế độ CS “ cho biết :
“Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng”.
“Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.
“Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước

“Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.
“Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.
- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.
- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK
- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:
“Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…”
Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là “bí mật quốc gia”, internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.

Quan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốc
Sunday, September 11, 2005
* CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng …
GENEVA 11-9 (NV) – Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.
“Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.” Nhân vật trên tiết lộ.
Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.
Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ.
Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.

“Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.”
Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?
“Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”. Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh – anonymous account – ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó…” Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.

Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng.”
Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”. Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.”
Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”.
Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la. (NT)
Nguồn: Quảng Ngãi Nghĩa Thục.

woensdag 14 augustus 2013

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406: Nhận định về các hoạt động đối ngoại gần đây của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406: Nhận định về các hoạt động đối ngoại gần đây của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam
Các chuyến đi Thái Lan, Indonesia, Hoa Kỳ và nhiều cuộc viếng thăm cao cấp khác của lãnh đạo CS thuần là động tác giả. Chúng chỉ có mục đích tung hỏa mù, nhiễu thông tin, hòng đánh lừa nhân dân và thế giới rằng “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi người”, “Việt Nam luôn tích cực và kiên trì thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa tất cả mọi quan hệ đối ngoại.”

Chuyến đi lên phía Bắc của đoàn ông Trương Tấn Sang duy nó mới là chuyến đi thật để làm thật. Mấy mươi năm qua, Trung Quốc đã xâm nhập mọi mặt vào Việt Nam, nhưng kể từ nay, Bắc Kinh sẽ dùng những văn kiện mới được ký kết làm đòn bẩy, làm phương tiện đẩy mạnh toàn diện công cuộc hán hóa đất Việt và dân Việt. Dưới chiêu bài “Gác tranh chấp, cùng khai thác”, họ sẽ biến biển Đông, vịnh Bắc Bộ, biến các tỉnh biên giới, vùng Tây Nguyên và cuối cùng là tất cả đất nước Việt Nam thành những ao nhà, sân sau của họ...

*

Kính gửi:

- Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
- Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ.

Thời gian qua, các hoạt động đối ngoại của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đã diễn ra rất nhộn nhịp. Trong đó, đáng chú ý nhất là chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc của ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, từ ngày 19 đến 21-6-2013 theo lời mời của Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, ông Tập Cận Bình. Tại Bắc Kinh, một bản Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc đã được hai bên ký kết với những nội dung chính như sau:

+ Hai bên tiếp tục khẳng định “tình hữu nghị Việt - Trung là tài sản chung quý báu của nhân dân hai nước, không ngừng tăng cường tin cậy chiến lược, thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, trên cơ sở kiên trì phương châm 16 chữ vàng: Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và tinh thần 4 tốt: Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

+ Thông qua mười văn kiện gồm các Chương trình hành động, Bản thỏa thuận, ghi nhớ, Điều lệ công tác... về tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao... Có thể nói rằng, trong lịch sử quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc hơn 60 năm qua, đây là lần đầu tiên giữa họ có những văn kiện hợp tác được ký kết một cách toàn diện và chóng vánh đến như vậy.

Rất cập rập, một tháng sau chuyến đi Trung Quốc, đoàn của ông Trương Tấn Sang lại tới thăm Hoa Kỳ, từ ngày 24 đến 26-7-2013, gọi là theo lời mời của Tổng thống Mỹ, ông Barack Obama. Một bản Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ cũng đã được hai bên ký kết ngày 25-7-2013. Tuy nhiên, phần lớn nội dung của nó chỉ là sự lặp lại những gì mà hai bên đã hứa hẹn, thỏa thuận, ký kết từ trước. Nhìn chung, chẳng có bước tiến nào mới đáng kể trong chuyến đi này.

Giữa 2 chuyến đi Trung Quốc và Hoa Kỳ, vào cuối tháng 6-2013, đoàn của ông Sang cũng đã thăm chính thức Indonesia. Tại đây, hai nước đồng ý trở thành “đối tác chiến lược” của nhau. Cùng thời gian này là chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư ĐCS Việt Nam đến Thái Lan. Tại đây, hai nước cũng đã thỏa thuận để nâng tầm quan hệ lên thành “đối tác chiến lược” v.v…

Thế nhưng, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 13 nước CHXHCNVN (bế mạc hôm 21-6-2013, sau hơn 1 tháng làm việc), những nội dung được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc ở trên lại không hề có trong chương trình nghị sự. Điều đó có nghĩa: trừ những “đại biểu Quốc hội” là Ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN ra, gần 500 “đại biểu” còn lại đã không được hỏi ý kiến gì trước một sự kiện mà theo họ là “quan trọng, sâu sắc và toàn diện” như vậy. Tất nhiên nhân dân Việt Nam, nhân sỹ, trí thức Việt Nam lại càng không được hỏi ý kiến.

Mặc dầu vậy, về những hoạt động đối ngoại rất nhộn nhịp đó, hệ thống truyền thông trong nước, dưới chiếc gậy chỉ huy thống nhất của Ban Tuyên giáo Trung ương, đã hí hửng đưa tin: “Các chuyến thăm trên nhằm khẳng định chính sách trước sau như một của Việt Nam là luôn coi trọng, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước trong khu vực và trên thế giới”. Đồng thời, hệ thống ấy cũng ra sức quảng cáo om sòm về “lòng tin chiến lược” và coi nó như là “sáng kiến tuyệt vời” của “Đảng ta”, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước nhân dân và trước cộng đồng ASEAN!”

Kính thưa đồng bào Việt Nam và cộng đồng thế giới tiến bộ,

Nếu như trước đây, khi việc thông tin trong nước còn bị NCQ CSVN ngăn chặn, bưng bít triệt để thì những lối tuyên truyền trên chắc chắn đã lừa bịp được nhiều người. Thế nhưng, tình hình nay đã khác xưa: với tầm mức dân trí trong nước ngày càng tăng cao, với số người ra vào Việt Nam mỗi năm lên đến hàng triệu, với các công cụ truyền thông hữu hiệu của thời đại mới như: Internet, điện thoại, làn sóng điện… nhân dân Việt Nam cùng thế giới tiến bộ đã vạch trần nhanh chóng các thủ đoạn xấu xa của Cộng sản được che giấu dưới những luận điệu tuyên truyền. 

Một trong những thủ đoạn xảo quyệt mới đó là: khi cần đạt được một mưu đồ phá nước hại dân nào đấy, đảng và NCQ CSVN tìm cách tạo ra nhiều sự kiện xung quanh nó, nhằm làm cho nhân dân bị tung hỏa mù, nhiễu thông tin, và do đó rất khó đánh giá đúng bản chất mưu đồ của họ. Thủ đoạn này được họ áp dụng ở cả hai phía đối nội lẫn đối ngoại và vào tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.

Chính vì thế, trước những hoạt động đối ngoại nhộn nhịp của NCQ CSVN gần đây, Khối 8406 chúng tôi nhận định:

1- Các chuyến đi Thái Lan, Indonesia, Hoa Kỳ và nhiều cuộc viếng thăm cao cấp khác của lãnh đạo CS thuần là động tác giả. Chúng chỉ có mục đích tung hỏa mù, nhiễu thông tin, hòng đánh lừa nhân dân và thế giới rằng “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi người”, “Việt Nam luôn tích cực và kiên trì thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa tất cả mọi quan hệ đối ngoại.”

2- Chuyến đi lên phía Bắc của đoàn ông Trương Tấn Sang duy nó mới là chuyến đi thật để làm thật. Mấy mươi năm qua, Trung Quốc đã xâm nhập mọi mặt vào Việt Nam, nhưng kể từ nay, Bắc Kinh sẽ dùng những văn kiện mới được ký kết làm đòn bẩy, làm phương tiện đẩy mạnh toàn diện công cuộc hán hóa đất Việt và dân Việt. Dưới chiêu bài “Gác tranh chấp, cùng khai thác”, họ sẽ biến biển Đông, vịnh Bắc Bộ, biến các tỉnh biên giới, vùng Tây Nguyên và cuối cùng là tất cả đất nước Việt Nam thành những ao nhà, sân sau của họ...

3- Đây là sự tiếp nối những động thái cực kỳ nguy hiểm cho dân tộc và nằm trong mưu đồ chung của tập thể Bộ chính trị ĐCSVN quá khứ và hiện tại, chứ không phải của riêng ông Trương Tấn Sang. Những động thái ấy đã diễn ra hơn nửa thế kỷ rồi: 

+ Công hàm công nhận hải phận Trung Quốc của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai, ngày 14-9-1958.

+ Các thỏa thuận tại Hội nghị Thành Đô tháng 9-1990, bởi các ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười.

+ Các thỏa thuận hợp tác với Trung Quốc của ba đời Tổng bí thư tiếp theo là Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng. 

Trung Quốc cần chữ ký của những Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống thời nay và điều đáng lên án là Ban lãnh đạo ĐCS Việt Nam qua nhiều thế hệ đã ngoan ngoãn dâng cho họ. Bằng cách này, Trung Quốc sẽ thôn tính được Việt Nam mà không cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh quân sự như hàng ngàn năm qua nữa. 

4- Đấy cũng là nằm trong chiến lược toàn cầu phản động của Trung Nam Hải, từng tỏ lộ qua những phát biểu không cần che đậy của Mao Trạch Đông: 

+ Tại Hội nghị Quân ủy trung ương tháng 9-1959, ông tuyên bố: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta”. 

+ Tại cuộc họp Bộ chính trị tháng 8-1965, ông khẳng định: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore. Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm đoạt.” (Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua. Nhà xuất bản Sự Thật – Hà Nội 1979).

Chiến lược đó không hề thay đổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua và ngày càng được tiến hành cách thô bạo. Như thế, trật tự tại khu vực sẽ thay đổi thuận lợi cho Trung Quốc, khiến quyền lợi của Hoa Kỳ, Nhật Bản và thế giới sẽ bị phương hại nghiêm trọng.

Từ những nhận định trên, Khối 8406 chúng tôi tuyên bố: 

1- Tất cả các Công hàm, Hiệp định hay bất cứ một văn kiện nào mà Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam từng ký kết với Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc từ trước đến nay đều vô giá trị! Nhân dân Việt Nam chẳng hề chấp nhận chúng, bởi lẽ chúng đã được ký bởi một Nhà cầm quyền không của nhân dân, không do nhân dân và không vì nhân dân! 

2- Hai nước Việt Nam và Trung Quốc thực sự dân chủ sẽ là những điều kiện bảo đảm vững chắc cho nền hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của hai quốc gia, của khu vực và của thế giới trong tương lai. Khi đó, những văn kiện đã ký sẽ được chính phủ hai nước bàn bạc để ký lại, sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế và với nguyện vọng chính đáng của nhân dân hai nước.

3- Cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ thực sự cho dân tộc Việt Nam dẫu có phải trải qua nhiều gian khổ hy sinh, song nhất định sẽ toàn thắng! Chế độ cộng sản độc đảng toàn trị, phi dân tộc và phản dân chủ hiện nay phải vĩnh viễn ra đi khỏi đất nước ta! Chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng phù hợp với quy luật của lịch sử, với bản tính của con người và đáp ứng nguyện vọng của toàn thể dân Việt nhất định sẽ xuất hiện.

Nhân dịp này, Khối 8406 xin nhiệt liệt ca ngợi tinh thần đấu tranh ngoan cường, không nản chí sờn lòng của đồng bào Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước, đang hàng ngày hàng giờ giành lại tự do dân chủ thực sự cho Quê hương. Xin cảm ơn cộng đồng thế giới tiến bộ đã ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả cho cuộc đấu tranh chính nghĩa này của nhân dân Việt Nam! 

Làm tại Việt Nam, ngày 13 tháng 8 năm 2013.

Ban điều hành Khối 8406:

1- Linh mục Phan Văn Lợi – Huế – Việt Nam.
2- Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Sài Gòn – Việt Nam.
3- Nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn - Quảng Nam - Việt Nam.
4- Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Houston – Hoa Kỳ.
5- Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston– Hoa Kỳ.

Với sự hiệp thông của Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và các tù nhân lương tâm khác đang ở trong lao tù Cộng sản.