Posts tonen met het label Văn hóa. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Văn hóa. Alle posts tonen

donderdag 17 april 2014

Việt Nam : Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-03-25
 
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Một đền thờ Hồi giáo người Chăm tại Xuân Lộc Đồng Nai
Một đền thờ Hồi giáo người Chăm tại Xuân Lộc Đồng Nai
RFA file
Gần đây người Chăm dòng Bani dấy lên lo ngại sự mất dấu vết của những nghĩa trang mà theo phong tục họ chôn cất người chết rất sơ sài. Đã có dấu hiệu bị người Kinh lấn đất và chính quyền cũng có những biểu hiệu thiếu minh bạch về việc trưng thu đất đai của họ. Mặc Lâm phỏng vấn nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inra Sara để biết thêm chi tiết việc này.
Mặc Lâm: Xin anh giải thích phong tục chôn cất của người Chăm thuộc hai dòng tôn giáo Chăm Bà-la-môn và Chăm Bà-ni.
Inra Sara: Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận hiện có hai dòng tôn giáo, tín ngưỡng chính, đó là Chăm Bà-la-môn, còn gọi là Cham Ahier và Chăm Bà-ni, còn gọi là Cham Awal, hay Hồi giáo cũ. Cho dù sinh hoạt của hai hệ tôn giáo tín ngưỡng này có sự hòa hợp rất nhuần nhị, nhưng giữa hai vẫn có các khác biệt, rõ nhất là ở việc tang chế. Nếu người Chăm Bà-la-môn hỏa táng, thì ngược lại, người Chăm Bà-ni địa táng.
Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu. Trong buổi sáng hỏa thiêu, 9 miếng xương trán được giữ lại, rồi mài tròn như đồng xu và cất vào lọ nhỏ gọi là Klong.
Vài chục năm sau, khi trong dòng họ tập hợp được nhiều bộ tinh cốt như thế, người ta tổ chức Lễ nhập Kut. Kut là nghĩa trang thuộc tộc mẫu bên Chăm Bà-la-môn. Trong tối cuối cùng của cuộc lễ, 9 miếng tinh cốt của tất cả Klong được cho vào hầm mộ ở trung tâm Kut. Hầm mộ này rộng khoảng 3-4 thước vuông, vậy thôi Kut cũng chứa đến cả vạn sinh linh Chăm Bà-la-môn. Vì mỗi dòng họ mẹ có một Kut riêng, nên một palei Chăm Bà-la-môn có thể có nhiều Kut.
Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu
Inra Sara
Người Chăm Bà-ni khác hơn, mỗi palei chỉ có một nghĩa trang duy nhất. Nghĩa trang này tiếng Chăm gọi là Ghur. Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên, chỉ sau này người ta mới dùng xi-măng đúc theo hình khối hay hòn đá được mài có tính mĩ thuật hơn.
Nếu Kut của người Chăm Bà-la-môn chỉ cần một sào đất cố định cũng đủ, thì Ghur Chăm Bà-ni mở rộng lớn nhất có thể. Do biến thiên lịch sử, nhiều làng Chăm Bà-ni dời đi xa, khi đó, bà con lập Ghur mới làm nơi chôn cất, còn Ghur cũ coi như xong nhiệm vụ. Thế nhưng không như Kut bên Chăm Bà-la-môn – khi người nữ cuối cùng thuộc dòng tộc đã mất thì Kut bị bỏ hoang hẳn, còn Ghur cũ của người Bà-ni vẫn còn được phụng tự. Mỗi năm người Chăm Bà-ni vẫn còn đi thăm các Ghur này tảo mộ một lần vào dịp đại lễ Ramưwan, là tháng Chín chay tịnh.
Nghĩa trang (Ghur Girai Neh) của người Chăm ở  Ninh Thuận
Nghĩa trang (Ghur Girai Neh) của người Chăm ở Ninh Thuận. Courtesy Kiều Maily
Mặc Lâm: Vấn đề hiện nay đang xảy ra đối với người Chăm Bà-ni theo anh có nghiêm trọng hay không nếu xét về việc mất dần những Ghur vì thiếu sự bảo tồn cũng như do việc lấn đất?
Inra Sara: Đây là chuyện nghiêm trọng. Vì đó là tội xâm hại mồ mả tổ tiên, xâm phạm đến đức tin tôn giáo của một bộ phận dân tộc. Chỉ có những Ghur mới, nghĩa là Ghur đang hoạt động, khi có người chết, người ta mới mang thi hài đi chôn. Còn Ghur cũ, mỗi năm người Chăm Bà-ni chỉ tảo mộ một lần, sau đó Ghur bị bỏ lại. Bà con tin đó là khu đất linh thiêng không ai dám động tới. Mà thực sự là xưa nay chưa có vụ xâm phạm nên không ai nghĩ đến rào chắn. Nhưng sự vụ không đơn giản như bà con tưởng! Nhất là với người khác tín ngưỡng, họ đâu có tin. Đối với người khác dân tộc lại càng không tin.
Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên
Inra Sara
Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà.
Mặc Lâm: Vai trò của chính quyền trong vấn đề này như thế nào, sự lơ là hay tiếp tay của họ có rõ ràng và cụ thể hay không?
Inra Sara: Ở trên tôi nói chính quyền còn làm thế là có chứng cớ. Con đường từ Ninh Chữ xuống Vĩnh Hi chạy băng qua và cắt Ghur Girai Neh làm hai. Tại sao, không ai biết vì sao cả. Ghur này ở trong khu vực thôn Khánh Nhơn, huyện Ninh Hải nằm sát biển, vốn thuộc hạng cổ và đẹp nhất trong các Ghur Chăm. Sau đó, mỗi năm Ghur đều có dấu vết xâm lấn. Thời Pháp cũng không khác mấy, Ghur Kađuk ở Hộ Diêm thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải bị san phẳng mà không cần thông qua ý kiến bà con Chăm.
Còn chính quyền hiện tại, có hay không việc “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại” đất Ghur thì chưa ai biết được cụ thể thế nào. Theo tôi, sự thể cũng do lỗi ở người Chăm ỷ y mà ra. Bà con biết có xâm hại, và xâm hại nhiều lần, nhưng không có ai lên tiếng, và lên tiếng tới nơi tới chốn cả. Từ tâm lí mẹ chung không ai khóc dễ đẩy sự vụ đến chỗ nguy hiểm. Đã có vài xung đột lẻ tẻ rồi. Nếu không xử lí kịp thời, e xảy ra sự cố lớn thì khó mà chữa chạy kịp.
Chuyện nhỏ lẻ mang tính tranh chấp địa phương làng xóm qua đó sẽ được đẩy lên hàng mâu thuẫn dân tộc, là điều nhỡn tiền. Các cán bộ là người Chăm ở Tỉnh, Huyện không thấy trước nguy cơ này mới lạ.
Mặc Lâm: Hội đồng chức sắc thôn và trí thức Chăm có được chính quyền công nhận là một thực thể giá trị trong cộng đồng hay không và nếu có sự tiếp tay vận động của họ thì kết quả sẽ ra sao?
Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà
Inra Sara
Inra Sara: Có, chứ không phải không! Nếu các vị không sợ hãi, sợ cái điều không đáng sợ. Tôi từng nói, nếu các cán bộ địa phương, các trí thức và các vị chức sắc trong làng, vì Ghur Chăm chỉ thuộc phạm vi palei, đứng ra làm, quyết tâm làm, là họ đang giúp Nhà nước ngăn ngừa cái xấu về tương lai. Việc gì phải sợ cơ chứ.
Khi ta dám nói, dám làm; nói cụ thể hơn ở đây là, nếu ta quyết làm cho xong Sổ đỏ, cái Giấy chứng nhận sử dụng đất đó mà, nếu ta đứng lên huy động tiền bạc để rào lại khu đất thuộc sở hữu của ta (như nhiều Kut Chăm Bà-la-môn đã giải quyết như thế, và giải quyết rất ổn thỏa), thì không có cấp chính quyền nào cấm cản ta cả. Còn phần đất bị hộ cá thể nào đó lấn chiếm, ta cứ làm đơn trình. Trong lộ trình đơn thư này, việc chính quyền có “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại đất Ghur” như anh đặt ra ở trên hay không, thì biết ngay thôi.
Theo tôi, không có chính quyền nào dại dột đi bênh vực cá thể nào đó vi phạm thuần phong mĩ tục một dân tộc cả. Làm thế khác gì đi bao che cái xấu, là bênh vực cá nhân tham lam, mà gây mất lòng cả một tập thể. Còn hơn thế, hành động thế là gây mất đoàn kết dân tộc – điều mà lâu nay Nhà nước Việt Nam rất ngại.
Mặc Lâm: Theo chúng tôi được biết thì giờ này anh đang ở làng Phước Nhơn, điểm nóng diễn ra sự việc mà chúng ta đang bàn đến. Xin anh cho biết công việc đã giải quyết tới đâu rồi, thưa anh?
Inra Sara: Về sự xâm phạm Ghur Chăm Bà-ni, tôi đã nhiều lần đi thực địa, chẳng những ở Ninh Thuận mà cả Bình Thuận. Tháng 7 năm ngoái, tôi có mở cuộc thảo luận về Chuyên đề này trên Inrasara.com, đầu tháng 3 năm nay, tôi mở cuộc thảo luận lần hai. Qua hai cuộc thảo luận, tôi nhận được nhiều phản hồi quý giá.
Còn lúc này, cũng xin báo tin vui với anh, hôm qua Hội đồng Sư cả Bà-ni và vài trí thức Chăm palei Phước Nhơn Pabblap đang có đơn thư lên Thường vụ Tỉnh, cạnh đó họ còn thảo Bức Tâm thư gửi các Mạnh thường quân xin tài trợ để công việc tiến hành sớm. Dĩ nhiên, mấy năm trước, tôi cũng đã nhiều lần nghe bà con làm thế, nhưng rồi chẳng đi tới đâu cả.
Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.

zondag 5 januari 2014

Con đường Rượu vang Alsace, Pháp: Chiều sâu bao tử, bề dày văn hóa

Thứ sáu 03 Tháng Giêng 2014
Con đường Rượu vang: Chiều sâu bao tử, bề dày văn hóa
Con đường Rượu Vang vùng Alsace thu hút mỗi năm hàng triệu lượt du khách (www.vinsalsace.com)
Con đường Rượu Vang vùng Alsace thu hút mỗi năm hàng triệu lượt du khách (www.vinsalsace.com)
Tuấn Thảo
Nằm cách thủ đô Paris khoảng 400 cây số về phía Đông, vùng Alsace nổi tiếng là một trong những vùng sản xuất rượu nho trắng ngon nhất châu Âu. Nếu như nước Pháp có đến mười bốn Con đường Rượu vang trên toàn lãnh thổ, thì vùng Alsace chính là nơi đã thành lập Con đường Rượu vang đầu tiên, cách đây 60 năm.
Đặt chân đến vùng Alsace, du khách sẽ khám phá những làng mạc có từ lâu đời, những thị trấn với lối kiến trúc cổ kính, khung cảnh nên thơ giữa chốn thiên nhiên thanh bình, nơi mà rượu nho hảo hạng làm nổi bật các món ăn đặc sản địa phương. Du khách vừa có dịp thưởng thức những món ăn ngon vừa đi thưởng ngoạn các địa danh với nhiều di tích lịch sử.
Chẳng hạn như Nhà thờ Đức Bà thành phố Strasbourg, thủ phủ vùng Alsace, được xây từ cuối thế kỷ XII (1176). Phố cổ Mulhouse giữ nguyên lối kiến trúc có từ thế kỷ XIII, mà một trong những đặc điểm là khung cửa sổ hầu như lúc nào (ngoại trừ mùa đông) cũng lợp đầy hoa. Thành phố Colmar thì nổi tiếng với Viện bảo tàng Mỹ thuật Unterlinden, dãy hàng buôn (Rue des Marchands) trong góc phổ cổ xưa, xây từ thế kỷ thứ XI cũng như ngôi nhà của dòng họ Bartholdi.
Thành phố Colmar chính là nguyên quán của Frédéric Auguste Bartholdi (1834-1904), cha đẻ của bức tượng Nữ thần Tự do ở phía nam Manhattan và cũng là tác giả của những bức điêu khắc nổi tiếng như Thiên thần thổi sáo tại nhà thờ Boston, bức tượng của tướng Lafayette tại quảng trường Union Square ở New York, hay bồn nước điện Capitole ở Washingon DC, thủ đô nước Mỹ.
Con đường Rượu vang (La Route des Vins) do Sở du lịch vùng Alsace thành lập vào ngày 30 tháng Năm năm 1953, nhân dịp tổ chức một cuộc đua xe hơi. Tuyến đường đua chạy dọc vùng Alsace, và cứ mỗi chặng là có một sinh hoạt lễ hội, để giới thiệu các đặc sản của từng miền.
Từ ngôi làng Marlenheim phía bắc cho tới thị trấn Thann ở phía nam, Con đường rượu vang vùng Alsace băng qua những ngọn đồi trồng nho trên hơn 170 cây số. Vùng Alsace có gần 120 nông trại và ruộng nho, hơn một nửa nằm dọc tuyến đường này. Trong số này, đọan đường giữa hai thị trấn Barr và Rouffach chi chít những ngôi làng chuyên sản xuất rượu nho tiêu biểu của vùng Alsace.
Các ngôi làng rượu vang như Mittelbergheim, Eguisheim, Hunawihr đều nằm trong danh sách các ngôi làng thơ mộng, xinh xắn nhất nước Pháp, hàng năm sau mùa hái nho, các ngôi làng này đều có tổ chức liên hoan để giới thiệu sản phẩm, mời du khách nếm thử hương vị ‘‘rượu mới’’ ngay sau khi thu hoạch xong (vin primeur).
Vùng Alsace có trên dưới 60 hiệu rượu vang có kiểm định nguồn gốc và xuất xứ (AOC – Apellation d’Origine Contrôlée). Trái với tên gọi của nó, Pinot Gris lại là rượu vang trắng, trong khi Pinot Noir lại là rượu vang đỏ. Ngọai trừ lọai rượu nho đỏ này, vùng Alsace chủ yếu sản xuất nhiều loại rượu nho trắng như rượu Muscat, Tokay, Chasselas, Sylvaner, Klevener … Nhưng tiêu biểu hơn cả là ba loại rượu Crémant, Riesling và Gewurztraminer.
Du khách nước ngoài thường gọi lầm rượu Crémant của vùng Alsace là Champagne, do đây cũng là một loại rượu trắng có sủi bọt. Tuy nhiên, Crémant chủ yếu dùng giống nho chardonnay, trong khi Champagne kết hợp đến ba hoặc bốn giống nho khác nhau, trong đó có Pinot Noir và Pinot Meunier. Hai loại rượu đặc trưng nhất của vùng Alsace vẫn là Riesling và Gewurztraminer có mùi vị rất thơm như thể được ướp với hương hoa.
Chính với những đặc sản không nơi nào có này, mà Alsace vươn lên hàng nhất nhì trong số các vùng nổi tiếng về rượu vang ở Pháp, cũng như Bordeaux và Bourgogne. Những đồi nho ngút ngàn xung quanh các thị trấn và thành phố lớn như Strasbourg, Colmar, Sélestat, Guebwiller, Saverne, Obernai ... tạo nên một khung cảnh khá yên tĩnh và thơ mộng. Chỉ cần rời khỏi các đô thị đông đảo dân cư, du khách thấy ngay các vườn nho san sát lá xanh. Các nông trại dọc con đường rượu vang nối liền với nhau, ở những nơi có cho khách thưởng thức rượu đều có gắn bản hiệu dọc hai bên đường với biểu tượng muôn thuở là một chùm nho trắng.
Mỗi vườn nho ở đằng sau nông trại thường có một hầm rượu mở cửa tiếp đón du khách, một số nơi còn dành một góc làm nhà hàng để dọn thức ăn cho thực khách. Dù có ăn tại chỗ hay không, bạn vẫn có thể nếm từng lọai rượu trước khi mua. Nhấp thử một ngụm ở đầu môi, hương rượu thoang thoảng ở chót lưỡi, đôi khi mát nhẹ mùi hoa trái, dịu thơm như thảo mộc phảng phất một chút rơm tươi. Lý tưởng nhất là khi bạn có thể gọi một số món ăn đặc sản truyền thống của vùng Alsace để làm nổi bật hương rượu.
Rượu vang trắng của Alsace rất hợp với fromage (phô mát), nếu bạn cảm thấy không hợp với khẩu vị thì nên dùng rượu trắng với món cá rắc bột chiên bơ (món này không phải là lăn bột như làm beignet mà làm theo kiểu meunière). Người dân vùng Alsace nấu cả hai loại cá : cá chép và cá lờn bơn, còn được gọi là cá lưỡi trâu (sole).
Có người thích ăn món flammekueche, hình thù giống như bánh pizza nhưng tuyệt đối không có cà chua mà lại có hành tây xắc mỏng, rồi rắc ở trên mặt nhiều fromage và thịt ba rọi ướp muối. Nhưng món này không phải dễ ăn cũng như món tartiflette, nguyên là một món khoai tây trộn fromage, rồi đút lò nướng dòn. Nguồn gốc của món tartiflette đến từ vùng Savoie, nhưng cũng khá phổ biến ở vùng Alsace. Đối với mọi người và đặc biệt là thực khách châu Á, dễ ăn nhất vẫn là món choucroute, tức là món dưa cải chua.
Đây là một món ăn truyền thống mùa đông của vùng Alsace, của nước Đức và một số quốc gia Đông Âu. Nhưng vùng Alsace chế biến dưa cải công phu hơn : bắp cải cắt thật mỏng ngâm muối và rượu trắng chứ không ngâm với bia, khi nấu thì cho thêm một chút rượu nho thơm ngâm với hạt đỗ tùng, tức là hạt genièvre.
Một số người không có genièvre dùng hạt ngò ướp thêm với một chút tiêu, nhưng tuỵêt đối không dùng đinh hương, vị mùi đinh hương sẽ át hẳn mùi thơm của cải ngâm rượu trắng. Món choucroute bây giờ thường được dọn với xúc xích và thịt nguội, nhưng đúng địêu thì phải có giò lợn, khi nấu để nguyên đến khi ăn thì mới cắt thành từng miếng. Nếu không thích ăn thịt, thì món choucroute cũng có thể nấu với hải sản, tôm tươi, sò điệp, cá hồi, cá vược hun khói.
Vùng Alsace đặc biệt là miền thung lũng nằm gần dãy núi Vosges, nhờ vào khí hậu (tương đối) ôn hoà, thổ nhưỡng thuận lợi, nên sản sinh ra nhiều giống nho ngon để làm rượu. Vùng đất màu mỡ trù phú, cộng thêm truyền thống chế biến rượu lâu đời, có từ thời La Mã. Dù có sành điệu hay không, thì hàng năm có cả một triệu lượt khách chọn đi tour du lịch trên Con đường Rượu vang vùng Alsace.
Thời điểm lý tưởng nhất là từ giữa tháng năm cho đến cuối tháng Mười. Từ thành phố Strasbourg hay là Colmar, bạn đều có thể dùng xe đạp để viếng thăm các vườn nho nằm ở ngoại thành. Đó là cách tốt nhất để thưởng ngọan phong cảnh tại những ngôi làng có lối kiến trúc hình khối, khá vuông vức rắn chắc. Đằng sau những ngọn đồi xanh mướt vào mùa xuân, là những căn nhà rộng mái với gỗ nâu hiện trên mặt tiền, tạo ra những ô vuông với khung cửa sổ tô màu, nên dễ nhìn thấy từ xa. Các ngôi làng xây bằng đá có kèo gỗ thường có cổng chính.
Từ cổng làng cho đến các khung cửa sổ của mỗi ngôi nhà đều có treo nhiều chậu hoa. Tâm điểm là một ngôi nhà thờ với tháp chuông ở phía trước thường có tổ chức những phiên chợ chủ yếu bán fromage, thức ăn tươi và hoa quả. Nếu như ở trong thành phố, nhà cửa thường có mái hẹp được xây với nhiều tầng cao do ngày xưa người ta có truyền thống đánh thuế trên diện tích mặt bằng, thì những làng mạc vùng Alsace thường có những ngôi nhà mái thấp và rộng hơn. Tường nhà thường được sơn với gam màu dịu : mỡ gà, xanh non hạt điều hay xanh phấn, trong khi bancông và cửa sổ thường dùng gam màu sẫm gần giống với các chất liệu tự nhiên, thường là màu gỗ nâu, màu xám tro, hay màu xanh dương đậm có sắc lục như cổ chim bồ câu.
Nước Pháp có đến mười bốn Con đường Rượu vang, trên khắp các vùng miền, tức là cao gấp bốn lần so với các quốc gia láng giềng cũng có truyền thống trồng nho làm rượu là nước Ý, nước Đức và Tây Ban Nha. Trong số mười bốn Con đường Rượu vang của Pháp, La Route des Vins d’Alsace luôn luôn đứng nhất nhì trên danh sách bởi vì đây vùng đầu tiên dung hoà di sản kiến trúc với nghệ thuật ẩm thực, nói nôm na là kết hợp chiều sâu bao tử với bề dày văn hóa.
TỪ KHÓA : Ẩm thực - Tạp chí - Văn hóa
 

zondag 4 augustus 2013

Hàn Quốc chấm dứt ưu tiên nền điện ảnh Hàn Quốc ?

Thứ bảy 03 Tháng Tám 2013

Ngoại lệ văn hóa Hàn Quốc chấm dứt ?

Trụ sở cơ quan Korean Film Council (KOFIC) DR
Trụ sở cơ quan Korean Film Council (KOFIC) DR

Thu Hằng
Trong cuộc thương thảo tự do mậu dịch xuyên Đại Tây Dương giữa Liên hiệp châu Âu và Hoa Kỳ diễn ra tháng 6 vừa qua, Pháp đã bảo vệ thành công bản sắc văn hóa, đặc biệt là nền điện ảnh của mình, khỏi tầm ảnh hưởng của Mỹ. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Mỹ đang phát triển mạnh tại châu Á xa xôi.


Sau nhiều thập niên phát triển, nền điện ảnh Hàn Quốc cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của người khổng lồ Mỹ. Mục « Văn hóa » của nhật báo Le Monde chú ý tới vấn đề này với dòng tựa : « Tại Hàn Quốc, ngoại lệ văn hóa chấm dứt ». Năm 1967, chính phủ Hàn Quốc áp dụng hệ thống quota buộc sản xuất ba phim nội địa để có quyền chiếu một phim nước ngoài.
Hàng năm, các rạp hát phải chiếu các phim do các công ty trong nước tài trợ trong vòng 146 ngày. Thế nhưng, từ năm 1993 tới 1998, Seoul nhanh chóng nhận thấy lợi nhuận khổng lồ mà nền điện ảnh mang lại, đặc biệt là doanh thu tương đương với trị giá 1,5 triệu chiếc ô tô Huyndai của bộ phim tấn Công viên kỷ Jura (Jurassic Park).
Trong những năm từ 1998 tới 2008, các tổng thống Kim Dae-jung và Roh Moo-huyn muốn nâng Hàn Quốc lên thành một trong năm cường quốc văn hóa hàng đầu thế giới và không ngừng hỗ trợ cho nền công nghiệp giải trí này. Nhờ đó, nhiều diễn viên điện ảnh tài năng Hàn Quốc được trọng vọng tại các liên hoan phim quốc tế và phim của nước này được chào đón khắp khu vực Đông và Đông Nam Á.
Từ năm 2012, các nhà sản xuất chủ yếu quan tâm đến các dự án phim lớn. Chính vì thế, ngày càng có ít phim Hàn Quốc tại các liên hoan phim quốc tế. Nhiều ý kiến cho rằng hiệp định tự do trao đổi ký với Hoa Kỳ năm 2007 và có hiệu lực từ năm 2012 đã thay đổi nền công nghiệp của nước này. Theo đó, Seoul đã nhượng bộ trước Mỹ khi giảm số ngày chiếu phim Hàn Quốc xuống còn 73 ngày.
Giám đốc Cơ quan Korean Film Council (Kofic), với sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa, cho biết : « Trước khi ký hiệp định song phương, các kênh Hàn Quốc phải chiếu 25% phim do nước này sản xuất. Giờ chỉ còn 20% ». Vào năm 2015, các nhà sản xuất Hoa Kỳ có quyền chiếm 100% các kênh truyền hình tại Hàn Quốc.
Việc giảm quota cũng gây ảnh hưởng đáng ngại tới nền điện ảnh Hàn Quốc. Theo Kofic, tỉ lệ phim nội địa chiếm 63,8% thị trường vào năm 2006, năm 2008, giảm xuống còn 42,1%. Năm 2012, tỉ lệ này đã tăng lên 59,6% nhờ một số phim nổi tiếng với ngân sách khổng lồ cùng với những phim nhỏ do các hãng độc lập sản xuất.
Hiệp định tự do trao đổi cũng gây ảnh hưởng trầm trọng tới các hãng phim nhỏ này. Để tồn tại, các công ty này thầu lại các hợp đồng cho các hãng lớn. Một đạo diễn nhận xét : « Thường có một buổi lễ trước khi quay một bộ phim. Trước đây, người ta cầu để làm được một bộ phim hay, giờ người ta cầu để phim mang lại nhiều lợi nhuận nhất ».
Còn các ngôi sao màn bạc, họ chỉ quan tâm tới các dự án phim lớn và quay lưng với phim của các nhà sản xuất độc lập. Cơ quan Korean Film Council cũng chịu sự cắt giảm ngân sách hỗ trợ khám phá tài năng mới. Tình hình trên cũng khiến nhiều kỹ thuật viên không tìm được việc làm và nhiều nhà làm phim trẻ khó nhọc để thực hiện dự án của mình.
Các liên hoan tại Pháp tìm kiếm ngân sách
Vẫn liên quan tới vấn đề văn hóa, nhưng tại nước Pháp, báo Libération dành năm trang đầu, trong mục « Sự kiện », dưới tiêu đề : « Các festival tìm kiếm ngân sách », để phản ánh thực trạng khó khăn của các nhà tổ chức từ khi nhà nước giảm ngân sách cho các hoạt động này.
Tờ báo cho biết, dù khủng hoảng, các hoạt động văn hóa tại Pháp vẫn thu hút được khán giả nhờ hợp tác với lĩnh vực tư nhân. Mỗi loại hình nghệ thuật, từ âm nhạc tới nghệ thuật sống hay điện ảnh, đều có những cách riêng để tiếp tục tồn tại.
Âm nhạc là lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nhất vì 90% các festival tại Pháp là các sự kiện âm nhạc. Các nhà tổ chức buộc phải bắt tay với các doanh nghiệp địa phương để thu hút khán giả, đồng thời đảm bảo doanh thu cho sự kiện. Với các đại nhạc hội, họ dựng làng festival cho khán giả thuê. Ngoài ra, cho các công ty tư nhân thầu kinh doanh đồ ăn uống cũng là nguồn thu chính cho những sự kiện này.
Điện ảnh là lĩnh vực thứ hai bị ảnh hưởng. Tại Pháp, hàng năm có khoảng 168 liên hoan phim lớn nhỏ. Mục đích của các nhà tổ chức là mời các diễn viên nổi tiếng tham dự để có thể thu hút được nhiều khán giả nhất. Thế nhưng, chi phí cho chuyến đi của các nghệ sĩ này rất tốn kém, trong khi đó ngân sách nhà nước và địa phương cũng giảm dần.
Nhà tổ chức tìm kiếm các nhà tài trợ dưới nhiều hình thức khác nhau, như hợp tác với khách sạn để họ cung cấp phòng đón khách mời, hoặc như trường hợp hãng hàng không Air France cung cấp vé miễn phí. Đổi lại, ban tổ chức quảng cáo logo cho đối tác của mình tại mọi sự kiện. Lĩnh vực nghệ thuật sống tìm cách thu hút và đa dạng hóa khán giả bằng cách giảm giá vé hay tổ chức miễn phí một số sự kiện. Trong lĩnh vực này, đối tác tư nhân vẫn còn khá khiêm tốn.
Libération phỏng vấn nhà nghiên cứu Kévin Matz để có thể hiểu rõ hơn quá trình thay đổi của các đại nhạc hội. Trong thập niên 80 và 90, các festival có tham vọng thay đổi thế giới với sự chuyên nghiệp hóa và quy mô hoành tráng. Hiện nay, tồn tại ba hình thức festival : hình thức thứ nhất, quy mô nhỏ, hoạt động độc lập và không cần hỗ trợ tài chính của nhà nước hay các nhà tài trợ. Hình thức thứ hai hoàn toàn mang tính thương mại. Hình thức cuối cùng là các liên hoan được ngân sách nhà nước tài trợ một phần nhưng cũng nhận tài trợ của tư nhân.
Nhà nghiên cứu cho biết thêm, cũng trong những năm 80-90, việc quảng bá cho các nhãn hiệu là điều không tưởng. Song hiện nay, khán giả ít phản ứng về vấn đề logo của các nhà tài trợ có mặt khắp nơi, hay tính chất của festival, như trường hợp « Ngày lễ báo L’Humanité » (Fête de L’Humanité). Họ tới tham dự festival vì quan tâm tới chương trình và chủ yếu với mục đích giải trí.
Làn sóng Trung Hoa
Với tựa đề này, phóng viên báo Le Monde phản ánh làn sóng khách du lịch Trung Quốc ngày một lớn. Tại đây, đi nghỉ ngày càng đồng nghĩa với du lịch nước ngoài. Dưới thời chủ tịch Mao Trạch Đông, đây bị coi là "trái cấm", năm 2012, 83 triệu người Trung Quốc nếm được mùi vị của nó.
Tác giả bài báo nêu lên những cột mốc lớn đánh dấu sự thay đổi quan điểm về kỳ nghỉ và du lịch tại quốc gia đông dân nhất thế giới. Trong ba thập kỷ gần đây, người Trung Quốc mới bắt đầu làm quen với khái niệm « kỳ nghỉ ».
Vào năm 1995, họ mới biết tới tuần làm việc năm ngày, với hai ngày nghỉ cuối tuần. Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc về Giải trí cho biết : « Khái niệm thời gian rảnh hay kỳ nghỉ hoàn toàn không có dưới thời chủ tịch Mao Trạch Đông. Mọi thứ đều tập trung xung quanh nhà máy và đơn vị lao động. Người ta làm việc sáu ngày mỗi tuần ».
Trong giai đoạn mở cửa và cải cách do Đặng Tiểu Bình khởi xướng vào năm 1978, người Trung Quốc dần quan tâm tới lĩnh vực giải trí và du lịch. Cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 đã khơi thức nhu cầu khẩn cấp thúc đẩy tiêu thụ, mà lĩnh vực vui chơi giải trí đóng một phần quan trọng.
Năm 1999, người Trung Quốc cũng được hưởng nhiều ngày nghỉ hơn nhờ « ba tuần vàng », thực tế là ba ngày nghỉ lễ của các dịp Quốc tế Lao động, Quốc khánh Trung Quốc và Tết nguyên đán. Sau này, ba ngày nghỉ dịp Quốc tế Lao động bị hủy vì lượng người đi lại trong các dịp này tăng quá cao.
Thời gian nghỉ này là cơ hội cho người dân đi mua sắm và du lịch. Thế nhưng, chỉ bộ phận công chức, nhân viên các doanh nghiệp lớn mới được hưởng trọn vẹn nhịp độ lao động hiện đại và các thú vui giải trí. Người dân ở khu vực nông thôn, hoặc người từ nông thôn lên thành thị lao động, chiếm khoảng 50% dân số, ngậm ngùi về quê mỗi năm một lần vào dịp Tết nguyên đán.
Với những người may mắn được đi nghỉ, tác giả ghi nhận những sinh hoạt đa dạng của họ tùy theo lứa tuổi. Họ không thích tắm biển bằng các môn thể thao mùa đông hay đi cắm trại hoàn toàn không được quan tâm. Giới trẻ thích du lịch một mình, thử các môn thể thao mạo hiểm hay đi xe đạp xuyên đất nước. Ngoài ra, còn có du lịch « đỏ », đi theo bước chân của chủ tịch Mao. Loại hình này chủ yếu thu hút thế hệ ngoài 60 tuổi hoặc các cơ quan hành chính còn quan tâm tới ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản.
Kỳ nghỉ cũng đồng nghĩa với du lịch nước ngoài. Tác giả hài hước nhận xét, nhiều khách du lịch Trung Quốc trong giai đoạn đầu khám phá, hay đúng hơn chỉ đứng chụp ảnh trước những công trình hay phong cảnh. Họ cố gắng tham quan hoặc chụp hình càng nhiều càng tốt trong khoảng thời gian ngắn nhất.
Làn sóng khách du lịch tràn sang châu Âu theo một hình thức chung : khách du lịch ngủ tại các khách sạn bình dân (thường ở ngoại ô), di chuyển bằng xe ca (thường vào ban đêm) từ thủ đô này sang thủ đô khác và chỉ ăn uống tại các nhà hàng Tàu được chọn trước đó. Những khách du lịch này hạn chế tối đa các khoản chi phí cho đi lại, khách sạn hay ăn uống và chỉ dành tiền để mua hàng hiệu, mục đích của chuyến đi.
Tuy nhiên, phản hồi về khách du lịch Trung Quốc gây sốc. Cho dù chi bộn tiền cho mua sắm, họ vẫn thường bị gắn với hình ảnh mất lịch sự, nhà quê, ồn ào, khạc nhổ và vẽ bừa bãi lên các di tích văn hóa lịch sử. Đây là vấn đề thể diện quốc gia : chính phủ vừa công bố những quy định về thái độ của người đi du lịch ngoài biên giới đất nước. Thêm vài biện pháp kỷ luật và khách du lịch Trung Quốc sẽ… giống như những khách du lịch khác.
Điện Biên Phủ : tiếng chuông báo tử cho đế chế thuộc địa Pháp
Điện Biên Phủ là chủ đề cuối cùng trong loạt bài « Các trận chiến » của chuyên mục « Mùa hè của Le Figaro ». Đặc phái viên của nhật báo tại Điện Biên Phủ giúp độc giả hồi tưởng lại sự kiện này trong bài : « Điện Biên Phủ rung tiếng chuông báo tử cho đế chế thuộc địa Pháp ».
170 ngày chiến đấu, trong đó là 57 ngày sống trong địa ngục, đó là con số tác giả nêu lên để đánh dấu giai đoạn khốc liệt bắt đầu từ ngày 20 tháng 11 năm 1953 và kết thúc ngày 7 tháng 5 năm 1954. Tác giả bài phóng sự ngỡ ngàng khi quan sát lòng chảo, dài 16 km và rộng 6 km, và tự hỏi làm thế nào mà tướng Giáp có thể cho kéo được xe bọc thép và đạn dược lên tới đây.
Tướng Henri Navarre sử dụng chiến lược « con nhím » bằng cách chiếm lòng chảo Điện Biên và xây dựng một căn cứ quân sự để chặn đường từ Lào tới Việt Minh. Trong khi đó, tướng Giáp, người chiến thắng, so sánh « lòng chảo » Điện Biên như bát cơm, Việt Minh chiếm phần miệng và người Pháp ở đáy bát. Cuộc chiến khiến ít nhất 2 300 người chết bên phía Pháp và hơn 8 000 người bên phía Việt Minh. Trong số khoảng 10 863 tù binh, chỉ có 3 290 người quay lại. Kết cục bi thảm của cuộc chiến đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình đàm phán tại Hội nghị Genève.
Ngày nay, mọi thứ đều xanh ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Lúa gạo của vùng này nổi tiếng là một trong những loại ngon nhất Việt Nam. Thành phố đón nhận nhiều dân tộc thiểu số khác nhau với dân số lên tới 35 000 người, sống trong những tòa nhà cao tầng và xây dựng chắc chắn. Điện Biên Phủ còn được biết đến nhiều hơn nhờ loại hình du lịch « yêu nước ». Bảo tàng đầu tiên được xây dựng tại đây năm 1984 nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng. Một bảo tàng mới đang trong quá trình xây dựng.
Cựu thủ tướng Ý Berlusconi bị kết án
Điểm qua tình hình chính trị nước Ý, thông tin cựu thủ tướng nước này bị kết án tù vẫn nhận được sự quan tâm của báo chí Pháp. Số cuối tuần báo Le Monde đăng bài « Berlusconi bị kết án, nhưng vẫn trên đài chính trị ». Tờ báo nhận định, sau hai mươi năm rơi vào vòng lao lý, cựu thủ tướng ngã ngựa vì tội trốn thuế. Song có lẽ ông sẽ thoát khỏi án tù và vẫn giữ được ảnh hưởng của mình.
Nhật báo kinh tế Les Echos đăng tin : « Ý : số phận của Berlusconi làm lung lay tầng lớp chính trị ». Các nghị sĩ Đảng PDL của Berlusconi dọa từ chức để phản đối phán xét. Theo luật pháp Ý, những người bị kết án tù sẽ không được phép ứng cử vào nghị viện trước thời hạn sáu năm. Ngoài ra, ông phải trả lại hai hộ chiếu : một do bộ Nội vụ cấp và một hộ chiếu ngoại giao do Bộ ngoại giao cấp khi ông còn điều hành chính phủ. Đảng Dân chủ và Đảng M5S có lẽ là những người hài lòng nhất vì loại được Berlusconi khỏi Thượng nghị viện.
Tuần báo Aujourd’hui en France đưa tin « Tương lai chính trị của Berlusconi bị treo ». Cùng ý kiến với đồng nghiệp Les Echos, tờ báo nhận định việc cựu thủ tướng bị kết án đã gây nên sóng gió chính trị tại Ý. Tờ báo cũng chia sẽ ý kiến với Le Monde cho rằng dù có giã từ sự nghiệp chính trị, ảnh hưởng của ông vẫn còn lớn. Dù tòa án có kết tội và cấm ông ứng cử, song ông vẫn có thể kết thúc nhiệm kỳ nghị viên của mình vào năm 2018. Việc buộc ông từ chức nghị viên sẽ phụ thuộc vào Thượng nghị viện.
 
tags: Châu Á - Hàn Quốc - Hoa Kỳ - Điểm báo
 
http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130803-ngoai-le-van-hoa-han-quoc-cham-dut

woensdag 12 december 2012

Văn hóa đi trước kinh tế

Văn hóa đi trước kinh tế
Tuesday, December 11, 2012 5:24:22 PM



 





Ngô Nhân Dụng

Chế độ cộng sản cuối cùng sẽ chấm dứt. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc.
Khí thế của người dân qua các cuộc biểu tình đòi chấm dứt tham nhũng, lạm quyền ở Trung Quốc mỗi năm xẩy ra hàng trăm ngàn vụ; và các cuộc biểu tình đòi chấm dứt thái độ nhu nhược trước ngoại xâm hoặc hệ thống tham nhũng lạm quyền cướp đất ngày càng gia tăng ở Việt Nam; cho thấy quá trình suy sụp của chế độ cộng sản đã bắt đầu rồi. Cuối cùng đảng cộng sản ở cả hai nước sẽ phải chịu thua dân. Việc lật đổ một chính quyền thối nát là điều cần thiết. Nhưng sau đó, công việc quan trọng và khó khăn hơn nhiều, là đưa quốc gia tiến tới trên con đường phát triển.
Năm 1986 dân chúng Manila đã thành công, lật đổ Tổng Thống Ferdinand Marcos. Người dân Philippines đã đòi lại quyền quyết định vận mạng của mình. Cuộc cách mạng tạo được một khí thế mới trong lòng người dân; hơn mười năm sau dân Manila còn biểu tình nhiều lần nữa. Họ đã thúc đẩy, bắt buộc guồng máy chính quyền phải công khai minh bạch hơn, các cuộc bầu cử cấp địa phương và toàn quốc cũng sạch sẽ hơn.
Dân chúng biểu tình cũng có thể lật đổ cả chế độ; không những thay thế nhóm người cai trị mà còn tạo nên một cơ cấu mới và cung cách mới khi sử dụng quyền hành.
Nhu trong các cuộc Cách Mạng Nhung năm 1989; hoặc Mùa Xuân Á Rập vào năm ngoái.
Người dân Philippines, dân Ba Lan, dân Tiệp đã tiến xa hơn việc thay đổi chế độ hoặc thay đổi chính quyền. Thành công quan trọng nhất là sau đó các nước này đã bắt đầu phát triển kinh tế. Quá trình này từng diễn ra ở Á Ðông trong những thập niên 1970-1980. Trong những năm đó, sinh viên và công nhân đình công, bãi khóa ở Nam Hàn; và các nhóm chính trị đối lập vận động xuống đường ở Ðài Loan đòi chấm chấm dứt các độc quyền kinh tế. Những chế độ độc tài ở hai nước này phải nhượng bộ, bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, và sau đó nền kinh tế cất cánh, tiếp tục phát triển từ đó tới nay.
Liệu người dân các nước Ai Cập, Tunisie, Lybia, sau khi được giải phóng có thể thực hiện được những bước tiến như Nam Hàn và Ðài Loan hay không? Phải chờ khoảng mười năm, hai mươi năm nữa mới biết được kết quả. Thay đổi thể chế chính trị, thay đổi chính sách kinh tế; đó là những điều kiện cần thiết đặt nền móng cho công cuộc phát triển. Nhưng các phép lạ kinh tế ở Á Ðông còn có thêm một yếu tố khác thúc đẩy. Vì trong thời gian đó, tại các nước này văn hóa cũng hồi sinh. Những phong trào phục hưng văn hóa bắt đầu khi người dân một nước phát khởi một niềm tự hào vào quá khứ, một niềm tin tưởng vào tương lai, tạo nên khí thế tinh thần mạnh mẽ. Phát triển không phải chỉ là một hiện tượng kinh tế.
Từ đầu thế kỷ 20, ở nước ta Phan Châu Trinh đã thúc giục đồng bào phải nâng cao dân trí và phấn chấn dân khí. Tới nay, chúng ta vẫn chưa thực hiện được những mục tiêu đó. Trong khung cảnh hiện nay, hai công việc đó còn khẩn thiết nhiều hơn nữa. Nước ta đang chạy đuổi sau chân các nước đã phát triển ở vùng Á Ðông, đang cố gắng làm sao có thể phát triển lên ít nhất ngang với họ?
Phân tích quá trình phát triển ở thế giới thứ ba (Third-World Development, 1989), Giáo Sư Nguyễn Quốc Trị đã thấy việc phát triển thành công hay thất bại tùy thuộc mối tương quan chính trị giữa người dân và chính quyền. Nếu giới lãnh đạo được dân tin cậy và chấp nhận, thì quốc gia sẽ phát triển nhanh hơn. Nhưng mối tương quan đó lại tùy thuộc những giá trị tinh thần, thuộc phạm vi văn hóa. Nguyễn Quốc Trị, nguyên viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhấn mạnh việc “phục hưng văn hóa” là một “nhu cầu tuyệt đối” để các nước nghèo có thể xây dựng những định chế chính trị được dân chúng tin cậy, dựa vào đó kinh tế có thể phát triển. Ông khẳng định, “Không một xã hội nào có thể tồn tại nếu thiếu một nền tảng tinh thần.” Ông đã minh chứng với các trường hợp Nam Hàn và Singapore; cả hai thành công trong quá trình phát triển nhờ họ biết phục hoạt các giá trị truyền thống, điều hợp với những giá trị mới tiếp thụ từ Tây phương.
Theo Nguyễn Quốc Trị điều đáng lo nhất đã làm các quốc gia nghèo thất bại trong việc phát triển là tình trạng suy sụp về tinh thần. Mọi người hết tin tưởng vào nhau vì các giá trị nền tảng đã tan rã. Nền tảng xã hội suy đồi vì hệ thống các giá trị, định chế cổ truyền bị gạt bỏ, mà chưa có những giá trị mới để lấp vào khoảng trống đó. Chất keo văn hóa trong quá khứ từng gắn bó mọi người trong một mạng lưới gồm quyền lợi và nghĩa vụ, đã biến mất. Trong khi đó, người ta chưa tập được để sống với những giá trị và định chế phù hợp với cơ cấu kinh tế mới. Những điều tệ hại từng bị đè nén trong nếp sống cũ nay được thả lỏng, có cơ hội nẩy sinh. Người ta lại du nhập những biến chứng xấu nhất vẫn đi kèm theo hệ thống kinh tế tư bản thời sơ khai. Lớp người cai trị chỉ lo củng cố quyền hành và tạo thêm cơ hội trục lợi; còn người dân bị trị thì trở thành thụ động, sợ sệt, hoặc thờ ơ, chỉ biết lo cho cá nhân và gia đình mình.
Trong nền văn hóa các nước Á Ðông ngày xưa, truyền thống tôn trọng quyền hành vẫn đi kèm với tinh thần trách nhiệm của người nắm quyền; xã hội thấm nhuần một niềm tin tưởng hỗ tương, tạo nên một thế cân bằng, bình trị trong nhiều thế kỷ. Xã hội suy đồi khi người ta chỉ giữ lại và đề cao thói quen kính trọng quyền hành mà bỏ qua những trách nhiệm tương ứng, quyền hành không bị giới bạn bằng luật pháp và các định chế lập cân bằng. Khi đó quyền bính được biến thành một khí cụ để trục lợi; rồi lợi lộc lại được sử dụng để mua chuộc người khác nhằm củng cố quyền bính. Bản hợp đồng xã hội truyền thống bị xóa đi, đưa tới một xã hội phi luân lý (anomie), thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ.
Các nước nghèo thất bại trên đường phát triển vì thiếu những nền tảng văn hóa. Ðời sống kinh tế có thể thay đổi rất nhanh, còn văn hóa thì chuyển biến rất chậm. Khi du nhập lối làm kinh tế tư bản thì người ta sử dụng lợi lộc và lòng tham như động cơ thúc đẩy. Dần dần, việc kiếm tiền được đề cao như một giá trị, người có tiền được kính trọng, tư lợi trở thành mục tiêu chính trong đời. Những giá trị cổ truyền trước kia vẫn dùng để kiềm chế lòng tham và óc vị kỷ đã tan loãng trong khung cảnh kinh tế mới chỉ biết trục lợi.
Trong khi đó, xã hội chưa đủ thời giờ tạo được những thói quen tôn trọng luật pháp và tôn trọng các ý kiến bất đồng. Chưa đủ thời giờ tập luyện cung cách sống dân chủ. Mà đó là những nền tảng văn hóa ra đời và phát triển cùng với kinh tế tư bản ở Âu Châu. Hậu quả của tình trạng trống rỗng văn hóa này là óc duy lợi, duy vật, vị kỷ và các thủ đoạn gian trá được thả lỏng sinh sôi nẩy nở. Người ta không còn bị ràng buộc bởi các quy tắc đạo lý, dù cũ hay mới; mà các ràng buộc bằng pháp luật lại chưa được thiết định hoặc chưa trở thành thói quen. Như Mạnh Tử mô tả, khi người trên không có đạo lý nào để theo, người dưới không có luật lệ nào ràng buộc (thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ), thì một quốc gia khó tồn tại được. Niềm tín nhiệm chung giữa người với người, là chất keo sơn gắn liền xã hội, dần dần bị xoi mòn. Người cầm quyền không hy vọng được dân tin theo mà khuất phục, cho nên phải dùng bạo lực đe dọa, hoặc dùng lợi lộc để mua chuộc, vì họ không có cách nào khác. Niềm tín nhiệm chung mất, xã hội tan rã nhanh hơn. Tình trạng trống rỗng văn hóa là lý do khiến nhiều nước nghèo trong thế giới thứ ba thất bại trên con đường phát triển. Nguyễn Quốc Trị đã nêu ra các nhận xét trên trước năm 1989, hơn 20 năm sau chúng ta vẫn còn chứng kiến nhiều nước đang sống trong tình trạng khủng hoảng văn hóa; trong đó có nước Việt Nam.
Muốn phát triển trong thế kỷ này, cần xây dựng một niềm tin tưởng chung, một niềm tin được mọi người Việt Nam cùng nhau chia sẻ. Tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc thì mới sẵn sàng dấn bước tới tương lai. Năm 1945 đã nổi lên một phong trào phục hoạt văn hóa khi toàn dân nức lòng cùng theo đuổi một mục tiêu giành độc lập, ai ai cũng tin tưởng vào khả năng xây dựng tương lai độc lập, tự do, hạnh phúc. Cơ hội đó đã bỏ mất khi lầm lẫn chỉ đề cao những chia rẽ, đối nghịch, người Việt coi người Việt là kẻ thù. Muốn xây dựng tương lai, phải bắt đầu với một phong trào văn hóa hồi sinh; để mọi người Việt Nam có thể chia sẻ một niềm tin tưởng và một mối hy vọng. Tin vào khả năng dũng mãnh của dân tộc có thể vượt qua mọi chướng ngại. Tin vào khả năng tiếp thụ và chuyển hóa các giá trị của văn minh nhân loại. Chúng ta tin là dân tộc Việt không bao giờ chịu thua.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=158967&zoneid=7