Posts tonen met het label Trung Hoa. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Trung Hoa. Alle posts tonen

maandag 29 augustus 2016

Trường An (Tây An, tỉnh Thiểm Tây-Shaanxi, Trung Quốc) : Kinh đô của 10 triều đại Trung Hoa

Trường An: Kinh đô của 10 triều đại Trung Hoa

  • 26 tháng 2 2015
Image copyright thinkstock
Là thủ phủ của tỉnh Thiểm Tây, lịch sử hàng ngàn năm của Tây An được người hướng dẫn du lịch của chúng tôi nói ví von như sau: “Nếu Tây An là ông bà thì Bắc Kinh chỉ là một thanh niên mới lớn còn Thượng Hải mới là đứa bé nằm trong bụng mẹ.”

Cố đô đầu tiên

Đây là kinh đô đầu tiên trong số bốn kinh đô cổ đại của Trung Quốc, gồm Tây An, Lạc Dương, Nam Kinh và Bắc Kinh.
Thành phố Tây An hàng ngàn năm tuổi là kinh đô Trường An của 10 triều đại, trong đó nổi tiếng nhất là nhà Hán và nhà Đường. Trong suốt thời kỳ này, Tây An là một đô thị phát triển, có vai trò tương tự như Rome của La Mã.
Tuy nhiên, sau khi nhà Đường suy vong, kinh đô Trung Quốc được dời về Lạc Dương ở phía đông vào năm 904. Mặc dù Tây An vẫn là điểm đầu phía đông của con đường tơ lụa nhưng nó không bao giờ lấy lại được vị thế chính trị và văn hóa của mình.
Qua nhiều năm, nó trở thành một thành phố tỉnh lẻ, bao quanh là những nông trang khô cằn. Những công trình kiến trúc cổ, những tự viện và chùa chiền đã bị phá hủy nghiêm trọng trong sự tàn phá của cuộc Cách mạng Văn hóa từ năm 1966 đến năm 1976.
Image copyright thinkstock
Mãi cho đến năm 1974, sau khi những người đào giếng tình cờ phát hiện ra đội quân đất nung thì Tây An một lần nữa lại nổi lên trên bản đồ quốc tế.
Ba thập niên sau, thành phố này đã trở thành một trung tâm gia công phần mềm và thực hiện dịch vụ cho các nơi khác; chính quyền địa phương cũng đã đổ tiền của vào để phát triển du lịch.
Các công trình cổ và các viện bảo tàng được khôi phục. Người ta cũng phục dựng các di sản Phật giáo và các công trình từ thời Đường để cho người dân Trung Quốc hiểu được di sản của cha ông họ.
Một trong những công trình này là Đại Nhạn Tháp – ngôi chùa linh thiêng nhất ở Tây An – do Đường Tăng, vị hòa thượng đã 18 năm rong ruổi đến xứ Thiên Trúc ở Ấn Độ để thỉnh kinh, xây dựng vào năm 652.
Hồi năm 1966, Hồng vệ binh đã thiêu hủy các kinh văn, các bức tranh lụa treo tường và các cổ vật khác trong một đám cháy lớn kéo dài suốt đêm.
Nhưng giờ đây, người ta gần như đã quên lãng sự tàn phá đó và các du khách vẫn kéo về ngôi chùa đã được trùng tu trong thời gian gần đây với những đền và điện thờ Đức Phật. Di tích nguyên thủy còn lại là ngôi tháp bảy tầng được thắp sáng hằng đêm và nổi bật trên nền trời thành phố.

Công viên chủ đề

Image copyright thinkstock
Tây An cũng tự hào với những công trình có từ thời Đường với công viên chủ đề Nhà Đường rộng 165 mẫu được du khách lui tới thường xuyên.
Mặc dù tất cả những kiến trúc trong công viên này đều là phục dựng nhưng nó rất thẩm mỹ với quang cảnh các hồ nước, các khu vườn, các cây cầu và các đền đài lầu các.
Ngồi trên một chiếc xe chơi golf đi hết khu công viên rộng lớn này, bạn có thể lên xuống xe ở đâu tùy thích để xem diễn tuồng từ thời Đường hay xem múa hát trên hồ hay chiêm ngưỡng những thác nước nhân tạo công phu và tượng các nhân vật lịch sử, các bậc thánh hiền và các thi nhân.
Đi 36 cây số về phía đông bắc các bạn sẽ đến danh thắng nổi tiếng nhất ở Tây An: Đội quân đất nung.
Vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh đắp đội quân này vào năm 221 trước Công nguyên. Ông đã huy động số phu 70 vạn người để tạo ra đội quân canh giữ lăng mộ.
Khách viếng thăm chỉ có thể thấy được một phần nhỏ của đội quân dưới lòng đất đã được khai quật này (chỉ khoảng 1.900 trong số 7.000).
Mộ của Tần Thủy Hoàng vẫn chưa được khai quật nhưng các nhà khoa học đang thăm dò xem trong đó có gì, bằng cách dùng các công nghệ cảm ứng từ xa.
Họ tin rằng trong mộ Tần Thủy Hoàng còn có những thứ còn vĩ đại hơn đang chờ được khám phá, trong đó có tượng đất nung đội ngũ hầu hạ lao dịch, các cỗ xe ngựa bằng đồng và những thứ khác mà vị hoàng đế này cho rằng mình sẽ cần ở thế giới bên kia.
Image copyright Thinkstock
Trở lại Tây An, đi qua những vườn đào và vườn lựu gần đến thành phố thì quang cảnh đầy những tòa nhà chọc trời.
Bức tường cổ chạy dài không dứt bao quanh thành phố là một trong những hệ thống phòng thủ cổ đại lớn nhất trên thế giới.
Được bắt đầu xây dựng dưới thời Đường và sau đó được Chu Nguyên Chương, vị vua khai quốc của triều Minh, mở rộng, bức tường đá này kéo dài hơn 13,7 cây số và là bức tường thành còn nguyên vẹn nhất vẫn còn tồn tại ở Trung Quốc.
Các giai đoạn trùng tu giúp tường thành được bảo quản rất tốt và du khách có thể vào thăm ở nhiều cổng khác nhau mặc dù Nam Môn là cửa lớn nhất và dễ vào nhất.
Leo lên những bậc thang cao bằng đá và đi bộ hay đạp xe trên tường thành, bạn sẽ có thể ngắm nhìn thành Tây An trải rộng dưới tầm mắt.
Bản tiếng Anh bài này đã được đăng trên BBC Travel.

Tin liên quan

dinsdag 9 augustus 2016

Bằng chứng khoa học về 'Hạ Vũ trị thủy' : Trận lụt khủng khiếp..."đại hồng thuỷ" cao 50m trên sông Hoàng Hà, thời cổ đại Trung Hoa 4 ngàn năm trước

Bằng chứng khoa học về 'Hạ Vũ trị thủy'?

  • 5 tháng 8 2016
Image copyright Wu Qinglong
Image caption Trận lụt xảy ra sau một trận đất lở gây ảnh hưởng tới sông Hoàng Hà ở đoạn Hẻm Tích Thạch
Các nhà địa chất học tìm được bằng chứng cho thấy từng xảy ra trận lụt khủng khiếp thời cổ đại, mà họ nói là phù hợp với truyền thuyết đại hồng thủy trong thời khởi thủy triều đại đầu tiên của Trung Quốc.
Huyền thoại Đại quan Thủy đế Hạ Vũ kể rằng Hạ Vũ đã chế ngự được dòng sông Hoàng Hà hung hãn bằng cách nạo vét lòng sông và nắn dòng chảy, qua đó tạo nền móng xây dựng triều nhà Hạ và nền văn minh Trung Hoa.
Trước đó, không có bằng chứng khoa học nào từng được tìm thấy về việc có xảy ra trận lũ lụt khủng khiếp đó.
Nhưng nay, một nhóm nghiên cứu do người Trung Quốc dẫn đầu đã vừa phát hiện được một sự kiện như vậy, xảy ra vào khoảng năm 1.900 trước Công nguyên.
Viết trên Tạp chí Khoa học, các nhà nghiên cứu mô tả về một sự kiện ghê gớm, dữ dội xảy ra, gây lở đất và tạo thành một con đập khổng lồ sụt xuống ở Hẻm Tích Thạch, làm chặn dòng chảy của sông Hoàng Hà trong thời gian từ sáu tới chín tháng.
Khi vỡ đập, có tới khoảng 16km khối nước tràn xuống hạ lưu.
Bằng chứng về hậu quả của những sự kiện này được thu thập từ những lớp trầm tích còn lại ở hồ chứa nước nằm cao hai bên Hẻm Tích Thạch, cũng như những gì còn sót lại dọc theo dòng chảy tới vài km sau trận lũ.
Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sỹ Ngô Thanh Long từ Đại học Sư phạm Nam Kinh nói ông và các đồng nghiệp đã tình cờ tìm được các mẫu trầm tích khi đi khảo sát hồi 2007.
"Nó khiến chúng tôi liên tưởng tới khả năng có trận lụt lớn, dẫn tới việc địa điểm thời tiền sử Lạt Gia cách đó 25km về phía hạ lưu bị bỏ hoang," ông nói với các phóng viên trong một cuộc trao đổi qua cầu truyền hình.
"Nhưng khi đó, chúng tôi không nghĩ ra là bằng chứng về vụ lụt lội khủng khiếp sẽ là gì."
Lạt Gia, nơi nổi tiếng về món mỳ cổ nhất thế giới, được biết đến như Pompeii của Trung Quốc.
Ở đây, hang động nơi vốn được dùng làm nhà ở và những đồ tạo tác văn hóa đã bị chôn vùi trong một trận động đất lớn.
"Hồi tháng Bảy 2008, tôi đột nhiên nhận ra là cái thứ được gọi là cát đen trước đó được các nhà khảo cổ tìm thấy ở Lạt Gia trên thực tế có thể là phần trầm tích từ trận lụt khủng khiếp mà chúng tôi nghiên cứu," Tiến sỹ Ngô nói.
Image copyright Wu Qinglong
Image caption Các nhà nghiên cứu tìm thấy lớp trầm tích có từ thơi xảy ra trận lụt thời cổ đại tại lưu vực Quan Đình, gần Lạt Gia
"Việc điều tra tiếp theo xác nhận điều này, và nó cho thấy các trầm tích từ trận lụt khủng khiếp dày tới 20m và nằm ở độ cao tới 50m cao hơn sông Hoàng Hà, những dấu hiệu cho thấy đó là một trận lụt cuồng nộ chưa từng thấy."
Ông và các đồng nghiệp nói trong bài viết của mình rằng có lẽ chính trận động đất phá hủy Lạt Gia đã gây tác động tới phần thượng nguồn dòng chảy.
Chỉ chưa đầy một năm sau đó, dòng nước đã báo thù bằng một cơn thịnh nộ.
"Nước dâng cao tới 38m so với mức sông thời hiện đại," một trong các đồng tác giả, Tiến sỹ Darryl Granger từ Đại học Purdue tại Hoa Kỳ nói.
"Dòng nước lũ chảy với tốc độ khoảng 300-500 ngàn mét khối nước một giây, tức là tương đương với trận lụt ghê gớm nhất từng được ghi nhận trên sông Amazon. Nó là một trong những trận lụt lớn nhất từng xảy ra trên Trái Đất trong suốt 10 ngàn năm qua."

'Chỉ nhờ sự may mắn cực kỳ'

Sử dụng kỹ thuật carbon để nghiên cứu các chất trầm tích từ trận lụt và thậm chí nghiên cứu cả các mảnh xương còn sót lại từ các nạn nhân trận động đất Lạt Gia, các nhà nghiên cứu xác định được thời xảy ra trận lụt là vào năm 1922 trước Công nguyên, "trên dưới thời điểm đó khoảng 28 năm", Tiến sỹ Granger nói.
Nếu như trận lụt quả đúng là nguồn gốc cho câu chuyện thần thoại Hạ Vũ, thì triều nhà Hạ có thể đã được lập ra trong vòng vài thập niên quanh thời điểm đó, khoảng năm 1900 trước Công nguyên.
Thời điểm này muộn hơn 200-300 năm so với các ước tính trước kia.
Nhưng câu chuyện thần thoại về Hạ Vũ thì khó xác định chính xác nếu dựa vào các nguồn truyền thống vốn có từ thời tiền sử; câu chuyện được truyền miệng qua hàng ngàn năm, với thời điểm được chính thức ghi nhận trong sách vở là khoảng năm 1000 trước Công nguyên.
Mặt khác, nếu khoảng thời gian quanh năm 1900 trước Công nguyên được cho là thời điểm hình thành nhà Hạ thì điều này củng cố cho lập luận theo đó nói triều đại đầu tiên này ra đời trùng với thời kỳ con người chuyển từ Kỷ Đồ Đá sang Kỷ Đồ Đồng.
Một số nhà khảo cổ đã liên hệ triều nhà Hạ với nền văn hóa Nhị Lý Đầu, là thời đầu của Kỷ Đồ Đồng được tìm thấy tại thung lũng sông Hoàng Hà.
Image copyright Cai Linhai
Image caption Công nghệ carbon được sử dụng để nghiên cứu các mẫu xương thu được từ công tác khảo cổ địa điểm Lạt Gia
Tiến sỹ David Cohen từ Đại học Quốc gia Đài Loan, một đồng tác giả khác, nói rằng nghiên cứu này là một thành quả đáng kể, bởi đã có những bằng chứng khác nhau được xem xét.
"Chúng tôi có bằng chứng địa chất về trận lụt khủng khiếp, mà bản thân bằng chứng đó đã là rất kỳ diệu rồi," ông nói.
"Nhưng lại còn thêm sự trùng hợp với chuyện khu vực Lạt Gia bị phá hủy - khiến chúng tôi có thể xác định được rất chính xác niên đại... và chuyện trận lụt xảy ra ở quy mô lớn như vậy trên dòng Hoàng Hà, cả hai đều xảy ra vào thời đầu nền văn minh Đồ Đồng, rồi bản thân câu chuyện truyền thuyết về trận đại lũ lụt nữa."
"Đó thật là một câu chuyện kỳ diệu. Tất cả những cách tiếp cận khác nhau này đều được áp dụng - thật là một sự may mắn cực kỳ."

Độ tin cậy

Giáo sư David Montgomery từ Đại học Washington là nhà địa mạo học. Ông rất quan tâm tới những bí mật mà đất đá có thể nói cho chúng ta biết về những thần thoại, truyền thuyết xưa.
Ông không tham gia vào cuộc nghiên cứu, nhưng đã viết bài bình luận cho tạp chí khoa học, và đã tranh luận về kết quả tìm được trong chương trình khoa học của BBC Thế giới vụ.
Trong số những huyền thoại về đại hồng thủy trên thế giới, Giáo sư Montgomery nói, câu chuyện về Hạ Vũ khá lạ lùng.
"Nó không kể về việc sống sót. Câu chuyện kể ông ấy làm cạn dòng nước, về kỹ thuật kiềm chế dòng sông."
Câu chuyện về Hẻm Tích Thạch là câu chuyện đáng tin, ông nói, nhất là bởi nó mô tả về một trận lụt gây vỡ bờ sông Hoàng Hà xuống tận hạ nguồn và rồi về việc tái nắn dòng chảy.
Giáo sư Montgomery nói đó là chuyện phải mất hàng chục năm mới xử lý được, và là một trận chiến lâu dài chống lại dòng nước, được lưu truyền trong huyền thoại Hạ Vũ.
"Rất khó để chứng minh được nguồn gốc những sự kiện lịch sử được kể lại từ xa xưa. Nhưng chúng tạo ra một trường hợp rất thú vị, khiến tôi tin rằng các nhà địa chất học sẽ tiếp tục đào xới, điều tra, tranh luận, bởi đó là điều chúng tôi làm."
Xét ở mức địa chất thuần túy, ông nói thêm, thì trận lụt là một phát hiện to lớn và hấp dẫn.
"Nhưng sự kết nối văn hóa - có lẽ điều này giải thích cho nguồn gốc câu chuyện lũ lụt của Trung Quốc - là điều quá hấp dẫn khiến không thể bỏ qua."

Tin liên quan

maandag 21 maart 2016

Quá trình tịnh thân của thái giám Trung Hoa + Hoạn quan cuối cùng tiết lộ bí mật hoàng cung

Thứ năm, 10/3/2016 | 07:32 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ năm, 10/3/2016 | 07:32 GMT+7

Quá trình tịnh thân của thái giám Trung Hoa

Để trở thành những người đàn ông hầu hạ vua chúa và phi tần trong cung, thái giám phải trải qua quá trình tịnh thân, tức cắt bỏ bộ phận sinh dục, vô cùng đau đớn.
qua-trinh-tinh-than-cua-thai-giam-trung-hoa
Tượng đá mô tả quá trình tịnh thân, hay còn gọi là cắt bỏ bộ phận sinh dục nam ở Trung Quốc. Ảnh: Morning Post
Theo Morning Post, sử sách Trung Quốc ghi rằng, những người đàn ông hầu hạ trong cung vào trước đời nhà Tần (trước năm 221 TCN) và Tây Hán (202 TCN - 8) không nhất thiết phải là hoạn quan. Từ thời Đông Hán (25-220) trở đi, họ mới bị ép phải cắt bỏ bộ phận sinh dục, trở thành hoạn quan nhằm tránh phát sinh quan hệ với phụ nữ chốn cung đình.
Xuất thân của thái giám có thể là những người tự nguyện, người bị phạt, bị cống nạp, thậm chí bị lừa bán. Trải qua quá trình tuyển chọn, họ bị ép phải tịnh thân mới chính thức trở thành thái giám.
Thời cổ đại, có hai nơi chuyên phẫu thuật tịnh thân cho nam giới là "Nội vụ phủ" trong cung và "Cơ sở chuyên tịnh thân" bên ngoài. Dưới triều Thanh, "Thận Hình Ti" là tên gọi để chỉ bộ phận trong cung chuyên thực hiện quá trình này.
Tịnh sư là tên gọi của những người hành nghề tịnh thân. Đây là nghề hái ra tiền bởi quá trình thực hiện vô cùng đau đớn và tỉ lệ tử vong rất cao, đòi hỏi kỹ thuật cao.
Loại dao chính dùng để cắt bỏ bộ phận sinh dục làm từ hợp kim vàng và đồng để tránh nhiễm trùng, trước khi sử dụng phải hơ qua lửa để sát trùng. Ngoài ra, người thực hiện còn kết hợp sử dụng một số loại dao khác.
Quá trình tịnh thân đòi hỏi phải chọn lựa thời tiết bởi nền y học cổ đại còn khá kém, chưa tìm ra loại thuốc sát trùng hiệu quả. Chính vì vậy, người ta thường tiến hành quá trình này vào cuối xuân đầu hạ, khi mà khí hậu ôn hòa và gần như không có ruồi muỗi.
qua-trinh-tinh-than-cua-thai-giam-trung-hoa-1
Bộ dao được sử dụng trong phẫu thuật tịnh thân. Ảnh: QQ
Trước khi bắt đầu, người tịnh thân và tịnh sư sẽ phải ký một bản cam kết trước sự có mặt của người làm chứng. Bản cam kết sẽ ghi rõ người tịnh thân hoàn toàn tự nguyện, bất chấp mọi rủi ro hay tử vong sau tịnh thân. Người tịnh thân cũng phải nộp một khoản phí nhất định. Đa số những người này đều xuất thân nhà nghèo nên phải xin trả dần từng năm sau khi nhập cung.
Vài ngày trước khi phẫu thuật, người tịnh thân không được ăn uống để tránh đại tiểu tiện gây nhiễm trùng. Khi ở trên giường phẫu thuật, tịnh sư không gây tê cho bệnh nhân mà chỉ rửa sạch bộ phận sinh dục của họ bằng canh ớt nóng.
Theo cuốn sách "Cuộc sống cung đình Trung Quốc", trước khi tiến hành tịnh thân một đứa trẻ trở thành thái giám, tịnh sư sẽ lấy một quả trứng gà đã bóc vỏ nhét vào miệng nó, chặn ở cuống họng khiến nó không thể kêu thành tiếng mới bắt đầu hành sự.
Do cơ quan sinh dục vẫn có khả năng phát triển hoặc mọc dài ra, thái giám sau khi nhập cung sẽ được kiểm tra cơ thể mỗi năm một lần. Quá trình này được gọi là kiểm tịnh. Không ít thái giám có mùi khai trên người do tịnh thân chưa chuẩn, khiến nước tiểu rỉ ra.
Người tịnh thân xong sẽ không lộ yết hầu, giọng nói lảnh lót, cử chỉ động tác như đàn bà. Ngoài những thay đổi rõ nét về mặt sinh lý, họ còn dần biến đổi về mặt tâm lý. Họ mất đi bản năng tình dục, cảm thấy cuộc đời mình dường như kết thúc, chẳng còn bất cứ ý nghĩa thực tế nào nữa.
Chính vì vậy, họ thường sống với thái độ tiêu cực, thậm chí còn chủ động từ bỏ kế hoạch, lý tưởng và động lực cố gắng của bản thân. Phần lớn các thái giám thời xưa đều trải qua cuộc sống trầm mặc như vậy. Tuy nhiên, một khi có nhiều tiền hoặc nắm chút quyền hành nào đó trong tay, họ sẽ không còn sống trong lặng thầm nữa mà trở nên tham lam, độc ác và tàn nhẫn.
Nhiều người cảm thấy rất khó hiểu về những câu chuyện thái giám lấy vợ. Tuy nhiên, học giả Nhật Bản Terao Yoshio đã nghiên cứu vấn đề này và lý giải nó bằng "học thuyết tâm lý thoát khỏi tâm lý cô đơn" trong tác phẩm "Câu chuyện thái giám" của mình. 
Ông cho rằng, thái giám kết hôn để thoát khỏi tâm lý cô đơn, họ luôn phải chịu ánh mắt khinh thường của người đời nên việc tìm kiếm sự ấm áp từ người vợ cũng là điều dễ hiểu.
"Vợ" của các thái giám phần lớn là cung nữ. Cuộc sống chốn cung đình vốn cách biệt với thế giới bên ngoài nên chỉ cung nữ mới có thể gả cho thái giám mà thôi.
Hải Yến

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/cuoc-song-do-day/qua-trinh-tinh-than-cua-thai-giam-trung-hoa-3367262.html

Thứ hai, 16/3/2009 | 11:52 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ hai, 16/3/2009 | 11:52 GMT+7

Hoạn quan cuối cùng tiết lộ bí mật hoàng cung

Chỉ hai mảnh ký ức có thể khiến nước chảy trong đôi mắt già nua của Tôn Diệu Đình, thái giám cuối cùng của Trung Quốc: ngày người cha ông cắt bộ phận sinh dục của ông, và ngày gia đình ông vứt bỏ thứ sẽ giúp Tôn trở lại làm đàn ông khi xuống mồ.
Vị hoạn quan cuối cùng của Trung Quốc từng bị hành hạ trong nghèo đói khi còn trẻ, bị trừng trị trong cách mạng Văn hóa bởi là "nô lệ của hoàng đế", nhưng cuối cùng cũng được tôn trọng và thừa nhận, trở thành một tàn tích đặc biệt, một phần sống của lịch sử Trung Hoa.
Ông mang trong mình những câu chuyện về các nghi thức tàn khốc trong Tử Cấm Thành, về những giây phút cuối cùng của hoàng đế Phổ Nghi trong cung, về phiên tòa do người Nhật tổ chức những năm 1930. Từ khi rời cung, cuộc đời Tôn lọt thỏm trong cuộc chiến tranh, rồi trở thành một quan chức, sau đó lại bị đấu tố bởi những người cực tả, cuối đời mới được yên thân.
Tôn Diệu Đình những năm cuối đời, bên cạnh người viết tiểu sử của ông. Ảnh: LAT.
Tôn Diệu Đình những năm cuối đời, bên cạnh người viết tiểu sử của ông. Ảnh: LAT.
Đường đời gian truân của Tôn được ghi lại trong "Thái giám cuối cùng của Trung Quốc", do sử gia không chuyên Jia Yinghua thực hiện. Jia đã nhiều năm làm bạn với Tôn và nhớ đó biết được những bí mật đau đớn và thầm kín của Tôn - những điều quá khó để kể cho các nhà báo hay sử gia chính thức.
Mãi cho đến cuối đời Tôn mới được thừa nhận rằng ông chính là một phần còn sống động của lịch sử Trung Hoa. Cuốn tiểu sử, viết dựa trên hàng trăm giờ kể chuyện của Tôn trước khi ông qua đời năm 1996, mới đây đã được dịch sang tiếng Anh. Cuốn sách ra mắt trong dịp một nhà bảo tàng dành cho thái giám - xây dựng quanh mộ của một hoạn quan thế kỷ 16 - đang được trùng tu mở rộng. Tòa nhà dự kiến mở cửa trở lại vào tháng 5 này.  
Cuốn tiểu sử đã mở tấm màn che giấu nhiều bí mật và những chuyện cấm kỵ như cuộc sống tình dục của các thái giám và vị hoàng đế mà họ phụng sự; chuyện tịnh thân thường diễn ra ở nhà và thường gây chết người; sự hoang dâm và nỗi ô nhục đi kèm với lời hứa hẹn về quyền lực.
"Ông ấy rất băn khoăn về việc có nên kể những bí mật của hoàng đế hay không", Jia cho biết và giải thích thêm rằng Tôn rất trung thành với chủ cũ bởi ông ta đã dành quá nhiều phần của cuộc đời mình cho họ.
"Tôi là người duy nhất được ông ấy tin cậy. Ông ấy thậm chí không tin gia đình mình nữa, bởi họ đã vứt của quý của ông ấy đi", Jia nói thêm khi đề cập đến từ lóng mà các thái giám dùng để chỉ cơ quan sinh sản của họ, vốn được cất giữ cẩn thận sau khi cắt rời.
Nó đã bị vứt đi trong thời Cách mạng văn hóa 1966-76, bởi khi đó việc lưu giữ bất kỳ thứ gì của chế độ cũ đều có thể dẫn đến hậu quả chết nhiều người.
"Ông ấy chỉ khóc vì hai điều khi kể với tôi, chuyện bị tịnh thân và chuyện mất của quý", Jia nói. Sử gia không chuyên này làm viên chức ngành năng lượng, đã dành tất cả thời gian rỗi của mình để nghiên cứu những ngày cuối cùng của triều đại phong kiến Trung Quốc.
Trò đùa của số phận
Sau nhiều năm nghiên cứu, Jia thu thập nhiều chi tiết về mọi mặt của cuộc sống cung đình cùng những bí mật về cuộc sống tình dục của hoàng đế.
Suốt nhiều thế kỷ, ở Trung Quốc, chỉ những người đàn ông không thuộc hoàng thất và đã tịnh thân mới được làm việc ở các khu vực riêng tư trong Tử Cấm Thành. Họ đã đổi cơ quan sinh sản của mình lấy hy vọng được tiếp cận hoàng đế và nhờ đó có thể một ngày nào đó sẽ giàu có về của cải và quyền lực.
Gia đình nghèo khó của Tôn đã đưa ông đi trên con đường đau đớn và đầy nguy hiểm này, với hy vọng ông một ngày nào đó sẽ đủ mạnh để trở về bắt nạt một địa chủ trong làng - kẻ đã tước đoạt ruộng và đốt nhà Tôn.
Người cha tuyệt vọng của Tôn thực hiện việc hoạn con trai 8 tuổi của mình trên một chiếc giường, trong căn nhà vách đất, không hề có thuốc giảm đau và chỉ dùng tờ giấy thấm dầu để làm băng gạc. Một chiếc lông ngỗng được đưa vào niệu đạo của Tôn, đề phòng nó bị tắc khi vết thương lành dần.
Tôn bất tỉnh mất ba ngày, và trong vòng hai tháng sau đó không thể đi lại được. Cuối cùng, khi ông có thể tự đứng lên và rời giường, trò đùa quái ác đầu tiên của số phận bắt đầu: Tôn biết tin vị hoàng đế mà ông muốn hầu hạ đã thoái vị vài tuần trước đó.
"Con tôi đau đớn mà chẳng được việc gì", cha của Tôn vừa khóc vừa đấm ngực khi hay tin trên. "Họ không cần thái giám nữa".
"Cuộc đời Tôn là một bi kịch. Ông ấy tưởng mình hy sinh cuộc đời cho cha, nhưng hóa ra sự hy sinh ấy là vô nghĩa", Jia ngậm ngùi nói. "Ông ấy rất thông minh và tinh quái. Nếu hoàng đế không mất ngôi, ông ấy sẽ có cơ hội lớn để trở thành một nhân vật quan trọng".
Vị cựu hoàng trẻ tuổi về sau vẫn được phép ở trong cung, và khi hoàng gia rời Tử Cấm Thành một thời gian sau đó, Tôn đã tiến thân trở thành một người hầu của hoàng hậu. Nhưng cùng với sự ra đi của hoàng triều, giấc mơ của Tôn vụt tắt.
"Ông ấy tịnh thân, nhưng hoàng đế thoái vị. Ông ấy cố vào Tử Cấm Thành, nhưng Phổ Nghi bị mất ngôi. Ông ấy theo triều đình lên phương bắc và rồi sau đó triều đình bù nhìn sụp đổ. Ông ấy cảm thấy số phận đã đùa cợt với cả cuộc đời ông", Jia kể.
Nhiều thái giám đã bỏ trốn và đem theo các báu vật của hoàng cung, nhưng Tôn chỉ đem theo những ký ức và một sự thính nhạy về chính trị - điều mà sau này đã giúp ông sống sót qua nhiều năm chiến tranh và cuộc chiến về hệ tư tưởng.
"Ông ấy không bao giờ giàu, không bao giờ có quyền lực, nhưng ông ấy giàu trải nghiệm và có nhiều bí mật", Jia nhận xét.
Mai Trang (theo Reuters, Los Angeles Times)

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/hoan-quan-cuoi-cung-tiet-lo-bi-mat-hoang-cung-2122536.html

donderdag 1 oktober 2015

Những thành phố ẩm thực nổi tiếng ở Trung Hoa

Những thành phố ẩm thực nổi tiếng ở Trung Hoa

Chắc hẳn ai cũng biết rằng Trung Hoa là một trong những quốc gia có nền ẩm thực phong phú hàng đầu thế giới. Nếu bạn là một tín đồ du lịch ẩm thực, thích khám phá những món ăn ngon nổi tiếng của các vùng đất thì đây là những địa điểm du lịch ẩm thực nổi tiếng mà bạn không nên bỏ qua khi tới Trung Hoa.


 1. Quảng Châu, tỉnh Quảng Châu

Đa số các món ăn tại thành phố Quảng Châu đều tươi ngon, sạch sẽ, sử dụng hải sản và thịt nướng rất nhiều. Ở đây có truyền thống uống trà cùng há cảo và bánh bao. Một trong những khu phố ẩm thực nổi tiếng là Ru Xuan Sha Guo Zhou. Tại đây, bạn có thể thưởng thức món cháo hải sản vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Để thưởng thức các món đúng hương vị trong các gia đình Quảng Châu, chúng mình nên tìm tới nhà hàng Ji Cum với các món dân dã từ nông sản và gà hấp.
2. Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang

Thành phố cổ kính này là quê hương của huangjiu, loại rượu gạo hổ phách, hay còn gọi là Hoàng Tửu, được sử dụng rộng rãi trong việc chế biến món ăn. Đến Chiết Giang bạn hãy ghé nhà hàng Xianheng nổi tiếng để thường thức các món ăn nổi tiếng như: Gà quay giòn, chà là đỏ với rượu gạo, đậu nấu chung với thì là. Đậu phụ rán cũng là đặc sản của địa phương, được bày bán ở bất kỳ cửa hàng vỉa hè nhỏ nào.
3. Dazhai, tỉnh Quảng Tây

Dazhai là điểm đến lý tưởng thưởng thức thực phẩm tươi sống, đồng thời thỏa sức ngắm nhìn cảnh quan tự nhiên tuyệt đẹp. Ngôi làng này cách Quế Lâm khoảng 3 giờ đi bằng ôtô, là nơi sinh sống chủ yếu của dân tộc thiểu số Yao. Họ tự sản xuất và tiêu thụ mọi thứ, như gạo, trà, nấm và rượu từ quả berry dại. Farmer Li là một trong nhiều nhà nghỉ phục vụ các món đơn giản như bữa cơm gia đình hàng ngay, như ngọn su su hay cơm nấu trong ống tre.
4. Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên

Được UNESCO công nhận là “Thành phố ăn ngon” đầu tiên của Châu Á vào năm 2010, Thành Đô được biết đến nhiều nhất với món lẩu và món cay cùng loại gia vị địa phương – tiêu Tứ Xuyên, hòa quyện với vị mặn, chua, ngọt vừa phải. Tất nhiên, Thành Đô cũng có nhiều lựa chọn những món không cay, điển hình như vịt om bia mang hương vị rất riêng. Ngoài ra, ẩm thực đường phố với danh sách hơn 100 món ăn vặt, từ các loại mỳ, đồ nướng cho tới bánh trái, đáp ứng sở thích của mọi du khách từng ghé qua.
Lẩu tại Thành Đô luôn tỏa một hương vị đặc trưng – vị nồng của ớt. Tại nhà hàng Zigong trứ danh, khách hàng không thể bỏ qua món lẩu ếch, ăn kèm rau xanh, một số loại thịt và mỳ. Để thưởng thức đúng hương vị tiêu Tứ Xuyên, bạn nên tới khu chợ Chengdu Spice vào buổi sáng. Tại đây, người dân địa phương còn mua bán nhiều món ăn vặt hấp dẫn.
5. Lan Châu, tỉnh Cam Túc

Lan Châu được ví như một khu chợ đêm ẩm thực sầm uất nhất tại Trung Hoa. Về phía tây của trung tâm thành phố, chợ Zhengning Lu chào đón du khách với hơn 100 quầy bán thức ăn đường phố. Những món ngon nổi tiếng nhất là cá nướng với thì là và rắc vừng bên trên (khoảng 25 nhân dân tệ – 83.000 VND), bát nai zhou ngọt, nóng – sữa trộn với gạo nếp lên men, vừng, trứng và nho khô, có giá 8 nhân dân tệ, khoảng 26.000 VND và bánh rou bing nhồi thịt, 2 nhân dân tệ, khoảng 7.000 VND.
6. Turpan, khu tự trị Tân Cương

Turpan là địa danh đặc trưng cho nét văn hóa ẩm thực của người Uyghur, tại khu tự trị Tân Cương. Rất nhiều nhà hàng ngoài trời phục vụ khách du lịch bên cạnh khu nhà hàng sặc sỡ. Cừu kawop, ổ bánh mỳ siêu lớn xuất hiện ở bất kỳ quán ăn vỉa hè nào, cùng với các món ít phổ biến hơn như banshi – thịt cừu nấu với cà chua, đậu đen và rau mùi, hoặc thịt cừu chế biến với nghệ, sữa chua cho đến khi thịt chín mềm. Bạn có thể kết thúc bữa ăn với một chén sữa chua mát lành.
7. Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây

Nằm ở phía Bắc của tỉnh Sơn Tây, thành phố công nghiệp Đại Đồng là lựa chọn bất ngờ để khám phá ẩm thực Trung Hoa với món há cảo hoa cúc shao mai, món bánh yangsheng hulusi…
8. Thanh Đảo, Sơn Đông

Đây là một trong những thành phố hải sản ngon nhất ở Trung Quốc. Không gì tuyệt vời hơn được thưởng thức tôm, trai, tu hài và hải sâm tươi tại Thanh Đảo. Các nhà hàng chủ yếu nhấn mạnh vào vị tươi sống của hải sản, thay vì sử dụng quá nhiều loại gia vị, ví như món trai nấu với tỏi và một chút ớt hay tôm nướng cùng hành tươi.

Tin Khác

http://www.ordertaobao168.com/news/nhung-thanh-pho-am-thuc-noi-tieng-o-trung-hoa/287.html

zondag 29 maart 2015

Hoàng đế "hoạn quan" duy nhất của Trung Hoa : Tào Đằng, ông nội của gian hùng Tào Tháo

huyện chưa biết về hoàng đế hoạn quan duy nhất Trung Quốc
Click image for larger version Name: tao-dang-2.jpg Views: 0 Size: 75.9 KB ID: 737795   Click image for larger version Name: tao-dang-3.jpg Views: 0 Size: 69.5 KB ID: 737796  
Hoạn quan vốn là những người đàn ông được đưa vào hậu cung hầu hạ cho hoàng đế, vì vậy, dù nhiều người quyền lực khuynh đảo triều chính, song không có ai dám nhòm ngó ngôi thiên tử. Thế nhưng, trong lịch sử 3.000 năm của hoạn quan Trung Quốc vẫn có một người đường đường chính chính được phong làm hoàng đế. Đó là Tào Đằng, ông nội của gian hùng Tào Tháo, nhân vật nổi tiếng thời Tam Quốc.

Hoạn quan được người đời nể phục

Tào Đằng tự là Quý Hưng là một hoạn quan nổi tiếng thời Đông Hán. Tào Đằng là con thứ 3 của Tào Tiết, từ nhỏ đã bị đưa vào cung làm hoạn quan.

Sách “Tục Hán thư” của Tư Mã Bưu có ghi lại một câu chuyện nhỏ về Tào Tiết rằng: Nhà hàng xóm của Tào Tiết bị mất một con lợn mới sang nhà Tào Tiết để tìm.

Người hàng xóm này chạy tới chuồng lợn nhà Tào Tiết chỉ vào một con lợn và kiên quyết nói rằng con lợn đó là lợn nhà ông ta. Tào Tiết không muốn tranh chấp với người hàng xóm, để ông ta mang con lợn đó về nhà. Sau đó, con lợn bị mất của nhà hàng xóm tự tìm về nhà, người hàng xóm cảm thấy xấu hổ, vội vàng sang nhà Tào Tiết để xin lỗi, đồng thời trả lợn lại cho Tào Tiết.


Chân dung Tào Tháo, hậu duệ của Tào Đằng.
Tào Tiết cũng không để bụng, tươi cười nhận lại con lợn. Chính vì thế, người trong làng đều hết mực ca ngợi Tào Tiết, coi ông ta là con người nhân hậu, khoan dung.

Từ câu chuyện này có thể thấy rằng, Tào Tiết là một nông dân bình thường, thuần phác, nhân hậu, do vậy, việc đưa con trai là Tào Đằng vào cung để làm thái giám có thể là do hoàn cảnh túng quẫn.

Tào Đằng vào cung thời kỳ An đế nhà Hán. Đặng Thái hậu, mẹ An đế thấy Tào Đằng còn trẻ lại trung thực, thì chọn làm người hầu cho thái tử đọc sách. Tào Đằng làm việc cẩn thận chu đáo nên rất được thái tử yêu quý, sau đó cùng kết đôi với con gái nhà họ Ngô và nhận con nhà Hạ Hầu làm con nuôi – tức là Tào Tung, cha của Tào Tháo.

Sau khi Thuận đế lên ngôi, Tào Đằng được nhận chức Trung thường thị. Làm việc hơn 30 năm đều rất cẩn thận, được hoàng đế rất ưu ái. Những người trong họ tộc của Tào Đằng ở quê cũng không vì quan chức của Đằng trong triều đình mà hoành hành bá đạo như những người khác.

Ngoài ra, Tào Đằng cũng thường xuyên tiến cử với Hoàng đế những danh sĩ nổi tiếng như Trần Lưu, Ngu Phóng, Biên Thiệu, Trương Ôn, Hoằng Nông, Trương Hoán,…

Khi đó, có một thái thú ở quận Thục gửi cho Tào Đằng một món lễ vật. Sau này bị quan Thứ sử Ích châu là Chủng Cảo phát hiện ra. Chủng Cảo dâng sớ tố cáo Thái thú quận Thục đồng thời vạch tội Tào Đằng đề nghị triều đình hạch tội cả hai người.

Hoàng đế xem xong sớ của Chủng Cảo nói rằng: “Quà là do người ta đưa đến, không phải tội của Đằng”, do vậy vứt bỏ bức sớ không xem tới nữa. Tào Đằng cũng không vì bức sớ vạch tội của Chủng Cảo mà oán hận.

Sau này, trước mặt Hoàng đế, Tào Đằng thường xuyên ca ngợi Chủng Cảo, nói rằng Cảo là một vị quan có tài, có thể nắm giữ chức vụ quan trọng trong triều đình. Nhờ có lời nói của Tào Đằng, quan chức của Chủng Cảo ngày một lên cao, sau này làm tới chức Tư Đồ.

Sau này, Chủng Cảo có cảm khái nói rằng: “Tôi có thể làm quan tới chức Tư Đồ, tất cả đều là nhờ sự giúp đỡ của Tào Thường thị!” Tào Đằng cai quản gia đình, họ tộc rất tốt, lại thường xuyên kết thân với các danh sĩ, tiến cử những người có tài, vì vậy, mặc dù là hoạn quan nhưng được xã hội rất ca ngợi và khâm phục.

Phế, lập vua chỉ trong một câu nói

Sau khi Hán Thuận đế băng hà, con trai mới vừa đầy 2 tuổi kế vị, chưa đầy một năm sau đã bị chết. Sau những cuộc tranh giành ngai vị trong hoàng tộc, các vị đại thần đều muốn lập Lưu Toán lên ngôi nhưng Đại tướng quân là Lương Ký không chấp nhận và lập con của Bột Hải Hiếu Vương là Lưu Tán lên ngôi.


Tạo hình Tào Tháo trên phim ảnh.
Hoàng đế tuy nhỏ tuổi nhưng khá thông minh, nhiều việc đã làm cho Lương Ký lo sợ, nên cuối cùng y tìm cách đầu độc chết vị hoàng đế lên ngôi chưa đầy một năm này. Tới lúc này các đại thần càng tăng áp lực để đưa Thanh Hà vương Lưu Toán lên ngôi, Lương Ký thì muốn lập em rể của mình là Lưu Trí, nhưng thấy thái độ của các đại thần nên vẫn loay hoay chưa biết nên làm thế nào.

Thanh Hà Vương Lưu Toán tuy là người cẩn trọng, đại thần trong triều đều ủng hộ thế nhưng khi Tào Đằng và một số hoạn quan khác đến gặp Lưu Toán thì lại bị y coi thường là lũ hoạn quan ái nam ái nữ. Điều này làm cho bọn Tào Đằng vừa uất hận vừa sợ hãi nên không muốn Lưu Toán lên ngôi.

Tào Đằng liền cùng các hoạn quan khác tới nhà Lương Ký để khuyên nhủ rằng: Tướng quân lâu nay vẫn làm hoàng thân quốc thích quản lý triều chính, quan hệ trong triều phức tạp, không thiếu những sai sót. Thanh Hà vương lại là người nghiêm minh, nếu như lên ngôi thì việc tướng quân gặp nạn chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi. Chẳng bằng lập Lưu Trí lên ngôi, như thế có thể bảo vệ được vinh hoa phú quý.

Lương Ký quả đã nghe theo lời kiến nghị của Tào Đằng. Lập Lưu Trí lên ngôi – tức Hán Hoàn đế. Tào Đằng nhờ thế mà chức vị được thăng tới Đại trường thu gần như là tước vị cao nhất của hoạn quan, lại còn được phong thêm Phí đình hầu.

Hoàng đế hoạn quan duy nhất

Sau khi Tào Đằng chết, con nuôi là Tào Tung (tức là cha của Tào Tháo) kế thừa tước vị. Những năm cuối thời Hoàn đế Tào Tung được phong làm Tư lệ hiệu úy, đến khi Linh đế lên ngôi, lại thăng chức Đại tư nông, Đại hồng lô, quản lý các việc lễ nghi và tài chính trong nước, chức thuộc hàng cửu khanh. Cuối thời Đông Hán còn có chế độ dùng tiền để mua chức, Tào Tung không vừa ý với chức Đại hồng lô của mình, bỏ ra tiền vạn để mua cho mình chức Thái Úy – đứng đầu Tam công. Có thể nói Tào Tung đã đạt đến đỉnh điểm trong con đường chính trị của mình.

Sau khi thấy thế cuộc hỗn loạn, Tào Tung từ quan mà trở về Lạc Dương. Sau khi Đổng Trác tiếm quyền, Lạc Dương trở thành một nơi hỗn loạn, Tào Tung đem gia quyến về huyện Hoa ở Thái Sơn tránh nạn. Về sau lại đưa con là Tào Đức cùng vợ trở về đại bản doanh của Tào Tháo ở Duyễn Châu. Nhưng mới đi tới Từ Châu thì Trương Khải, người được giao nhiệm vụ hộ tống Tào Tung, không cưỡng nổi sự quyến rũ của vàng bạc châu báu của họ Tào nên đã sai binh lính giết chết y, cướp đi tài sản và chạy về Hoài Nam. Tào Tháo sau đó đã hai lần phát động binh mã đánh Từ Châu để trả thù cho cha của mình.

Dưới sự chỉ huy của Tào Tháo, thế lực của Ngụy càng ngày càng hùng mạnh, cho tới khi Tào Tháo chết Tào Phi lên ngôi thì chính thức lên ngôi Hoàng đế, lập nên nhà Ngụy.

Sau khi Tào Duệ, cháu Tào Tháo, con Tào Phi kế vị đã truy phong Tào Đằng làm Cao hoàng đế, Sau đó nhà Tây Tấn thay Ngụy song danh hiệu này vẫn được giữ. Chính vì vậy, hoạn quan Tào Đằng trở thành một trong năm hoàng đế của vương triều Tào Ngụy và cũng là hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Quốc được phong hoàng đế.


Hà Thanh (Tổng hợp)/Theo Khỏe & Đẹp

http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=867153

Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa : Tây Thi, Điêu Thuyền, Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi

Ai đẹp nhất trong tứ đại mỹ nhân Trung Hoa?
Click image for larger version Name: zing_tay_thi.jpg Views: 0 Size: 86.5 KB ID: 675856  Click image for larger version Name: zing_Vuong_Chieu_Quan_02.jpg Views: 0 Size: 66.4 KB ID: 675857   Click image for larger version Name: zing_dieu_thuyen.jpg Views: 0 Size: 27.2 KB ID: 675858  Click image for larger version Name: zing_Duong_Quy_Phi_01.jpg Views: 0 Size: 123.5 KB ID: 675859  
Tây Thi, Điêu Thuyền, Vương Chiêu Quân, Dương Quý Phi, mỗi người mỗi vẻ, tài sắc vẹn toàn nhưng đại bộ phận thơ ca, sách sử và dân chúng đều ngầm xếp hạng Tây Thi là "hoa hậu".

1. Tây Thi – Mỹ nhân trầm ngư (cá lặn đi trốn)


Ảnh minh họa: 51netu

Tây Thi, tên là Thi Di Quang, là con một người kiếm củi. Nàng dệt vải ở núi Trữ La, thuộc nước Việt thời Xuân Thu. Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, nàng Thi là người ở thôn Tây, vậy nên gọi là Tây Thi.
Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn. Khi nàng đi hái củi ở ngọn núi gần làng, những con chim ưng bay trên trời nhìn thấy Tây Thi quên mất cả vỗ cánh nên rơi xuống đất. Khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng nàng soi trên mặt nước sông trong suốt làm nàng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên bơi, dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là "Tây Thi Trầm Ngư". Mắt nàng trong suốt, mày nàng phương phi, miệng chúm chím.

Trong trận đánh quyết tử với nước Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chủng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô bắt sang làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, trước khi Câu Tiễn sang Ngô, Văn Chủng đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có "Mỹ nhân kế" - dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô.

Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn âm thầm sai Phạm Lãi tuyển 2.000 mỹ nữ, trong đó có Tây Thi. Mặc dù trên đường sang Ngô, nàng và Phạm Lãi đã phải lòng nhau nhưng không bộc lộ ra mặt mà luôn trung thành giúp sức cho Câu Tiễn vốn đang nhịn nhục tìm cách trả thù.

Vua Ngô, Phù Sai, là một vị vua anh hùng, nhưng từ khi Tây Thi xuất hiện lại lơi lỏng việc nước, bỏ bê chính sự, ngày đêm cùng nàng chìm đắm trong xa hoa, hưởng lạc, dần mất hết ý chí. Sau khi sống với Phù Sai lâu năm, Tây Thi đã dần yêu Phù Sai thật sự. Tây Thi cùng Ngũ Tử Tư, người chống đối Tây Thi khi nàng mới vào cung nhưng sau này đã nể nàng vì văn chương uyên bác và có lòng thành thật sự với nhà vua, khuyên nhà vua không nên đánh Tề. Lúc này Phù Sai đã tín nhiệm Câu Tiễn cộng với tham vọng làm bá chủ thiên hạ nên đã ra quân đánh Tề, làm hao tổn nhân lực, thực phẩm, nhiều người chết. Trong khi đó Câu Tiễn thừa cơ hội đánh úp và đã chiến thắng chiếm được Ngô, thỏa mộng trả thù.

2. Vương Chiêu Quân - Mỹ nhân lạc nhạn (chim nhạn sa)

Ảnh minh họa: Baidu

Vương Chiêu Quân được coi là "á hậu" trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc, vẻ đẹp chỉ xếp sau Tây Thi. Nàng là một trong hai đại mỹ nhân của triều Hán. Cùng với nàng Triệu Phi Yến, Chiêu Quân đi vào lịch sử như một người đẹp có nhiều cống hiến cho hòa bình giữa người Hán và người Hung Nô.

Vương Chiêu Quân tên thật là Vương Tường, sinh ra trong một gia đình thường dân ở Hồ Bắc. Khoảng năm 40 TCN, đời Hán Nguyên Đế, vì xinh đẹp nức tiếng nên nàng được tuyển vào nội cung. Khi nhập cung đổi tên thành Vương Chiêu Quân. Chiêu Quân thông thạo tứ nghệ gồm: cầm, kỳ, thi, họa, đặc biệt nàng có biệt tài gảy đàn tỳ bà, do đó trong tranh Chiêu Quân thường xuất hiện với một vẻ đẹp u buồn, choàng khăn đỏ, mặc áo lông, ôm đàn tỳ bà, cùng với một con bạch mã. Tương truyền, vì số phi tần trong hậu cung của Hán Nguyên Đế quá đông nên hoàng đế ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để hoàng đế chọn. Vì từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung vẽ Chiêu Quân thật xấu xí nên nàng không được Nguyên Đế để mắt tới. Năm 33 TCN, thủ lĩnh Hung Nô là Hô Hàn Tà đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán và đề nghị được trở thành con rể của Hán Nguyên Đế. Thay vì gả một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Tà đã được ban cho 5 cung nữ chọn từ hậu cung. Thời đó xứ Hung Nô xa xôi cách trở, một đi không hẹn ngày trở về, người dân Hung Nô sống du mục trên các hoang mạc khô cằn, vì thế các cung nữ không ai dám sang. Duy chỉ có Vương Chiêu Quân bước ra tình nguyện lấy Hô Hàn Tà. Đến ngày hôn lễ giữa Hô Hàn Tà và Chiêu Quân, Nguyên Đế thấy nàng xinh đẹp nên rất hối tiếc. Ông bèn hạ lệnh mang bức tranh nàng ra xem, thì thấy bức tranh do họa sĩ Mao Diên Thọ vẽ không giống chân dung thật, bèn sai xử trảm Thọ. Chiêu Quân lấy Hô Hàn Tà, tuy được sủng ái nhưng nàng luôn canh cánh nỗi buồn nhớ quê hương. Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, theo tập quán nối dây của người Hung Nô, Chiêu Quân trở thành phi tần của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề, con trai lớn của Hô Hàn Tà. Công lao của Chiêu Quân không chỉ ở việc nàng tự nguyện gả sang Hung Nô, hơn thế nữa sau khi thành hôn với hai đời Thiền Vu, chính nhờ tài sắc và sự khéo léo của nàng là nhân tố chính duy trì nền hòa bình giữa nhà Hán và Hung Nô kéo dài trên 60 năm, tránh cho dân lành kiếp nạn binh đao. Truyền thuyết "Chiêu quân xuất tái" (Đi đến biên cương) tả rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa quê hương. Nhân lúc ngồi lưng ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc". Một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất. Điển tích "mỹ nhân lạc nhạn" do đó mà có.

3. Điêu Thuyền – Mỹ nhân bế nguyệt (Trăng thẹn phải trốn đi)

Ảnh minh họa: Baidu

Điêu Thuyền, họ Nhiệm, tên Hồng Xương, sinh ở thời Đông Hán. 15 tuổi vào cung làm nữ tỳ chuyên phục vụ coi sóc trang phục cho các quan trong triều, do vậy sau này đều gọi nàng là Điêu Thuyền (là chức danh thời đó). Nàng được đánh giá xếp thứ 3 trong số 4 mỹ nhân nổi tiếng Trung Quốc.

Điêu Thuyền là bậc quốc sắc thiên hương, khuynh nước khuynh thành, thông minh hơn người. Tương truyền suốt 3 năm sau khi nàng ra đời, tất thảy hoa đào trong thôn nàng ở không nở hoa, vì thấy hổ thẹn trước sắc đẹp của nàng. Có lần đêm khuya, nàng đi dạo thưởng trăng, Hằng Nga thấy mình không sánh nổi, vội vã trốn sau mây, vì vậy Điêu Thuyền còn được gọi là mỹ nhân bế nguyệt. Khác với Dương Quý Phi gắn với vẻ đẹp tròn trịa theo tiêu chuẩn thời Đường, Điêu Thuyền lại là mỹ nhân có dáng mạo mỏng manh, thướt tha như liễu rủ, cử chỉ điệu bộ vô cùng trang nhã, thanh tú, mỗi bước chân của nàng nhẹ nhàng như đang lướt trên mây. Năm 190, Lạc Dương có loạn chư hầu, vua tôi tán loạn tháo thân, Điêu Thuyền chạy ra khỏi cung, sau được quan tư đồ Vương Doãn thu nạp về phủ, nhận làm con gái nuôi. Vương Doãn là quan to trong triều Hán nhưng quyền lực khi đó thuộc về thái sư Đổng Trác. Trác có người con nuôi là Lã Bố sức khỏe địch muôn người nên trong triều không ai dám cãi. Nhận thấy sắc đẹp, tài trí và lòng hiếu thảo của Điêu Thuyền, tư đồ Vương Doãn nảy ra kế liên hoàn được sắp đặt công phu nhằm ly gián cha con Đổng Trác và Lã Bố. Vương Doãn một mặt mời Lã Bố đến phủ, sai Điêu Thuyền quyến rũ Lã Bố, mặt khác gả Điêu Thuyền cho Đổng Trác sau đó vu cho ông bố nuôi phỗng tay trên khiến Lã Bố căm tức, phẫn nộ. Vì mê mệt sắc đẹp của Điêu Thuyền, năm 192, được sự giúp đỡ của Vương Doãn, Lã Bố nhân cơ hội thuận lợi để giết gã gian thần Đổng Trác. Chính kế sách ly gián của Vương Doãn và Điêu Thuyền đã giết Đổng Trác, là việc mà 18 lộ chư hầu binh hùng tướng mạnh của Viên Thiệu không làm được.

4. Dương Quý Phi – Mỹ nhân tu hoa (Hoa thẹn vì không đẹp bằng)

Ảnh minh họa: Baidu

Dương Quý Phi, tên thật là Dương Ngọc Hoàn (719- 756), sắc đẹp tuyệt trần, tinh thông ca vũ, được hậu thế tôn vinh là một trong tứ đại mỹ nhân lịch sử Trung Hoa. Mồ côi cha mẹ khi mới lọt lòng, cô bé Ngọc Hoàn bị mang tiếng cao số, khắc song thân, may có người chú làm quan ở Hà Nam nhận về nuôi dưỡng, nhờ đó Ngọc Hoàn mới thoát khỏi kiếp nạn làm trẻ mồ côi, bị bơ vơ ghẻ lạnh. Từ Thục Châu đến Hà Nam, không chỉ cho Ngọc Hoàn một mái ấm gia đình, mà đây còn là bước ngoặt thay đổi số mệnh của nàng.

Năm 734, con gái của Đường Huyền Tông là Cảm Nghĩa công chúa mở tiệc thành hôn, Ngọc Hoàn may mắn được tham dự. Tối đó, bị tiếng sét ái tình trước sắc đẹp của Ngọc Hoàn, em trai của Cảm Nghĩa công chúa là Thọ Vương Lý Mạo về đòi mẹ là Võ Huệ Phi (phi tử được sủng ái nhất của Đường Huyền Tông) cưới bằng được Ngọc Hoàn và phong nàng là Thọ Vương Phi. Bước chân vào phủ Lý Mạo, Ngọc Hoàn có cơ hội được học đàn hát, ca múa, và các phương pháp làm đẹp vốn chỉ dành cho phụ nữ thượng lưu thời đó. Năm 737, mẹ chồng của Ngọc Hoàn là Võ Huệ Phi qua đời. Thấy Huyền Tông đau xót trước cái chết của ái phi, không màng sủng ái bất cứ phi tần nào trong tam cung lục viện, có người tiến cử với Huyền Tông "Dương Ngọc Hoàn có sắc đẹp tuyệt trần". Theo ghi chép của "Tân Đường Thư" , tháng 10/740, Huyền Tông lấy danh nghĩa cầu phúc cho mẫu thân là Đậu Thái Hậu, ra ý chỉ lệnh Dương Ngọc Hoàn xuất gia làm nữ đạo sĩ, đạo hiệu là "Thái Chân", đồng thời chỉ hôn con gái của Vĩ Chiêu Huấn cho Lý Mạo, thế làm Thọ Vương Phi, sau đó mới lập Dương Ngọc Hoàn làm Quý Phi, phế bỏ Vương Hoàng Hậu, từ đó trong cung Dương Quý Phi cũng tương đương như hoàng hậu. Sau khi hợp thức hóa được việc biến con dâu thành phi tần của mình, Đường Huyền Tông hết mực say đắm, sủng ái Ngọc Hoàn. Ông còn tuyên bố trước toàn thể hậu cung: "Trẫm có được Dương Quý Phi, giống như có được bảo vật". Thời Đường, khi xã hội phát triển phồn thịnh về mọi mặt, người phụ nữ được cho là đẹp, hấp dẫn thì phải tròn trịa, mập mạp. Trong thành ngữ tiếng Hoa ngày nay vẫn còn câu: Yến ốm Hoàn mập. Yến là chỉ người đẹp thời Hán: Triệu Phi Yến, Hoàn là chỉ Dương Ngọc Hoàn thời Đường. So với 3 người đẹp trong Tứ đại mỹ nhân, Dương Quý Phi Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là "tu hoa", nghĩa là sắc đẹp của nàng khiến hoa phải xấu hổ. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn buồn nhớ quê hương, nhớ gia đình. Một ngày, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải khuây, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, bèn than thở: "Hoa ơi hoa à, ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt nước mắt đã tuôn rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải loại hoa trinh nữ (cây xấu hổ). Lúc này, một cung nữ nhìn thấy, người cung nữ đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "mỹ nhân tu hoa".
Thu Hằng
(ZING/tổng hợp)

http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=822022

zondag 22 maart 2015

mỹ nhân làm xiêu lòng 6 vị hoàng đế Trung Hoa : Tiêu Hoàng hậu nhà Tuỳ tức Chiêu Dung hoàng hậu của vua Đường Lý Thế Dân

Số phận đầy gian truân của mỹ nhân làm xiêu lòng 6 vị hoàng đế

18-03-2015 07:03:06

Là mỹ nhân không chỉ khiến trái tim của 6 vị quân vương mê mẩn mà còn khiến "hoa nhường nguyệt thẹn". Vậy nhưng cuộc đời của mỹ nhân này cũng lắm nỗi gian truân.

Người phụ nữ "quyền lực" đó là Tiêu Hoàng hậu, sinh sống vào thời kỳ cuối của Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Nàng vốn là công chúa, cha nàng từng làm hoàng đế của nhà Tây Lương.

Tiêu hoàng hậu sở hữu vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, hoa nhường nguyệt thẹn. Chẳng thế mà người đời vẫn coi nàng là "món quà" tuyệt vời của tạo hóa. Năm 13 tuổi, Tiêu thị đã lên ngôi hoàng hậu và từ đó, nàng liên tiếp trải qua những lần thay danh đổi phận như Hoàng hậu của Tùy Dương, thục phi của Vũ Văn Hóa Cập, vợ lẽ của Đậu Kiến Đức, Hoàng hậu hai đời vua Turkic và cuối cùng trở thành Chiêu Dung trong hậu cung của vua Đường Lý Thế Dân.

Người ta nói Tiêu Hoàng hậu có số phận kì lạ bởi ngay từ năm 9 tuổi, nàng đã được chọn làm vợ của Tấn vương Dương Quảng. Vì tuổi còn quá nhỏ nên nàng chưa  được tiến cung thành thân ngay. Lúc đó, Độc cô Hoàng hậu vô cùng yêu thích cô con dâu bé bỏng nên đã nuôi dưỡng chăm sóc nàng như con đẻ. Độc cô Hoàng hậu cho mời rất nhiều thầy giỏi đến dạy nàng đọc sách, viết văn, hội họa, đàn hát. Không chỉ sở hữu nhan sắc nổi trội của một mỹ nhân mà Tiêu thị còn có tố chất thông minh hơn người, nàng học gì thạo đó. Nhờ vậy, chỉ vài năm sau, Tiêu thị đã nhanh chóng trở thành một tiểu tuyệt thế giai nhân, lại tinh thông thư lễ, đa tài đa nghệ. Vốn háo sắc nên ngay khi nhìn thấy nhan sắc tuyệt trần của người vợ đã được thân mẫu lựa chọn, Dương Quảng đã muốn đưa nàng vào cung. Và năm Dương Quảng 25 tuổi, không chờ đợi thêm được nữa, hôn lễ giữa Tiêu Thị và Dương Quảng được cử hành, nàng chính thức trở thành vương phi của Tấn vương. 

Đêm động phòng hoa chúc, Dương Quảng lóng ngóng ôm chặt người vợ đẹp vẫn đang e ấp như nụ hoa mới nở vào lòng, đồng thời giả vờ diễn những hành động như một kẻ ngờ nghệch si tình để làm vừa lòng vương phi.

Dương Quảng vốn là con thứ nhưng trước đã nuôi mộng về ngai vàng, nay lại có thêm "ngôi sao hy vọng" là Tiêu phi nên càng muốn thực hiện âm mưu lật đổ anh trai. Vốn là người thông minh nên Tiêu phi đã phối hợp ăn ý với chồng để diễn vở kịch hòng chiếm đoạt ngai vàng. Một mặt, Dương Quảng tỏ ra rất hiếu thuận với mẫu thân, mặt khác vờ xa lánh Tiêu phi để tập trung lo việc triều chính. Kế hoạch đó đã thành công mỹ mãn, sau hơn 7 năm cưới Tiêu phi, Dương Quảng được lập làm thái tử. 1 năm sau Dương Quảng lên ngôi hoàng đế và trở thành Tùy Dạng Đế nổi tiếng trong lịch sử, Tiêu phi cũng chính thức trở thành Tiêu hoàng hậu. Sau khi trở thành hoàng đế, Dương Quảng không còn là người chồng mẫu mực nữa mà bỏ rơi Tiêu hoàng hậu, chìm trong tửu sắc, ra sức tuyển chọn các phi tần mĩ nữ tiến cung. Tiêu hoàng hậu vốn là người cứng rắn, bản lĩnh lại hiểu biết, hơn ai hết nàng hiểu rõ tính phong lưu của chồng nên đành nhắm mắt làm ngơ, vờ vui vẻ mà sống.

Số phận đào hoa của Tiêu hoàng hậu.
Cuộc đời nàng đã trải qua 6 lần thay danh đổi phận.

Chính vì mải mê vui thú hưởng lạc nên Dương Quảng đã không giữ nổi giang sơn, nhiều thế lực ghen ghét tạo phản. Khi Vũ Văn Hóa Cập tiêu diệt được Dương Quảng và lên thay, vốn đã thầm yêu Tiêu hoàng hậu từ lâu nên sau khi kế vị, ông ta đã ép Tiêu hoàng hậu phải phải làm lẽ của mình. Cũng kể từ đó, mỹ nhân này lần lượt trải qua nhiều lần thay danh đổi phận.

Lúc bấy giờ, Trung Quyên - cái nôi của nền văn minh Trung Quốc trong thời cổ đại, có đội quân do Đậu Kiến Đức dẫn đầu ngày càng lớn mạnh. Sau hết lần này đến lần khác thua trận, Vũ Văn Hóa Cập đã bị Đậu Kiến Đức tiêu diệt, bị vơ vét hết của cải, ngọc ngà châu báu và thu nạp được cả Tiêu hoàng hậu đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Mặc dù đã hai lần làm góa phụ nhưng nhan sắc và sự quyến rũ của Tiêu hoàng hậu vẫn không hề thuyên giảm. Đậu Kiến Đức đã bị Tiêu hoàng hậu mê hoặc, lập nàng làm Hoàng phi của mình. Song cũng như con đường của những ông vua ham mê tửu sắc, Đậu Kiến Đức đã vui lạc thú mà quên cả mục đích chinh phục Trung Nguyên của mình.

Vào thời điểm này, thế lực Turkic ở phương Bắc không ngừng lớn mạnh và đang tiến về Trung Nguyên. Khi ấy, em gái Dương Quảng khi nghe biết tin tung tích của Tiêu hoàng hậu đã cho người đến nghênh đón chị dâu. Đậu Kiến Đức không dám ra mặt đối đầu quân Turkic đành phải ngoan ngoãn giao Tiêu hoàng hậu và người trong hoàng tộc cho quân Turkic. Sau bao lần chuyển đi đổi lại, Tiêu hoàng hậu không thể ngờ được rằng có ngày mình lại đến sống với người Turkic. Tới nước này, sau bao năm phiêu bạt, sức hấp dẫn và quyến rũ của Tiêu Hoàng hậu vẫn tiếp tục làm hai vị vua của Turkic là Xử La Khả Hãn và Hiệt Lợi Khả Hãn mê mẩn..

10 năm sau, quân của Đường Thái Tông Lý Thế Dân đánh chiếm được Turkic. Khi đó, Tiêu hoàng hậu đã 48 tuổi, Lý Thế Dân mới 33 tuổi nhưng khi Tiêu hoàng hậu vào cung, Lý Thế Dân đã bị chinh phục hoàn toàn trước nhan sắc của Tiêu Hoàng hậu ngay lần đầu nhìn thấy nàng.

Khoảng cách tuổi tác và những lời bình phẩm không ảnh hưởng gì đến sự say mê mà Lý Thế Dân dành cho Tiêu Hoàng hậu. Ông đã phong Tiêu hoàng hậu làm Chiêu Dung. Không những vậy, để mừng Tiêu hoàng hậu tới cung điện, Lý Thế Dân còn tổ chức một bữa tiệc xa hoa chào đón nàng. Hoàng đế cho thắp đèn sáng rực khắp cung điện, ca nữ đàn hát cả ngày, bàn tiệc bày đầy cao lương mỹ vị… Ở bên Tiêu Hoàng hậu xinh đẹp, Lý Thế Dân càng thêm cảm kích sự tinh tế, thông minh của nàng.

Tiêu Hoàng hậu đã sống 18 năm bình yên trong hậu cung nhà Đường và qua đời ở tuổi 67, khép lại một số phận đào hoa mà đầy gian truân. Như vậy, kể từ năm 13 tuổi khi trở thành vợ của Dương Quảng, rồi thục phi của Vũ Văn Hóa Cập, vợ lẽ của Đậu Kiến Đức, Hoàng hậu hai đời vuaTurkic đến khi 48 tuổi trở thành Chiêu Dung trong hậu cung của vua Đường, Tiêu Hoàng hậu vẫn luôn giữ được vẻ quyến rũ của mình. 

(Nguồn: Sina, Vietnamnet, Wiki...)

http://afamily.vn/tinh-yeu-hon-nhan/so-phan-day-gian-truan-cua-my-nhan-lam-xieu-long-6-vi-hoang-de-20150317052459275.chn