Posts tonen met het label Trung Ðông. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Trung Ðông. Alle posts tonen

woensdag 29 november 2017

Ngôi đền Hồi giáo rực rỡ nhất thế giới : Đại Thánh Đường Hồi Giáo Jama Masjid ở Herat (Afghanistan) + Những... "nữ...quái nhân" với đủ kiểu "mặt nạ"... quái dị ở Trung Ðông

Ngôi đền Hồi giáo rực rỡ nhất thế giới

  • 12 tháng 2 2017

Herat’s Great MosqueBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds

Giữa chiến tranh và xung đột, những người đàn ông vẫn tỉ mỉ dùng từng viên gạch màu nhỏ xíu, tạo ra Đại Thánh Đường rực rỡ và lộng lẫy phi thường.

Thế giới rực rỡ

Tại Afghanistan, những người đàn ông đang làm việc trong một căn phòng ám khói đen. Họ ngồi giữa những thùng sơn màu xám, làm việc trên những băng ghế đá xám sẫm. Những đốm sáng lẻ loi xuyên qua cửa sổ trần mái vòm chiếu vào lớp gạch đất sét phủ bụi xám.
Cảnh tượng dường như chỉ có một màu đơn điệu, nhưng họ đang làm một trong những công việc đầy màu sắc nhất thế giới: ốp lát gạch cho Đại Thánh Đường Hồi Giáo Jama Masjid ở Herat. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Viên ngọc của Herat


Herat’s vibrant Great MosqueBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Image caption Herat’s vibrant Great Mosque
Tọa lạc trong một công viên nhỏ ở trung tâm một thành phố Afghan nhộn nhịp, đền thờ rực rỡ này là quãng nghỉ giữa tiếng còi xe không ngớt và tiếng rao của những người bán hàng rong trên các con phố xung quanh. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Bữa tiệc thị giác


Herat’s Great MosqueBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Những hoa văn mosaic phức tạp phủ bên ngoài đền thờ. Mặc dù nhìn tổng quan thì đền thờ này trông rất đẹp, nhưng do bị chiến tranh tàn phá và những khó khăn mà các cuộc chiến nhiều năm giữa Anh và Afghanistan để lại, nhiều mảng gạch ốp đã bị hủy hoại, cộng thêm việc mở rộng đền thờ trong thời gian gần đây khiến cần phải có những mẫu thiết kế mới các loại gạch ốp lát. Hầu hết trách nhiệm trùng tu nằm trong tay chín người đàn ông cần mẫn trong khu xưởng nhỏ nằm trong khuôn viên đền thờ. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Người thợ cả


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Hassan trông coi tám sinh viên và thầy giáo làm việc cùng, và chào đón du khách đến tham quan xưởng. Dù chỉ có vốn tiếng Anh ít ỏi nhưng ông vô cùng am tường về cấu trúc bên trong, bên ngoài đền thờ, kết quả của 16 năm ông gắn bó, làm việc tại đây. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Chút này, chút kia


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Dạo quanh xưởng, Hassan đưa tay chạm vào những vật lồi ra trước khi cầm lên một mảnh kim loại màu gỉ sắt bị ăn mòn. "Hỗn hợp đồng bị oxy hóa," ông giải thích bằng thứ tiếng Anh chậm chạp, mô tả điệu bộ xay nó thành bột, "để lấy màu". Ông tiếp tục nhặt những mảnh kim loại, kính và đá từ băng ghế, chỉ vào một bộ chày, cối sau đó chỉ vào một trong tám mẫu phối màu trên một bảng gạch. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Chật vật giải thích bằng tiếng Anh


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Khi không tìm được từ tiếng Anh thích hợp để diễn tả, Hassan nhờ đến một quyển sổ ghi chép những mô tả tỉ mỉ tiếng Farsi và được dịch hơi lộn xộn sang tiếng Anh. Khi được hỏi đã học tiếng Anh từ đâu, ông cười bẽn lẽn vẻ hơi tội lỗi. "Dịch từ internet". (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Sức mạnh kiến tạo


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Dạo quanh xưởng, Hassan giới thiệu từng bước của quy trình làm gạch ốp. Ở một phòng bên, đá và kính được nghiền ra để sử dụng làm lớp men bóng tráng bên ngoài viên gạch. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Từ trí tưởng tượng đến hiện thực hóa mẫu thiết kế


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Các mẫu hoa văn cho các viên gạch trang trí khác nhau được một vị thầy lớn tuổi vẽ bằng bút chì từ một góc phòng tĩnh lặng. Khi các hoa văn hoàn tất, lỗ nhỏ được đục quanh đường viền và mẫu được tô lên viên gạch men trắng bằng cách dùng than đen vẽ đè lên các lỗ. Đường nét than đen sau đó được đồ lại bằng sơn đen. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Không khói


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Lò nung gạch nằm trong một phòng tối sau cửa vào xưởng, tĩnh lặng bên cạnh những đống gỗ trắng ở mé ngoài đền thờ Herat. Mặc dù quên mất tên tiếng Anh của loại cây này, nhưng Hassan nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong việc đốt lò: loại gỗ này tạo ra tro tốt, đôi khi sẽ có thể dùng làm men tráng và ít bị khói hơn. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Gạch lỗi


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Những đống gạch vỡ hoặc bị lỗi nằm đầy trong xưởng, màu sắc rực rỡ của chúng cũng dần phai đi dưới lớp bụi dày. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Trưng bày mẫu gạch


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Trong số những tấm gạch đã hoàn tất được trưng bày ở đây là quà từ các tổ chức hiến tặng cho đền thờ. Một số nhà tài trợ là các doanh nhân người Afghanistan giàu có, một số khác là các đại sứ quán và quỹ nước ngoài. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Cuộc vật lộn vất vả


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Trùng tu và xây lại là một công việc tốn kém. Những tổn thất do chiến tranh của Afghanistan đã làm hao mòn ngân sách, và trùng tu các cơ sở văn hóa không phải ưu tiên lớn của chính phủ; có rất ít khách du lịch nên khó lòng tạo ra nhu cầu thực sự. Một số người Afghanistan giàu có và các quỹ đã ủng hộ những khoản quỹ để xây dựng, nhưng vẫn không đủ. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Dần bị lãng quên


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Sự huy hoàng hiện tại của đền thờ trái ngược với sự hình thành khiêm tốn của nó, vốn được đặt nền móng xây dựng từ thời kỳ Ghurid, hồi năm 1200 sau Công nguyên. Tất cả những dấu tích còn lại của đền thờ nhỏ ban đầu chỉ là một cửa vào bên ngoài xưởng gạch. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Tầng tầng lớp lớp


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Vào cuối thế kỷ đó, đền thờ này cũng như rất nhiều công trình khác ở Afghanistan là mục tiêu phá hủy của Thành Cát Tư Hãn. Nó hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn, nhưng ròi nhiều kiến trúc sư trước và trong thời kỳ Timurid (1300-1400 sau Công nguyên) đã xây dựng lại một ngôi đền quy mô từ đống đổ nát. Những lớp dưới lộn xộn là dấu vết còn lại của nền móng Ghurid, trong khi lớp gạch phủ là di sản từ thời Timurid. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Vòng xoáy lịch sử


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Vài trăm năm tiếp theo, ngôi đền tiếp tục vươn cao cùng với thành phố Herat, và rồi lại bị phá hủy gần như hoàn toàn trong các cuộc chiến Anh - Afghan vào thế kỷ 19 và 20. Những gì còn lại ngày nay là kết quả từ cuộc trùng tu năm 1945 -1970. Nhưng Afghanistan từ đó lại rơi vào một cuộc chiến tranh khác, vẫn chưa có hồi kết. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Không ngừng kiến tạo


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Dù đã xảy ra nhiều thập niên chiến tranh và bất ổn, Hassan và các nghệ sĩ khác vẫn làm việc, cẩn trọng tạo tác và chạm khắc lớp gạch mới cho hoa văn mosaic trong ngôi đền. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Tinh tế và khéo léo


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Từ những viên gạch hình vuông đơn giản đến hoa văn uốn cong, mỗi hình dạng đều được tạo tác thủ công bằng những chiếc cuốc chim sắc nhọn và nhỏ. Mỗi điểm màu trên hoa văn mosaic là một mảnh gạch riêng, được chạm khắc cẩn thận và đính vào đúng vị trí. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Tác phẩm tuyệt vời từ góc xưởng đơn giản


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Nội thất phủ màu trắng của xưởng hoàn toàn phù hợp: đó là nơi chốn tạm thời cho những hoa văn mosaic chưa hoàn thành, và không hề gây ra ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của ngôi đền. Trong xưởng tràn ngập tiếng gõ của những chiếc cuốc chim đang chẻ nhỏ từng viên gạch men, và trên tường xếp hàng những tấm mosaic chưa hoàn tất chờ được tôn tạo hoặc trùng tu lại. (Ảnh: Alexandra Reynolds)

Món quà kỷ niệm


Alexandra ReynoldsBản quyền hình ảnh Alexandra Reynolds
Sự đóng góp, ủng hộ mà các nghệ sĩ nhận được một phần từ bán những viên gạch cho lượng khách du lịch ít ỏi đến thăm ngôi đền. Tiền được dùng để mua những vật liệu đơn giản như bút chì và giấy để làm hoa văn.
Ngôi đền mở cửa cho tất cả khách tham quan, trừ thời gian cầu nguyện 5 lần mỗi ngày bắt buộc trong nghi thức Hồi giáo. Xưởng gạch nằm ở góc phía đông nam ngôi đền. Đền không thu phí vào cửa, nhưng mọi sự ủng hộ, hỗ trợ đều được trân trọng đón nhận. (Ảnh: Alexandra Reynolds)
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

http://www.bbc.com/vietnamese/vert-tra-38834150

maandag 23 juni 2014

Trung Ðông: ‘Thánh chiến,’ lực lượng ISIL và ranh giới Sykes-Picot

Thánh chiến và lịch sử 
Wednesday, June 18, 2014 1:16:33 PM 





‘Thánh chiến,’ lực lượng ISIL và ranh giới Sykes-Picot

Hùng Tâm/Người Việt

Trong một bộ chỉ huy của Bộ Binh Hoa Kỳ tại Fort Benning ở tiểu bang Georgia, có lẽ Thiếu Tướng H.R. McMasters đang vò đầu bứt tai về chiến sự Iraq với những suy tư về lịch sử địa cầu và chính trị Hoa Kỳ.... 
*** 

Bán văn bán võ từ Việt Nam tới Trung Ðông

Sinh năm 1962, phục vụ Quân Lực Mỹ từ ba chục năm nay, Tướng Herbert Raymond McMasters là loại sĩ quan “Không giống ai,” nhưng được ngợi ca là một chiến tướng Hoa Kỳ của thế kỷ 21.

Khi còn là thiếu tá, năm 1997, ông cho xuất bản luận án tiến sĩ về sử học. Cuốn “Chểng mảng trong công vụ” (Derelection of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, The Joint Chiefs of Staff, and the Lies that Led to Vietnam) nghiên cứu lại cuộc chiến Việt Nam và nêu ra sai lầm của lãnh đạo, từ Tổng Thống Johnson tới tổng trưởng Quốc Phòng McNamara và các tướng lãnh trong Bộ Tổng Tham Mưu, khiến Hoa Kỳ bại trận.

Là sĩ quan tại chức mà in sách phê phán lãnh đạo về những lầm lẫn chiến lược thì quả là “không giống ai.” Nhưng luận án trở thành kinh điển sinh viên sĩ quan phải đọc và là tài liệu giảng huấn cho thủy quân lục chiến!

Không chỉ là người uyên bác, McMasters là chiến binh có thành tích trên các chiến trường Iraq, Afghanistan rồi Iraq, nổi tiếng với việc bình định thành phố Tal Afar tại Iraq 10 năm về trước. Tal-Afar ở vùng Tây-Bắc là đất sinh hoạt, và tàn sát, của dân Iraq thuộc hệ phái Sunni, cùng dân Iraq gốc Thổ và người Kurd! McMasters đã vào đó hoàn thành nhiệm vụ với sự cảm phục của mọi phe trong cuộc.

Sau mỗi chiến dịch, ông trở về rút tỉa kinh nghiệm và tổng kết các bài học cho việc giảng huấn tại West Point và sau này là sĩ quan tham mưu cho Ðại Tướng David H. Petraeus về chiến lược chống nổi dậy.

Là sĩ quan cứng đầu, được binh lính kính trọng và thượng cấp ngợi khen, McMasters vẫn chậm lên lon chuẩn tướng (2008) rồi thiếu tướng (2012) vì nhiều người cứ sợ một ông tướng dám nói ngược! Tháng Tư năm nay, H.R. McMasters được tuần báo TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới.

Nhưng tại sao “Hồ Sơ Người-Việt” lại mở đầu về một sĩ quan ưu tú của Quân Lực Hoa Kỳ?

Vì Tal-Afar vừa rơi vào tay lực lượng Sunni xưng danh “quốc gia Iraq và Ðông phương” (Islamic State of Iraq and the Levant -ISIL), một nhóm vũ trang phất cờ Thánh Chiến Jihad từ Syria tràn qua. Do tổ chức khủng bố al-Qaeda mà ra, ISIL lại bị lãnh tụ còn lại của al-Qaeda kết án là quá khích và hiếu sát!

Vốn đã dày công hãn mã tại một khu vực đa sắc tộc và nhiễu nhương nhất của Iraq thì một sĩ quan tác chiến và tiến sĩ lịch sử như H.R. McMasters phải trở lại chuyện trăm năm về trước... 
*** 

Lằn Ranh Sykes-Picot của trăm năm trước

Ngay giữa Thế Chiến I (1914-1918), cuối năm 1915, hai đế quốc về già là Anh và Pháp đã mật đàm và có mật ước với nhau. Một đế quốc sắp đổi chủ là nước Nga có tham dự vào mật ước đó. |

Do hai Ngoại trưởng Anh và Pháp hoàn thành vào Tháng Năm 1916, mật ước mang tên của hai người (Sir Mark Sykes và Francois Georges-Picot) nhắm vào việc chia phần tại Cận Ðông nếu đế quốc Ottoman thất trận và tan rã. Là chân thứ ba trong thế Liên Hoành Tam Quốc (Triple Entente, Anh, Pháp, Nga), nước Nga cũng dây máu ăn phần, cho tới khi chế độ Sa hoàng tiêu vong vì “Cách Mạng Tháng Mười.”

Nói lại cho gọn, trước đà chiến thắng trên xác chết của đế quốc Hồi giáo Ottoman, ba nước Âu Châu chia nhau vùng ảnh hưởng như chiến lợi phẩm. Họ vẽ lại bản đồ Cận Ðông, từ biển Ðịa Trung Hải vào bên trong, với những địa danh đang trở thành thời sự như Syria, Lebanon, Jordan, Iraq, Iran, Turkey, Saudi Arabia, v.v...

Khi ấy, Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài, chưa tham chiến mà cũng chẳng muốn liên hệ gì tới chuyện tam phân ngũ liệt tại vùng đất mà Pháp gọi là Levant, mặt trời mọc, hay ash-Sham theo tiếng Á Rập, xuất xứ của cái tên ISIL lạ hoắc!

Ngày nay, Mỹ phải giải quyết mâu thuẫn giữa các phe các nước do lịch sử để lại!

Lý do là mật ước Sykes-Picot đã xóa nhòa rồi đảo lộn các lằn ranh sắc tộc và tôn giáo trong thế giới Hồi Giáo, nhưng thuộc các hệ phái Sunni hay Shia, hoặc các sắc tộc Á Rập, Ba Tư, Thổ, hay Kurd. Chuyện lộn giống kéo dài cả trăm năm thành mớ bòng bong như một tổ ong có quá nhiều ong chúa.

Hai đế quốc tàn tạ là Anh và Pháp thì đã phủi tay rũ áo. Một đế quốc mới hồi sinh từ Liên Xô đổ nát là liên bang Nga thì cố tái diễn trò mật ước năm xưa để chinh phục lại ảnh hưởng đã mất. Một siêu cường rất trẻ là Hoa Kỳ thì chỉ đòi tháo chạy khỏi tổ ong Hồi Giáo, mà vẫn bị các nước tại chỗ, như Turkey, Saudi Arabia, Iran hay Iraq, gọi giật lại.

Họ muốn Mỹ vào duy trì cách phân vùng theo lằn ranh Sykes-Picot năm xưa của các đế quốc Âu châu. Nhưng các lực lượng Hồi giáo quá khích xưng danh thánh chiến thì đòi xóa bài làm lại.

Xóa bằng hành động diệt chủng để thành lập một đế quốc Hồi giáo thuần chủng và tinh khôi. Khủng bố hay nổi dậy chỉ là phương pháp. Ðộng lực là chủ nghĩa dân tộc, thật ra là sắc tộc, dưới sự hướng dẫn của một hệ phái tôn giáo cực đoan, một chủ nghĩa tôn giáo nhuốm mùi Phát Xít.

Vì cuốn băng tuyên truyền có tên là “The Destruction of Sykes-Picot” do lực lượng ISL vừa tung ra trên mạng, Hồ Sơ Người-Việt mới trở lại chuyện trăm năm. Làm sao Hoa Kỳ giải quyết nổi bài toán ấy nếu quên lịch sử nhìn từ giác độ của các nước trong cuộc?

Chúng ta hãy điểm lại sự tính toán của các nước.

 
***
 
Iran Giật Dây Rồi Ngã Vào Iraq 
 
 
Sau khi cường quốc đối thủ là Iraq đổi chủ nhờ cuộc tấn công của Hoa Kỳ năm 2003, các Giáo chủ Iran tại thủ đô Tehran có cơ hội yểm trợ hệ phái đa số là dân Shia để khuynh đảo và đẩy lui ảnh hưởng của hệ phái Sunni thiểu số tại Iraq. Theo hệ phái Shia (thiểu số trong thế giới Hồi giáo toàn cầu) và thuộc sắc tộc Ba Tư, Iran còn muốn bành trướng ảnh hưởng, cạnh tranh với thế lực Sunni và lực lượng khủng bố al-Qaeda, một mũi nhọn cực kỳ quá khích của hệ phái Sunni. 

Trước đó, năm 2001, khi Mỹ mở chiến dịch Afghanistan để truy lùng al-Qaeda và chế độ bảo trợ khủng bố là Taliban, Iran kín đáo hợp tác để nhờ tay Mỹ triệt hạ phe Sunni trong xứ láng giềng ở hướng Ðông. Có đầy tham vọng, Iran cũng nuôi quân khủng bố của mình là lực lượng Hezbollah tại Lebanon, và ra sức yểm trợ chế độ Bashar al-Assad tại Syria. 

Thành tích của Iran là vừa đánh vừa đàm với Hoa Kỳ về kế hoạch chế tạo vũ khí hạch tâm, lại vừa nuôi khủng bố của mình, vừa diệt khủng bố của đối thủ lại bảo vệ được chế độ Syria và xây dựng được thế lực của mình tại Iraq qua hệ phái Shia, dù là dị tộc thì cũng là đồng đạo. 

Nào ngờ là sau ba năm nội chiến tại Syria, từ 2011, nếu chế độ al-Assad vẫn tồn tại thì lực lượng Sunni chống Assad cũng lớn mạnh và kết tinh vào tổ chức ISIL, từ Syria tràn qua Iraq làm đảo lộn trật tự Shia của các giáo chủ tại Tehran! Lực lượng ISIL khó nuốt chửng Iraq hay tấn công Iran, nhưng vẫn làm tiêu hao công trình đầu tư và gây thêm tốn kém cho Iran. Từ thế công, các giáo chủ Iran bị vướng dây tại Iraq và rơi vào thế thủ! 

Và họ rất hài lòng khi Ngoại Trưởng John Kerry của Mỹ ướm lời kêu gọi hợp tác để diệt trừ ISIL. Sẽ lại lợi dụng Hoa Kỳ lần nữa. 

Nhưng Iraq cũng tiếp cận với Saudi Arabia, một cường quốc đối thủ của Iran. 
***

Hoàng gia Saudi và cuộc đi đêm với Putin


Thời sự cứ viết Saudi Arabia là cường quốc dầu hỏa, đồng minh chiến lược của Mỹ và cừu thù của Iran. Sự thể rắc rối hơn vậy.

Lãnh đạo vương quốc Saudi Arabia là hoàng gia Saudi, thuộc sắc tộc Ả Rập theo hệ phái Sunni. Ngồi trên biển dầu, họ nuôi một nhóm lý luận Sunni cực đoan nhất là phong trào Wahhabi - nhóm “linh hướng” của lực lượng al-Qaeda. Và trùm khủng bố Osama bin Laden của al-Qaeda là một trí thức thuộc một gia đình quyền thế người Saudi.

Hoàng gia Saudi không mấy yên tâm với Mỹ dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Barack Obama. Hoa Kỳ muốn tháo chạy khỏi Iraq bằng mọi giá, lại bàn giao chuyện Syria cho Nga và đàm phán riêng với Iran. Dù ít thiện cảm với lực lượng ISIL quá khích, mà họ gọi là quân khủng bố, lãnh đạo Saudi cố quậy cho nát chuyện Syria, gây rối cho Iran tại xứ Iraq và nếu cần thì nói chuyện thẳng với Liên bang Nga để ngăn ngừa ảnh hưởng của Tehran!

Trước khi thế giới kịp bàng hoàng về sự vùng dậy của lực lượng ISIL tại Iraq, hôm mùng ba Tháng Sáu vừa qua, Tổng Thống Vladimir Putin mời ngoại trưởng Saudi đến tư thất của mình tại khu nghỉ mát Sochi để đàm đạo và nói chuyện với ngoại trưởng Nga. Họ tính những gì?

Nội loạn Iraq sẽ thổi giá dầu lên trời, điều có lợi cho hai nước xuất cảng là Nga và Saudi Arabia. Bị cuốn hút vào hồ sơ Trung Ðông, Hoa Kỳ đành nhịn Putin về chuyện Ukraine. Bị hao mòn lực lượng tại Iraq, các giáo chủ Iran khó bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Hồi giáo và thách đố quyền lực Saudi. Và nước Mỹ sẽ khó quên đồng minh Saudi khi đòi đàm phán với Iran!

Một đồng minh chiến lược khác của Hoa Kỳ cũng nhìn vào vụ khủng hoảng Iraq với mối nguy ISIL, đó là Cộng Hòa Thổ Nhĩ Kỳ, là xứ Turkey còn lại của đế quốc Ottoman, thành viên Hồi giáo duy nhất của Minh ước NATO. 
*** 

Turkey và mối lo Thổ dậy

Lãnh đạo xứ Turkey Hồi giáo, thuộc sắc tộc Thổ, không thể yên tâm về tình hình Iraq tại miền Nam lãnh thổ.

Iraq là thị trường xuất cảng lớn nhất của Turkey, sau nước Ðức. Iraq có sắc tộc Kurd tại miền Bắc giáp giới với Turkey, là lực lượng có ảnh hưởng trong vùng dầu khí, có liên hệ với dân Kurd trên đất Thổ, với khả năng vũ trang nhờ nhóm dân quân Peshmega để tự vệ và đòi quyền tự chủ thành một xứ Kurdistan.

Lãnh đạo Turkey liên kết với lãnh đạo thiểu số người Kurd tại Iraq và rất khó chịu về hơi hướng độc tài của Thủ Tưởng Nouri al-Maliki tại Baghdad. Họ đặc biệt thất vọng với việc Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Iraq và để lại một khoảng trống cực kỳ bất ổn cho mọi người.

Khi lực lượng ISIL vùng dậy và gây khó cho chính quyền al-Malaki tại Baghdad, Turkey càng khó yên tâm. Vừa phải đưa quân phòng thủ biên giới miền Nam, lãnh đạo Turkey tại thủ đô Ankara vừa lo ngại là trong đà suy nhược của Baghdad, các lực lượng dân quân người Kurd sẽ kiểm soát các kho dầu và càng dệt mộng với dự án thành lập xứ Kurdistan. Một nước Kurdsitan độc lập có nghĩa là dân Kurd tại miền Nam Turkey sẽ ly khai và trở thành công dân Kurdistan.

Vừa có súng, vừa có dầu, dân Kurdistan mà nổi dậy thì sẽ là vấn đề cho Thổ Nhĩ Kỳ! Nếu Hoa Kỳ lại còn tráo trở bắt tay Iran thì xứ Turkey sẽ phải tính lại.
Chúng ta cũng nên đọc lại lịch sử. 
***

Lịch sử sang trang

Sau hơn sáu thế kỷ thống trị ngang lục địa Âu-Á, từ 1299 đến 1923, đế quốc Ottoman của dân Thổ tan rã khi Thế Chiến II kết thúc. Trên sự hoang tàn của một đế quốc thâm niên, các cường quốc Âu Châu đã chia năm xẻ bảy nên mới ra cơ sự ngày nay với dăm ba sắc tộc và cả chục hệ phái Hồi giáo trên một vùng đất có dầu.

Còn lại trong trò chơi quái đản ấy của Âu Châu là nước Nga. Kế thừa sự nghiệp của Anh-Pháp cầu an là một siêu cường rất trẻ, là nước Mỹ.

Ðọc lại lịch sử thì sau khi lật đổ chế độ Sa hoàng để lập ra liên bang Xô Viết, chính đế quốc Liên Xô phanh phui mật ước Sykes-Picot củ Anh-Pháp-Nga để lấy lòng các nước Hồi giáo! Kế thừa di sản Xô Viết, Putin hiểu rõ bài học lịch sử và đang tận dụng mọi đòn bẩy tại Syria, Iran, hay Saudi để gây thêm nhiễu loạn cho Hoa Kỳ đi chữa cháy. Còn mình thì bán dầu và bán súng.

Khi lực lượng ISIL như từ trên trời rơi xuống và giết người không gớm tay rồi tung khẩu hiệu xóa bỏ lằn ranh Sykes-Picot để lập ra một Vương quốc mới, từ Lebanon qua Syria, Iraq và cả Jordan, người ta nên nhìn lại chuyện thánh chiến như trò chơi quyền lực ngàn đời của lịch sử.

Kết luận ở đây là gì?

Các chiến lược gia Hoa Kỳ mà có ý thức lịch sử thì nên học sử thật lẹ và hướng dẫn dư luận về những động lực sâu xa bên dưới khẩu hiệu. Ðể xác định lại quyền lợi thiết thực của nước Mỹ - và nước khác. Chuyện Trung Ðông hay Ðông Á cũng vậy mà thôi.

Còn lại ở tại chỗ thì trong vòng đua của thần thánh - hay quỷ dữ tùy cách gọi - tử thần giữ độc quyền chân lý và dân chủ không thể có tiếng nói.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=190188&zoneid=403#.U6h7TJR_vD4

zondag 4 november 2012

Trận thế Trung Ðông thay đổi

November 02, 2012

Ngô Nhân Dụng

Cuộc khủng hoảng ở Syria sắp bước qua một giai đoạn mới. Một hội nghị ở tiểu vương quốc Qatar trong tuần tới sẽ tập họp những lực lượng chống chế độ độc tài của Bashar al-Assad để tiến tới một “chính phủ lâm thời chuyển tiếp.”
Ðây là lần đầu tiên các giới lãnh đạo cuộc nổi dậy bắt đầu từ Tháng Ba năm 2011, ở trong và ngoài nước Syria sẽ nối kết thành một lực lượng chung; với sự thúc đẩy và hỗ trợ của Mỹ.
Hai nước Nga và Trung Quốc vẫn ủng hộ Assad đang bị gạt ra ngoài bàn cờ ở Syria; hoàn toàn mất uy tín trong cả vùng Trung Ðông. Hậu quả quan trọng hơn nữa là vì cuộc khởi nghĩa ở Syria mà cả trận thế trong vùng này đang thay đổi. Liên minh chống Mỹ của Iran đang suy yếu dần, cùng với chế độ Assad mà họ bảo trợ. Chính sách Mỹ đã lợi dụng được thế đối lập giữa hai ngành chính trong Hồi Giáo là phái Shi A và phái Sun Ni; hai tông phái từng xung đột đẫm máu từ hơn ngàn năm trước ở trong vùng này.
Trong 19 tháng qua, từ khi cuộc khởi nghĩa bắt đầu Nga vẫn tiếp tục cung cấp vũ khí cho nhà độc tài Bashar al-Assad để giết dân Syria. Chính quyền Assad đã tàn sát trên 30,000 thường dân và quân khởi nghĩa trong thời gian đó. Maskva và Bắc Kinh đã ba lần bỏ phiếu phủ quyết các quyết nghị của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nhằm ngăn cản các hành động tàn ác của chế độ Assad.
Ngay từ đầu chính phủ Mỹ vẫn giữ một thái độ dè dặt, ít nhất là ở bên ngoài. Mỹ tuyên bố không cung cấp vũ khí cho quân khởi nghĩa, mà chỉ trợ giúp nhân đạo cho các nạn nhân chiến cuộc. Nhưng đằng sau thái độ “không can thiệp” đó, các nước trong vùng đã được vận động để hỗ trợ cho các tổ chức chống Assad, vì quyền lợi tinh thần và an ninh của chính họ. Những nước đồng minh của Mỹ như Á Rập Sau Ði, Qatar đều giầu có nhờ dầu lửa, đã tích cực hơn trong việc hỗ trợ quân khởi nghĩa, bằng tiền bạc và vũ khí. Một nước láng giềng của Syria là Thổ Nhĩ Kỳ đã đứng về phía quân nổi dậy, vừa ngấm ngầm vừa công khai. Liên minh Thổ Nhĩ Kỳ, Qatar và Sau Ði giúp quân cách mạng; không những chống Assad mà còn đối đầu với Iran, quốc gia láng giềng khác đang ủng hộ Assad về mọi mặt.
Iran là quốc gia Hồi Giáo đông người theo phái Shi Ai nhất trên thế giới. Chính quyền Assad cũng nằm trong tay một phái Shi Ai nhỏ (gọi là Alawite) và trong nửa thế kỷ qua nhóm này đã thống trị đa số dân Syria theo phái Sun Ni. Ða số các nước Á Rập theo phái Sun Ni, dù trong mỗi nước đều có một thiểu số dân theo đạo Shi A; mà các nhóm Shi Ai này cũng thường được Iran hỗ trợ tiền bạc. Vì lý do đồng đạo, Iran đang viện trợ hàng tỷ đô la và là nguồn cung cấp vũ khí lớn cho chính quyền Assad đàn áp dân chúng, theo phái Sun Ni. Tiền bạc và vũ khí của Iran cũng được chuyển qua ngả Syria tới nước Lebanon, để giúp cho tổ chức Hezbollah, vừa là một đội dân quân vừa là một đảng chính trị. Hezbollah từng ủng hộ các cuộc nổi dậy của dân Tunisia, Egypt, Yemen, Libya và Bahrain chống các chế độ độc tài, nhưng nay lại ủng hộ Assad chống lại quân khởi nghĩa. Nhóm này đã nhận được nhiều tỷ đô la Mỹ từ Iran kể từ khi thành lập, 30 năm trước đây. Hezbollah tập hợp những người theo phái Shi A và hiện đang chiếm đa số trong chính quyền Lebanon.
Ngoài Hezbollah lâu nay Iran cũng cấp tiền và vũ khí cho cả nhóm Hamas, tổ chức chính trị quá khích đang cai trị vùng Gaza và giữ thế đối lập với chính quyền Palestine. Trên bàn cờ Trung Ðông, cuộc nổi dậy ở Syria tạo khung cảnh cho các người theo phái Shi A (Iran, Syria, và nhóm Hezbollah) đối đầu trực tiếp với phái Sun Ni (Sau Ði, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ). Tổ chức Hamas bị đặt vào thế khó xử. Họ được Iran tài trợ vì lập trường của họ là chống Israel kịch liệt; nhưng họ bắt buộc phải phản đối chính quyền Assad tàn sát những người Sun Ni đồng đạo. Nếu chống Assad mạnh quá thì họ lo sẽ không còn được Iran tài trợ nữa; tuy nhiên khi Iran yêu cầu nhóm Hamas tuyên bố ủng hộ chính quyền Assad thì họ đã phải từ chối.
Trận thế này bắt đầu thay đổi. Trong tuần qua, vị tiểu vương (emir) của Qatar trở thành người lãnh đạo đầu tiên của một quốc gia Á Rập đến thăm vùng Gaza và được nhóm Hamas tiếp đón long trọng. Biến cố này chứng tỏ Qatar sẵn sàng thay thế Iran viện trợ cho Hamas, và cũng gia tăng uy tín của tổ chức này để khuyến khích họ ôn hòa hơn. Từ đây, Hamas không còn quá lệ thuộc vào Iran nữa, có thể hoàn toàn đứng về phía quân nổi dậy ở Syria. Iran đã mất một đồng minh nữa trong liên minh chống Mỹ tại vùng Trung Ðông. Việc Iran ủng hộ Assad đến cùng đã khiến các nước Á Rập và theo phái Hồi Giáo Sun Ni coi Iran là một kẻ thù.
Trong tương lai, khi chế độ Assad sụp đổ, Iran càng bị cô lập và suy yếu hơn. Iran bị các nước Tây phương cấm vận, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế; số thu nhập nhờ bán dầu lửa xuống thấp, đồng tiền Iran có tuần lễ bị mất một phần ba giá trị so với Mỹ kim. Thứ Ba vừa qua, bộ trưởng Quốc Phòng Israel mới tiết lộ tin tình báo cho biết chính quyền Iran đã phải chuyển hướng, giảm bớt bớt việc tinh luyện uranium để chế bom nguyên tử; khiến khả năng chế tạo bom của họ bị trì hoãn thêm từ 8 đến 10 tháng. Sau khi chính phủ Israel tìm cách thúc đẩy Mỹ phải ủng hộ việc tấn công ngay vào các cơ sở nguyên tử ở Iran nhưng không thành công, lời tiết lộ của ông Ehud Barak cho thấy chính quyền Israel đã phải lùi bước, chính thức công nhận cuộc cấm vận đã có hiệu quả.
Trong khi đó thì tại Syria Mỹ đã chuyển sang thái độ tham dự tích cực hơn vào việc hỗ trợ các nhóm nổi dậy. Không những thế, sau 19 tháng đứng ngoài, nay Mỹ lại trực tiếp can thiệp vào việc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Syria. Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton vừa mới kêu gọi cần phải “tổ chức lại” cơ cấu lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Syria, bằng cách mời những người đang lãnh đạo mặt trận trong nước tham gia, mà bà ca ngợi là những người “đang chiến đấu và sẵn sàng chết để được sống tự do.” Bà chỉ trích tổ chức lãnh đạo hiện nay chỉ gồm những lãnh tụ đối lập sống ở ngoại quốc, “những người không hề đặt chân trên đất Syria từ 30, 40 năm qua” như bà nhấn mạnh trong lúc đang công du ở nước Croatia. Và việc kết hợp này sẽ được thực hiện trong hội nghị ở Qatar trong tuần tới. Trước khi một chính quyền chuyển tiếp thành hình, bà Clinton cũng nhấn mạnh giới lãnh đạo sắp tới của Syria phải loại bỏ những thành phần quá khích: “Không để cho những nhóm quá khích cướp quyền lãnh đạo” cuộc cách mạng ở Syria. Bà tiết lộ, trong tháng trước Mỹ đã bí mật giúp đưa một số người lãnh đạo quân khởi nghĩa ra khỏi nước Syria, sang họp với nhau ở New York, để thảo luận việc tham gia vào tổ chức lãnh đạo sắp ra đời.
Tiết lộ trên, cùng những lời kêu gọi thay đổi thành phần lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Syria cho thấy chính quyền Mỹ chịu đóng một vai trò tích cực trong việc lật đổ chế độ Assad, mặc dù bên ngoài họ vẫn nói không tiếp tế vũ khí cho quân cách mạng. Giống như chính sách áp dụng trong thời gian dân Lybia nổi dậy vào năm ngoái, Mỹ đã để cho các nước đồng minh đóng vai chủ động trên mặt trận, còn nước Mỹ chỉ hỗ trợ đàng sau. Tại Lybia, máy bay và quân đội các nước Âu Châu như Pháp, Ý đóng vai chính trong việc hỗ trợ quân cách mạng. Hành động công khai duy nhất của Mỹ là phóng 112 chiếc hỏa tiễn Tomahawk từ Ðịa Trung Hải. Nhờ hệ thống vệ tinh gián điệp xác định vị trí, các mũi tên lửa đắt tiền này tấn công vào 20 căn cứ quân sự thiết yếu của chế độ Gadhafi, như hệ thống phòng không, giàn radar báo động, các trung tâm truyền tin đầu não, vân vân. Nhờ thế, quân nổi dậy và máy bay của các nước Âu Châu được tự do hành động. Mỗi chiếc hỏa tiễn Tomahawk tốn hàng triệu đô la, nhưng một đợt tấn công tốn vài trăm triệu này đã xoay chuyển cuộc chiến, cuối cùng chế độ Gadhafi bị lật đổ.
Trong trường hợp Lybia năm ngoái, việc can thiệp được chính thức hóa với một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc cho phép. Còn tại Syria năm nay, Nga và Trung Quốc ngăn cản đến cùng, đã ba lần phủ quyết các quyết nghị làm áp lực trên chế độ Assad! Mỹ chỉ can thiệp gián tiếp, dựa vào hai đồng minh Á Rập giầu có và Thổ Nhĩ Kỳ, nước láng giềng phía Tây Bắc của Syria, dân cũng theo Hồi Giáo nhưng không thuộc giống Á Rập. Nga, Trung Cộng và Iran không thể nào ngăn cản các nước Hồi Giáo trong vùng Trung Ðông chống Assad để cứu những người đồng đạo.
Trong 19 tháng qua, đằng sau bề ngoài “không can thiệp, chỉ trợ giúp nhân đạo” Mỹ đã liên lạc bí mật với các nhóm dân quân nổi dậy trong nước Syria, để có thể lựa chọn và đưa một số lãnh tụ khởi nghĩa từ bên trong Syria tới họp với nhau ở New York trong tháng trước. Sau khi đã đạt được thỏa thuận với nhóm này và đưa họ tới Thổ Nhĩ Kỳ gặp gỡ giới lãnh đạo của liên minh hải ngoại chống Assad, bà Clinton mới lớn tiếng yêu cầu nhóm cầm đầu phe khởi nghĩa, phải bao gồm đại diện của những người đang chiến đấu trong nước, và phải loại trừ những thành phần quá khích. Bà Clinton còn trình bày ý kiến một cách “trắng trợn,” nói công khai rằng: “Chúng tôi đã đề nghị tên các nhân vật và các tổ chức phải có mặt trong thành phần lãnh đạo tương lai!”
Mặt trận vùng Trung Ðông đang biến chuyển. Nước Mỹ có vẻ đã khôn ra. Họ đang chiếm được lợi thế mà không phải chi tiêu tốn kém cũng như không thiệt hại nhân mạng như khi can thiệp trực tiếp vào Iraq trước đây 11 năm.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=157229&zoneid=7

zaterdag 8 oktober 2011

Nobel Hòa Bình vinh danh nữ quyền ở Châu Phi, Trung Ðông

October 07, 2011
OSLO, Na Uy (Reuters) - Ủy ban Nobel Na Uy hôm Thứ Sáu loan báo quyết định trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2011 cho ba phụ nữ Phi Châu và Trung Ðông “đã tranh đấu bất bạo động cho an toàn của nữ giới và quyền người phụ nữ được tham gia vào công cuộc kiến tạo hòa bình”.

Bà Tawakul Karman, người Yemen - được một phần ba giải Nobel Hòa Bình năm nay - là khuôn mặt then chốt trong nhóm biểu tình chống chính quyền Tổng Thống Saleh. (Hình: Gamal Noman/AFP/Getty Images)

Ba vị khôi nguyên có những thành tựu khác nhau. Một người đối mặt với các phe vũ trang Liberia đòi chấm dứt tệ nạn hiếp dâm vợ con đối phương. Một người là phụ nữ đầu tiên và duy nhất lãnh đạo một nước Châu Phi. Và một người từng bị bắt giữ trong cuộc biểu tình chống tổng thống Yemen.
Ba phụ nữ đoạt giải gồm hai người Liberia: Ellen Johnson-Sirleaf, Leymah Roberta Gbowe; và một người Yemen: Tawakul Karman.
“Chúng ta không thể đạt được dân chủ và hòa bình lâu dài trên thế giới trừ khi phụ nữ có được cùng cơ hội như nam giới để ảnh hưởng tới sự phát triển ở mọi tầng lớp của xã hội,” ủy ban Nobel viết.
Bà Ellen Johnson-Sirleaf, 72 tuổi, làm tổng thống Liberia từ năm 2006 đến nay. Phong trào hòa bình của bà Leymah Gbowe, 39 tuổi, góp phần vào sự chấm dứt cuộc nội chiến lần thứ hai ở Liberia năm 2003. Tawakul Karman, 32 tuổi, dân Yemen là phụ nữ Á Rập đầu tiên chiếm được vinh dự này, bà đã bị bắt giữ một thời gian ngắn trong phong trào biểu tình chống Tổng Thống Ali Abdullah Saleh.
Bà Karman tuyên bố với phóng viên Reuters: “Ðây là một chiến thắng của nhân dân, của cuộc cách mạng Yemen và toàn thể phong trào cách mạng ở Trung Ðông”. Bà nói thêm: “Tín hiệu này chứng tỏ thời đại của những nhà độc tài Á Rập đã hết”.
Bà Karman là một bộ mặt then chốt trong giới trẻ kể từ khi những người tranh đấu bắt đầu biểu tình từ tháng 2 ở thủ đô Sanaa chống chính quyền 30 năm của Tổng Thống Saleh. Bà thường xuyên là tiếng nói của những người tranh đấu trên truyền hình Á Rập, trực tiếp tường trình từ công trường bên ngoài đại học Sanaa, đồng thời là một “blogger” trao đổi tin tức và chuyển lời kêu gọi dân chúng qua Internet.
Bà Karman là một đảng viên cao cấp đảng Hồi Giáo Islamist Isslah. Giáo Sĩ Mohsen al-Awajy người Saudi Arabia ca ngợi bà, nói rằng: “Những người bảo thủ có thể có thái độ dè dặt và một số quan điểm hẹp hòi, nhưng họ không khoác nhận định ấy lên những mục tiêu toàn cầu của họ. Tôi nghĩ rằng mọi người dân Saudi và tất cả những ai yêu chuộng tự do và cải cách nên nhìn về Karman như một phụ nữ xuất sắc đáng được đánh giá cao”.

Tổng Thống Ellen Johnson-Sirleaf nói chuyện với báo chí tại nhà riêng ở Monrovia, Liberia sau khi có tin nhận giải Nobel Hòa Bình năm nay. (Hình: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)

Một giới chức chính quyền Yemen cũng ca tụng Tawakul Karman. Thứ Trưởng Thông Tin Abdu Al-Janadi nói: “Tôi rất vui mừng với tin bà được giải Nobel và đó là điều mà tất cả mọi người dân Yemen có quyền tự hào. Tôi hy vọng rằng giải thưởng này sẽ là một bước tiến tới chỗ hữu lý, đưa đến một giải pháp cho cuộc khủng hoảng đã làm ngưng trệ nền kinh tế và sự phát triển của đất nước”.Trường hợp hai phụ nữ Liberia, giải Nobel Hòa Bình dành cho họ không gây nhiều tranh luận. Bà Leymah Gbowee sinh tại miền Trung Liberia và đến năm 17 tuổi chuyển về sống tại thủ đô Monrovia đúng lúc cuộc nội chiến thứ nhất bùng nổ. Bà được huấn luyện thành một cố vấn tâm thần và làm việc với các thiếu niên cựu chiến binh trong quân đội của Charles Taylor, một sứ quân sau này thành tổng thống. Ðối diện với hình ảnh tàn bạo của chiến tranh, Gbowee - bà mẹ có 6 con - ý thức rằng “nếu có thể làm điều gì để thay đổi xã hội thì phải từ các bà mẹ”.
Năm 2002 bà Gbowee thành lập phong trào phụ nữ tranh đấu vì hòa bình và tổ chức những cuộc biểu tình bất bạo động. Bà đòi hỏi các phe giao tranh chấm dứt tệ nạn dùng hiếp dâm để uy hiếp phe địch. Phong trào tranh đấu cho hòa bình của bà đã thuyết phục được các phe đối kháng đi vào đàm phán kết thúc cuộc nội chiến lần thứ hai năm 2003. Bà trở thành nhân vật chính trong cuốn phim tài liệu năm 2008, “Cầu cho quỷ dữ trở về địa ngục”, được dùng để động viên phụ nữ các nước Phi Châu tranh đấu cho nền hòa bình và cuộc sống an toàn của họ.
Sau khi nội chiến chấm dứt năm 2003, bà Ellen Johnson-Sirleaf được bầu làm tổng thống năm 2005 và tái ứng cử năm nay. Bà từng theo học và tốt nghiệp nhiều trường đại học Hoa Kỳ. Trong nhiệm kỳ đầu, bà đã thanh toán được một phần lớn nợ của quốc gia, phát triển bang giao với các nước Phi Châu, Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Năm 2006, bà Johnson-Sirleaf cho thành lập Hội Ðồng Sự Thật và Hòa Giải, cổ vũ hòa bình, an ninh, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Bà là thành viên “Hội Ðồng Các Phụ Nữ Lãnh Ðạo Trên Thế Giới” bao gồm đương kim và cựu nữ tổng thống, nữ thủ tướng các quốc gia, hoạt động với mục tiêu thúc đẩy phụ nữ tham gia hành động chung vào sự phát triển và trong những vấn đề có tầm quan trọng toàn cầu.
Bà Johnson-Sirleaf lên tiếng cùng với cộng đồng quốc tế kêu gọi Muammar al-Gadhafi chấm dứt sử dụng bạo lực đàn áp dân chúng. Tuy nhiên bà chỉ trích sự can thiệp quân sự vào Libya vì cho rằng “bạo lực bằng mọi cách không giúp ích cho tiến trình giải quyết vấn đề”.
Giải Hòa Bình là một trong 5 giải thưởng Nobel được cấp phát hàng năm. Khác với 4 giải kia - Vật Lý, Hóa Học - Văn Chương, Kinh Tế - do Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển tuyển chọn, giải Hòa Bình do một hội đồng được Quốc Hội Na Uy chỉ định trách nhiệm tuyển chọn.

Tân khôi nguyên Nobel Hòa Bình Leymah Gbowee nói chuyện tại đại học Columbia University ở New York sau khi nhận tin đoạt giải. (Hình: Timothy A. Clary/AFP/Getty Images)

Theo nguyện vọng của Alfred Nobel (1833-1896) - hóa học gia, kỹ sư, nhà sáng chế và kỹ nghệ gia vũ khí người Thụy Ðiển - giải Hòa Bình được cấp phát cho những người “...đã nỗ lực xây dựng được mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa các quốc gia, giải trừ hay giảm thiểu lực lượng quân đội và duy trì, cổ vũ nền hòa bình”.
Giải Hòa Bình luôn luôn gây ra nhiều tranh luận, mâu thuẫn ý kiến. Lý do chính là vì trong khi 4 giải Nobel kia thường căn cứ trên những thành tích trong quá khứ có thể lâu tới một hai thập niên trước, giải Hòa Bình được định đoạt qua những yếu tố mới hơn hoặc sự kiện còn đang diễn tiến. Nhận định trong dư luận về những sự kiện này khác nhau và đôi khi rất trái ngược, do đó nảy ra những lời phê phán cho là quyết định tuyển chọn bị ảnh hưởng về chính trị. Mặt khác rất khó đặt ra một định chuẩn cụ thể để phán đoán và như vậy sự đánh giá của các thành viên trong hội đồng Nobel Hòa Bình rất có thể sót hay sai lầm. Theo quy định, hội đồng không giải thích và những chi tiết về việc thảo luận, bàn bạc, quyết định được giữ kín cho tới 50 năm sau mới có thể công bố.
Dù sao giải Nobel Hòa Bình vẫn là giải có uy tín lớn lao trên thế giới và những người được tặng thưởng đều có một giá trị nhất định. Con số những đề xuất cho cá nhân hay tập thể - phải nạp cho hội đồng Nobel trước ngày 1 tháng 2 hàng năm - mỗi ngày mỗi gia tăng. Năm 2009 có 205 đề nghị, năm 2010 là 237 và năm nay lên tới 241. (H.C.)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=138180&z=5