Posts tonen met het label Thế chiến II. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Thế chiến II. Alle posts tonen

zondag 12 augustus 2018

Đại học Quốc gia Seoul Phát hiện ra phim 'nô lệ tình dục' cho lính Nhật trong Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Mỹ + Nhật và 'nô lệ tình dục' thời Thế chiến II

Phát hiện ra phim 'nô lệ tình dục' cho lính Nhật

  • 10 tháng 7 2017
Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem

Phim bằng chứng 'nô lệ tình dục' Hàn Quốc

Phim bằng chứng 'nô lệ tình dục' Hàn Quốc
Hàn Quốc vừa công bố những hình ảnh video mà họ nói là lần đầu tiên về những phụ nữ bị buộc phải làm nô lệ tình dục cho binh lính Nhật trong Đại chiến thế giới thứ hai.
Do các quân nhân Mỹ quay tại Trung Quốc, đoạn video này được các nhà nghiên cứu do chính phủ tài trợ tại Đại học Quốc gia Seoul tìm thấy trong Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Mỹ.
Đoạn video cho thấy một số phụ nữ đứng dàn hàng ngang đang nói với một số binh lính Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau khi họ tiến vào một địa phương bị Nhật chiếm đóng trước đó.
'Lính Hàn Quốc lạm dụng phụ nữ VN'
Seoul phản đối Nhật về nô lệ tình dục
Nhật và 'nô lệ tình dục' thời Thế chiến II
Các nhà hoạt động Nam Hàn ước tính 200.000 phụ nữ đã bị buộc phải vào các nhà chứa để phục vụ cho quân đội Nhật Bản.
Họ được xác định là người Hàn nhưng cũng có cả phụ nữ người Trung Quốc, Indonesia, Philippines và Đài Loan.
Trong các tài liệu lịch sử từng có cách gọi họ là 'phụ nữ mua vui' (comfort women) cho lính Nhật, nhưng về sau này, báo chí quốc tế gọi thẳng đây là 'nô lệ tình dục' (sex slaves).

Lần đầu tiên có phim tư liệu

Cho tới nay, các tư liệu duy nhất về những phụ nữ bị buộc phải làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật trong Đại chiến thế giới thứ hai chỉ là ảnh và lời kể của những người sống sót.
Hình ảnh từ đoạn phim mới tìm được cho thấy những phụ nữ bị buộc làm 'nô lệ tình dục' cho binh lính Nhật thời Đại chiến thế giới thứ haiBản quyền hình ảnh US National Archive
Image caption Hình ảnh từ đoạn phim mới tìm được cho thấy những phụ nữ bị buộc làm 'nô lệ tình dục' cho binh lính Nhật thời Đại chiến thế giới thứ hai
Nhóm nghiên cứu nói đoạn phim này được các binh lính Trung Hoa Dân quốc và Hoa Kỳ quay tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nơi trước đây bị Nhật chiếm đóng.
Bảy phụ nữ Hàn Quốc được giải thoát năm 1944 và viên sĩ quan nói chuyện với họ được xác định là một vị chỉ huy của lực lượng phối hợp Trung - Mỹ, nhóm nghiên cứu nói.
Vấn đề này đã gây căng thẳng cho quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản về chuyện bị cho là thiếu những hành động xin lỗi và đền bù thích đáng từ Nhật Bản.
Hồi năm 2015, hai nước đã đạt được một dàn xếp mà theo đó chính phủ Nhật Bản đã chính thức xin lỗi và đồng ý trả một tỷ yên Nhật (tương đương 8,3 triệu đô la) cho các nạn nhân.
Nhiều người Hàn Quốc cho rằng lời xin lỗi đó là chưa đủ và vấn đề này tiếp tục ảnh hưởng tới quan hệ giữa hai quốc gia.
Hồi tháng Giêng, Nhật Bản đã tạm thời rút đại sứ của họ tại Hàn Quốc liên quan tới một bức tượng 'những phụ nữ mua vui' được đặt bên ngoài Tòa lãnh sự Nhật ở Busan.
Một bức tượng tương tự cũng được đặt bên ngoài Tòa lãnh sự Nhật ở Seoul, và chính phủ Nhật muốn cả hai bức tượng này phải được dời đi.

https://www.bbc.com/vietnamese/world-40555654

03 Tháng 3 2007 - Cập nhật 11h17 GMT

Seoul phản đối Nhật về nô lệ tình dục

Nam Hàn đã chỉ trích thủ tướng Nhật vì đưa ra câu hỏi liệu quân đội Nhật có buộc phụ nữ làm nô lệ tình dục thời Thế Chiến 2 hay không.
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã làm nhiều người tức giận khi tuyên bố hôm thứ năm rằng "không có bằng chứng cho thấy một sự ép buộc nào."
Bộ trưởng ngoại giao Nam Hàn Song Min-soon nói rằng tuyên bố này "không có ích gì" và cần phải đối mặt với sự thật.
Các nhà sử học tin rằng ít nhất 200.000 phụ nữ đã bị buộc phải phục vụ trong các nhà thổ dành cho binh sĩ Nhật hồi Thế Chiến II.
Một người phát ngôn của nội các Nhật bản có vẻ đã làm dịu bớt những nhận xét của thủ tướng Abe khi nói rằng thủ tướng có cùng quan điểm với lời xin lỗi của chính phủ hồi năm 1993 về việc sử dụng phụ nữ làm tiêu khiển hồi Thế Chiến.
Nhưng ông Song nói rằng những nhận xét của thủ tướng Nhật không thể hiện nỗ lực xây dựng quan hệ tốt hơn giữa hai nước Nhật bản và Nam Hàn.
Xem xét lại
Ông Abe nói với báo chí hôm thứ năm: "Vẫn luôn có những tranh cãi về việc liệu những người phụ nữ có bị ép buộc hay không."
"Nhưng trên thực tế không có bằng chứng nào cho thấy có sự ép buộc này."
Quốc hội Mỹ hiện đang xem xét một nghị quyết kêu gọi Tokyo "chính thức công nhận, xin lỗi và chấp nhận trách nhiệm lịch sử" về vấn đề bắt phụ nữ tiêu khiển cho lính.
Bản thảo nghị quyết này được đưa ra bàn tại Hạ viện hồi tuần trước. Bộ trưởng ngoại giao Nhật bản đã chỉ trích điều này là "không dựa trên những thông tin khách quan."
Một số chính trị gia bảo thủ của Nhật đã đặt ra câu hỏi về quy mô của những hành hạ thời chiến tại Nhật.
Một số đang tìm cách làm thu hẹp những công nhận của chính phủ hồi năm 1993 rằng Quân đội Nhật đã lập ra và quản lý các nhà thổ để phục vụ quân lính thời chiến.
Bồi thường
Nghị quyết của quốc hội Mỹ đang tìm cách phản đối lại những động thái nhằm thu hẹp phạm vi những công nhận trước đây của chính phủ Nhật.
Ba phụ nữ trước đây làm tiêu khiển cho lính Nhật đã ra làm chứng tại Mỹ, họ kể về những cuộc tra tấn và hãm hiếp mà họ phải hứng chịu từ phía lính Nhật.
Rất nhiều người trong số những phụ nữ phải phục vụ lính Nhật thời chiến tới từ Triều tiên và Trung quốc. Nhiều người vẫn đang đòi bồi thường từ phía chính phủ Nhật bản.

Tokyo đã thành lập một quỹ bồi thường năm 1995, nhưng quỹ này lệ thuộc vào tiền quyên góp được chứ không phải được chính phủ tài trợ.

https://www.bbc.com/vietnamese/regionalnews/story/2007/03/printable/070303_skorea_sexslave.shtml

Nhật và 'nô lệ tình dục' thời Thế chiến II

  • 4 tháng 8 2015
Bản quyền hình ảnh Getty
Image caption Nhật bị cáo buộc là đã ép nhiều phụ nữ Triều Tiên làm nô lệ tình dục phục vụ binh lính Nhật trong thời gian Đại chiến Thế giới II
Bảy mươi năm sau khi Đại chiến Thế giới II kết thúc, chủ nghĩa xét lại tại Nhật đang ngày càng mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong vấn đề phụ nữ bị buộc làm nô lệ tình dục cho lính Nhật trong cuộc chiến.
Một trong những người lên tiếng mạnh mẽ về chủ nghĩa xét lại là Toshio Tamogami.
Ông là người có học, có kiến thức và khi gặp thì tôi thấy là ông người rất lịch sự.
Người từng là tổng tham mưu trưởng không lực Nhật hồi năm ngoái đã chạy đua chức thị trưởng Tokyo. Ông về thứ tư, đạt được 600 ngàn phiếu của cử tri.
"Là một quốc gia bại trận, chúng tôi chỉ dạy sử theo những gì bên chiến thắng bắt chúng tôi phải theo," ông nói.
Trong lịch sử "thực sự" ở thế kỷ 20, theo ông Tamogami thì Nhật Bản không phải là kẻ hiếu chiến mà là người giải phóng. Binh lính Nhật đã dũng cảm chiến đấu để đánh đuổi những kẻ thực dân da trắng bị căm ghét, những kẻ đã nô dịch hóa nhân dân Á châu trong suốt 200 năm.
Nội dung môn sử cũng không có chỗ nào nói về việc Nhật Bản đã tiến hành các vụ thảm sát người Á châu.
Ông Tamogami tin rằng Nhật Bản không xâm lược bán đảo Triều Tiên, mà là "đầu tư vào Triều Tiên và cả Đài Loan, Mãn Châu nữa".
Tôi hỏi ông về cuộc xâm chiếm Trung Quốc hồi 1937 và vụ thảm sát dân thường ở thủ đô Nam Kinh.
"Tôi có thể tuyên bố rằng chả hề có vụ Thảm sát Nam Kinh," ông nói.
Khi tôi hỏi về chuyện phụ nữ Triều Tiên phải làm nô lệ tình dục cho lính Nhật, ông Tamogami bác bỏ.
Bản quyền hình ảnh ap
Ông tuyên bố rằng đó là "một sự thêu dệt khác" và nói: "Nếu như điều đó là đúng, thì bao nhiêu binh sĩ đã được huy động để dùng vũ lực lôi các phụ nữ đó đi?"
Đây là một cách hiểu lịch sử mà nhiều người Nhật theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan tin vào.
Hồi đầu năm, tại một phiên họp chung tại Quốc hội Hoa Kỳ tại Washington DC, Thủ tướng Shinzo Abe đã tỏ ý hối tiếc sâu sắc về những đau khổ mà Nhật đã gây ra trong thời Đại chiến Thế giới II.
Ông Abe không bác bỏ chuyện đã có những phụ nữ Triều Tiên phải làm nghề mua vui ở các chiến tuyến tại Trung Quốc và Đông Nam Á.
Nhưng ông nói đi nói lại rằng không hề có bằng chứng cho thấy những phụ nữ này bị ép buộc hoặc quân đội Nhật có liên quan tới việc tuyển mộ, giam hãm họ, với ý nói đó là những người làm nghề mại dâm.
Đây là một lĩnh vực khá mù mờ.
Các cô gái từ các gia đình nghèo đã bị bán đi để làm nghề mãi dâm tại Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc trong hàng thế kỷ, và chuyện này rõ ràng là vẫn diễn ra trong thời thập niên 1930-1940.
Tuy nhiên, điều đó không loại trừ trách nhiệm của quân đội Nhật.
Điều rõ ràng là vấn đề phụ nữ làm nghề mua vui đang được chính phủ Nam Hàn dùng vì các mục đích chính trị. Nhưng cũng có đủ những bằng chứng khác cho thấy quân đội Nhật đã tổ chức ra cả hệ thống phụ nữ hành nghề này.
Bản quyền hình ảnh getty images
Image caption Tuyên bố của Thủ tướng Shinzo Abe về chuyện 'nô lệ tình dục' phục vụ lính Nhật khiến nhiều người giận dữ

'Chối cãi là lố bịch'

Masayoshi Matsumoto hiện 93 tuổi và sống cùng con gái ở rìa Tokyo. Ông có gương mặt cởi mở, ấm áp và đôi mắt sắc sảo như của thanh niên.
Thời 20 tuổi, ông làm trong đơn vị cứu thương ở vùng tây bắc Trung Quốc.
"Có sáu phụ nữ làm nghề mua vui chỗ chúng tôi," ông nói với tôi. "Mỗi tháng một lần tôi lại kiểm tra họ xem có bị bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục không."
"Các phụ nữ Triều Tiên này chủ yếu là phục vụ các sỹ quan," ông nói. "Cho nên lính trơn khi tấn công các ngôi làng thường hét to, 'Có gái ngoan nào ở đây không?' Họ cướp bóc, hãm hiếp hoặc giết chết những người không chịu nghe lời."
Những người bị bắt được đưa tới đơn vị của ông Matsumoto để làm các phụ nữ mua vui.
Sau cuộc chiến, ông Matsumoto trở thành tu sỹ. Trong nhiều thập niên, ông đã không hề nói gì về những điều ông từng chứng kiến.
Nhưng khi những tiếng nói chối bỏ ngày càng vang lên mạnh mẽ, ông đã cảm thấy giận dữ và quyết định lên tiếng.
"Thật lố bịch... Ông Abe nói như thể đó là điều ông ấy chứng kiến, nhưng ông ấy không hề. Tôi thì có," ông Matsumoto nói.
"Có người nói với tôi thế này, 'Người thất bại trong việc nhìn lại và nhận thức được quá khứ thì rồi sẽ lặp lại sai lầm'. Nhưng ông Abe nghĩ rằng chúng ta nên xóa bỏ đi mọi thứ xấu xa mà Nhật đã làm trong quá khứ và giả đò như chả hề có chuyện gì xảy ra. Tôi không tha thứ cho ông ấy được," ông nói thêm.

Tin liên quan

zaterdag 15 augustus 2015

Nhật hoàng 'hối hận' về Thế chiến II

Nhật hoàng 'hối hận' về Thế chiến II

  • 15 tháng 8 2015
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko trong buổi lễ tưởng niệm.
Nhật hoàng Akihito lần đầu tiên bày tỏ "hối hận sâu sắc" về vai trò của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Ông phát biểu tại một buổi lễ để đánh dấu 70 năm kể từ ngày Nhật Bản đầu hàng.
Thủ tướng Shinzo Abe nói những người Nhật phục vụ tổ quốc và thiệt mạng đã "hy sinh tương lai của mình", nhưng vào hôm thứ Sáu, ông đã bị cáo buộc 'không xin lỗi đúng đắn' về các hành động của Nhật Bản.
Một buổi lễ cũng đã được tổ chức tại căn cứ hải quân Mỹ Trân Châu Cảng, nơi mà cuộc xung đột khởi phát ở Thái Bình Dương.
Hơn 2.000 người đã thiệt mạng trong cuộc tấn công bất ngờ của Nhật Bản vào năm 1941, sự kiện đã kéo Mỹ vào cuộc chiến.
Thành viên của Hải quân Hoa Kỳ và các chức sắc từ Mỹ và Nhật Bản đã đặt vòng hoa và gắn một biển tưởng niệm mới tại hiện trường.
Tại lễ tưởng niệm ở Tokyo vào thứ Bảy, ông Abe và Hoàng đế Akihito đã mặc niệm một phút.
Hoàng đế Akihito tỏ giọng hối lỗi hơn ông Abe, khi Nhật hoàng bày tỏ hối hận về chiến tranh xâm lược của nước này.
"Tôi tham dự buổi lễ tưởng niệm này với một nỗi niềm ân hận sâu sắc...
"Tôi thiết tha hy vọng rằng sự tàn phá của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại," Nhật hoàng nói thêm.
Còn Thủ tướng Nhật Bản nói nước này sẽ "luôn luôn ghi nhớ quá khứ và căm ghét sự khủng khiếp của chiến tranh".

'Hy sinh mạng sống'

Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe không đưa ra lời xin lỗi mới với các nạn nhân của Nhật Bản trong thế chiến II.
Truyền thông Nhật Bản tường thuật ông Shinzo Abe nói rằng những người Nhật thiệt mạng đã "hy sinh mạng sống mình cho tương lai và sự thịnh vượng của quê hương."
Nhưng trong một tuyên bố hôm thứ Sáu, ông đã không đưa ra một lời xin lỗi mới cho các nạn nhân của cuộc xâm lược của Nhật Bản, điều gây ra tức giận đối với Hàn Quốc và Trung Quốc.
Ông nói rằng các thế hệ tương lai không nên bị "tiền định phải xin lỗi" cho những hành động chiến tranh của đất nước họ trong quá khứ.
Hành động của ông Abe được cho là ít nhiều 'có tính toán' khi ông có thể muốn 'lấy thêm phiếu' trong các nhóm quốc gia chủ nghĩa và cánh hữu ở Nhật Bản, theo một số ý kiến quan sát.
Trong khi, vẫn theo luồng ý kiến này, ông Abe muốn tránh các 'rắc rối' và 'khó khăn', 'áp lực' trong ngoại giao cho các thế hệ và giới cầm quyền tương lai của Nhật Bản.
Còn theo phóng viên của BBC News, Rupert Wingfield-Hayes, từ Tokyo sự kiện luôn là một dịp gây tranh cãi và chia rẽ ở Nhật Bản, thậm chí 70 năm sau cuộc đại chiến.
Vẫn theo phóng viên của chúng tôi, nhiều người Nhật có quan điểm khác nhau về những gì đã xảy ra trong thế chiến II và về thất bại của đất nước của họ.
Tại đền Yasukuni, nơi tưởng niệm chiến tranh Nhật Bản của mình đã chết, hàng ngàn người đã đến cầu nguyện.
Nhưng người ta cũng ghi nhận ở đây là nơi hương khói cho 12 người được xếp vào loại tội phạm chiến tranh ‘hạng A’, đặc biệt là những người đã lãnh đạo Nhật Bản trong chiến tranh.
“Nơi này (đền thờ Yasukuni) quả thực là một nơi gây tranh cãi", phóng viên Wingfield-Hayes nói.
“Chúng ta có thể thấy những người theo chủ nghĩa dân tộc, các nhóm cánh hữu và bán quân sự diễu hành ở đây, họ cúi đầu và cầu nguyện - không chỉ cho những người tử trận mà còn cho các tội phạm chiến tranh, những người mà họ cho là liệt sĩ.”

Tin liên quan

http://www.bbc.com/vietnamese/world/2015/08/150815_japanese_emperor_ww2_remorseful

Thế chiến II: trại tù kinh hoàng của quân Nhật

  • 2 giờ trước
Hàng chục ngàn quân nhân Anh đã phải chịu đựng sự đối xử tàn bạo trong các trại tù của Nhật thời Thế chiến II. Clare Makepeace và Meg Parkes ghi lại một số câu chuyện đáng chú ý từ những người sống sót.
Bob Hucklesby, năm nay 94 tuổi, từ vùng Dorset, với dáng đi tuy chậm rãi nhưng thái độ cương quyết, thật khó có thể hình dung những gì cơ thể và tâm trí ông từng trải qua.
Ông là một trong số 50.000 quân nhân phải trải qua giai đoạn tồi tệ nhất trong lịch sử quân sự Anh. Ông cũng là người dẫn dắt lễ tưởng niệm 70 năm ngày VJ (Victory over Japan Day – ngày chiến thắng Nhật Bản) hôm thứ Bảy 15/08.
Chưa từng có tiền lệ, và cả cho tới sau này, lực lượng vũ trang Anh Quốc lại có số quân nhân bị đẩy vào hoàn cảnh cùng cực về địa lý, bệnh tật và sự đối xử vô nhân giữa người với người như những tù binh của Nhật trong Thế chiến II.
Một phần tư số tù binh bị chết trong giam cầm. Những người sống sót trở mang theo bệnh tật và bị tổn thương.
Trong suốt ba năm rưỡi, họ sống trong điều kiện tàn nhẫn đến mức hủy hoại con người.
Cựu binh Bob Hucklesby (hàng giữa, thứ hai từ bìa phải) cùng đồng đội trong ngày tưởng niệm 15/08 ở London
Nữ hoàng Anh và Hoàng thân Philip tới gặp các cựu tù binh Thế chiến II hôm 15/08
Trung bình mỗi tù nhân nhận được chưa đầy một chén gạo hẩm mỗi ngày. Khẩu phần ăn quá ít ỏi dẫn tới suy dinh dưỡng rộng khắp, khiến nhiều người bị mù hoặc đau thần kinh kinh niên.
Bệnh tật tràn lan. Hầu hết tù binh đều bị sốt rét và bệnh lỵ.
Bệnh kiết lỵ do ruột già bị nhiễm trùng, khiến những người này chỉ còn xương bọc da. Các bệnh lở loét thì đặc biệt nghiêm trọng.
Trung úy Barrett, người làm việc trong các lều trại chuyên trị hoại tử ở Thái Lan, viết trong nhật ký của ông:
“Đa số đều do các vết xước do tre gây ra khi lao động trong rừng... Vết loét chân có khi dài tới hơn 30cm và bề ngang lên tới 15cm, lòi cả xương và đã thối tới vài cm, là cảnh không hiếm gặp.”
Những kẻ coi tù thường xuyên đánh đập, tra tấn tàn bạo một cách ngẫu nhiên.
Trung úy Bill Drower, người phiên dịch ở trại Kanburi, Thái Lan, chỉ vì dám hỏi lại một câu trong khi dịch mà bị đánh trọng thương và biệt giam trong suốt 80 ngày cuối cùng của cuộc chiến.
Lúc được cứu ra khi Nhật Bản đầu hàng, ông đã sắp chết vì suy dinh dưỡng và bị sốt rét ác tính, biến thể hiếm gặp và cực kỳ nguy hiểm của bệnh sốt rét.
Ngoài những điều kiện khủng khiếp này, đa số tù nhân chiến tranh phải lao động như nô lệ ở các khu công nghiệp nặng của Nhật Bản.
Họ liên tục làm việc nặng nhọc trên các bến cảng, sân bay, trong mỏ than, bãi đóng tàu, lò luyện thép, luyện đồng.
Cảnh dã man thời Thế chiến II này ngày nay hầu như ai cũng biết đến nhưng ít ai biết đến tinh thần quật cường của những tù binh – tinh thần mà sự tàn bạo của quân Nhật đã không thể khuất phục.
Một trong những phương tiện sống sót quan trọng bậc nhất trong trại là tình thân thiết với bạn đồng hành. Mỗi nhóm nhỏ từ ba đến bốn người gắn bó chặt chẽ là điều kiện tiên quyết. Họ cùng chia sẻ thức ăn và cả công việc, và chăm sóc lẫn nhau khi ốm.
Ông Derek Fogarty, từng làm việc trong lực lượng Không quân Hoàng gia Anh, bị bắt ở Java, kể lại trong một cuộc phỏng vấn năm 2008:
“Chúng tôi thân nhau như anh em. Nếu một người bị ốm thì bạn mang nước uống cho họ, rửa ráy giặt giũ cho họ. Chúng tôi thân nhau vô cùng và qua mỗi năm lại càng thân hơn, người ta sẵn sàng chết vì bạn, chúng tôi thân nhau tới mức đó.”
Không có những người bạn như thế, rất nhiều tù binh có thể đã mất mạng.
Ở mọi trại giam, tù binh tận dụng các kỹ năng khác nhau của mình để giúp đỡ bạn đồng hành.
Tù binh Anh reo mừng khi Nhật Bản đầu hàng
Những người là bác sỹ không có y cụ hay thuốc men, phải nhờ tới những người khéo léo về thủ công. Fred Margarson từng là thợ sửa ống nước và chạy các việc vặt ở phòng khám y khoa, đã bí mật mở bệnh viện trong trại Chungkai ở Thái Lan, nơi ông giám sát làm chân giả cho các bệnh nhân bị hoại tử.
Nhưng ngay cả trong những điều kiện tồi tệ nhất, những người đàn ông này cũng nâng đỡ nhau bằng trí hài hước.
Jack Chalker bị bắt ở Singapore,nhớ lại những bệnh nhân gầy giơ xương ở lều trị kiết lỵ trên tuyến xe lửa Thái Lan – Miến Điện.
Họ chơi xổ số để chọn ra “ai sẽ là người phải ngồi trên chiếc xô duy nhất trong lều trước khi nó bị đổ”. “Những cái như thế”, ông nhớ lại, “đã khiến chúng tôi cười nghiêng ngả”.
Khoảng 37.500 quân nhân Anh đã sống sót qua thời kỳ giam giữ và chứng kiến ngày VJ.
Hàng nghìn người trong số họ phải đợi tới năm tuần, thậm chí lâu hơn, trước khi các trại được quân đồng minh tìm thấy. Đa số phải trải qua chặng đường biển dài 8 – 10.000 dặm để trở lại Anh Quốc, xuống ở cảng Liverpool hoặc Southampton, hơn năm tháng sau khi chiến tranh ở châu Âu đã kết thúc.
Với Hucklesby, tâm điểm của lễ tưởng niệm 70 năm ngày VJ không phải là ông hay những người đồng đội còn sống sót, mà là những người đã nằm lại.
Bảy mươi năm sau những cái chết nghiệt ngã, ông nhớ họ hơn bao giờ hết. Ngày nay, ông chỉ muốn chúng ta nghĩ về họ, “những người đàn ông trẻ ở tuổi sung sức nhất không bao giờ được về nhà, những người đã phải sống trong điều kiện tồi tệ trước khi chết”.
Tóm tắt lại từ bài viết của Tiến sỹ văn hóa lịch sử chiến tranh Clare Makepeace và giảng viên đại học UCL, Meg Parkes trên BBC News: http://bbc.in/1TFtj3P

Tin liên quan

vrijdag 8 mei 2015

Những cô gái Anh bóc trần bí mật của phát xít Đức : 10.000 nhân viên thuộc Cơ quan Mã số và Mật mã Chính phủ Anh (GC&CS) trong Thế chiến II

Thứ năm, 7/5/2015 | 10:54 GMT+7

Những cô gái bóc trần bí mật của phát xít Đức

Hai phần ba trong khoảng 10.000 nhân viên thuộc Cơ quan Mã số và Mật mã Chính phủ Anh (GC&CS) trong Thế chiến II là phụ nữ, có nhiệm vụ nghe lén, thu thập tin nhắn và phá các mật mã của phe phát xít để lọc ra thông tin tình báo hữu ích cho quân Đồng minh.
Một số nhà sử học đánh giá hoạt động của đội ngũ này góp phần rút ngắn thời gian chiến tranh từ hai đến 4 năm, theo Tech Republic. Dưới đây là những chia sẻ về công việc phá mã hàng ngày của họ trong Thế chiến II.
Cô gái phá mã
ruth-bourne-6011-1430908519.jpg
Bà Ruth Bourne, khi mới 18 tuổi, mặc bộ đồng phục của lực lượng Nữ hải quân Hoàng gia Anh. Ảnh: Tech Republic
Bà Ruth Bourne vừa tốt nghiệp thì được tuyển dụng làm việc cho GC&SC tại trụ sở chính ở lâu đài Bletchley Park, Milton Keynes, Buckinghamshire. Công việc hàng ngày của bà là phá giải mật mã các thông điệp quan trọng mà quân phát xít gửi đi.
Lâu đài Bletchley Park ngày nay được cả thế giới biết đến là nơi nhà toán học Alan Turing sáng chế ra phương pháp kết nối các máy giải mã lại với nhau để tạo thành bộ bombe, máy điện - cơ có khả năng tìm ra quy tắc mã hóa cài đặt cho máy Enigma của Đức Quốc xã.
Enigma là một loại máy có hệ thống đĩa quay dùng để tạo mật mã và giải mã các thông tin cơ mật do kỹ sư Đức Arthur Scherbius phát minh vào giai đoạn cuối Thế chiến I. Máy sau đó được quân đội nhiều quốc gia, đặc biệt là Đức Quốc xã, sử dụng trong Thế chiến II. Máy có thể mã hóa một thông điệp theo hàng tỷ cách khác nhau. Thêm vào đó, cứ sau một ngày, quy tắc lại thay đổi.
Bởi thành tựu mà Turing đạt được quá lớn nên đôi lúc người ta quên đi những cống hiến của 7.000 phụ nữ làm việc cho GC&CS. Họ từng góp phần giải mã hàng triệu thông điệp của phát xít Đức, đem về những thông tin tình báo quý giá, đủ sức thay đổi cục diện cả một chiến dịch.
Front-of-a-bombe-code-breaking-5210-5901
Máy phá mã Bombe do nhà toán học Alan Turing phát minh. Ảnh: Wikipedia
Chính tầm quan trọng của việc nắm bắt trước kế hoạch của đối phương thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu chế tạo ra loại máy có khả năng phá mã ở tốc độ cao như bombe. Nhưng thực tế, vận hành những cỗ máy này, nhất là đối với một thiếu nữ vừa tròn 18 tuổi như bà Bourne lúc đó, không hề tuyệt vời như nhiều người vẫn tưởng, bà cho hay.
"Đứng trước một cỗ máy 8 tiếng mỗi ngày thì chẳng còn gì thú vị cả", bà Bourne nói.
Tuy nhiên, công tác phá mã, việc làm như một thói quen thường ngày của bà Bourne, đóng vai trò tối quan trọng, giúp phe Đồng minh nhiều phen chuyển bại thành thắng trên chiến trường.
Tại lâu đài Bletchley Park, những người phá mã trung bình được giao từ 2.000 đến 6.000 tin nhắn mỗi ngày,  được viết bằng cả tiếng Đức, Italy, Nhật Bản và Trung Quốc.
10-1150-1430970147.jpg
Bà Bourne năm 2013. Ảnh: Tech Republic
Bourne là thành viên của đơn vị Nữ hải quân Hoàng gia Anh (Wrens), hàng ngày chuẩn bị cài đặt thông số cho các máy giải mã bombe. Nếu được thiết lập tốt, những máy này sẽ cho ra thông tin chính xác và nhanh hơn.
"Chúng tôi phải giải mã tới hàng nghìn thông điệp", bà cho hay. "Cứ sau 24 tiếng mật mã bảo vệ lại biến đổi, vì thế yếu tố thời gian và tính chính xác phải được tuyệt đối đảm bảo".
"Chúng tôi phải chịu áp lực rất lớn. Bạn không cần thiết phải là một nhà khoa học tên lửa nhưng bạn phải chính xác 125%", bà Bourne nhấn mạnh.
Ngoài ra, theo bà Bourne, người vận hành máy bombe có rất ít thời gian nghỉ ngơi. Họ phải điều khiển máy 24/24, chia làm ba ca. Họ thậm chí vẫn phải làm việc lúc nghỉ giữa giờ.
"Bạn có khoảng nửa tiếng để dùng bữa", bà Bourne kể. "Các máy bombe được đặt trong một tòa nhà kiên cố rào bằng dây thép gai và có lính canh gác. Bạn phải lao nhanh ra khỏi đó, chạy một mạch đến canteen, lấy suất ăn và tức tốc quay về vị trí để người thế chỗ lúc bạn vắng mặt được đi ăn".
Người lắng nghe
patriciadavies2-1235-1430908520.jpg
Bà Patricia Davies khi còn trẻ từng làm nhiệm vụ trong nhiều trạm nghe lén khác nhau. Ảnh: Tech Republic
Patricia Davies cũng từng là thành viên của Wrens. Bà cùng nhiều đồng nghiệp dành hàng giờ mỗi ngày suốt giai đoạn Chiến tranh Thế giới II tại một ngôi nhà nằm trên mỏm đất gần Dover, nhìn ra Kênh Anh, để nghe lén và ghi lại những thông tin tưởng như vô nghĩa bắt được qua sóng phát thanh.
Những thông điệp này chắc chắn không gửi tới bà Davies mà được chuyển tới các căn cứ tàu ngầm Đức bên bờ biển phía tây Pháp hay đến các chiến hạm đang hoạt động trên biển Baltic.
Tập hợp những ký tự không tuân theo một trình tự nào mà bà phải nghe chính là các đoạn tin nhắn của quân phát xít được máy Enigma mã hóa. Sau khi chép lại các tổ hợp này, bà Davies sẽ gửi chúng thông qua máy chữ điện báo cho đội phá mã tại lâu đài Bletchley Park.
"Tất cả chúng tôi ngồi trên một hàng ghế dài, đối diện với những máy thu sóng vô tuyến và dò tìm tần số mà hải quân Đức sử dụng", bà Davies chia sẻ. "Thật tuyệt vời nếu bạn tìm được một tin nhắn rõ ràng và biết rằng đó là thông tin quan trọng".
Tuy nhiên, cũng có lúc cả ngày làm việc của bà Davies không đem lại kết quả nào. "Điều khó chịu nhất khi làm công việc này là cảm giác thất vọng khi bạn biết rõ rằng tàu chiến của đối phương đang gửi đi thông điệp nào đó. Bạn cố gắng để tìm hiểu nhưng nó đã bị bóp méo và cứ thế biến mất dần".
Nhưng ngay cả khi phải gửi đi các tin nhắn bị cắt xén, tính chính xác vẫn luôn được đặt lên hàng đầu. Những người truyền tin Đức thường nói 4 từ một lần. Nếu người nghe lén bỏ sót dù chỉ một từ họ sẽ không bao giờ đoán được ý nghĩa của thông điệp, bà Davies cho hay. "Dù vậy bạn không bao giờ được phép bịa ra thông điệp", bà nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, các mệnh lệnh phía Đức phát đi còn được truyền tải bằng các mã Morse. Những tiếng bíp dài ngắn khác nhau mà bà Davies phải nghe 70 năm trước đến nay vẫn thường xuyên vang lên trong đầu người phụ nữ đã ngoài 90 tuổi.
Từ trạm nghe lén, bà Davies thường xuyên chứng kiến cảnh những đoàn tàu của Anh chạy đạn pháo phát xít Đức trên dòng Kênh Anh. Hỏa lực dữ dội tới mức từng có thời người ta gọi khu vực này là Góc Địa ngục, Davies cho hay.
Nhưng điều khiến bà Davies nhớ nhất, hơn cả những đợt dội bom, nã pháo ác liệt ngay trên đầu, là chuỗi ngày bà thực hiện nhiệm vụ xác định vị trí tàu ngầm U-boat của Đức tại một trạm chuyên biệt.
10-8140-1430970147.jpg
Bà Davies ngày nay. Ảnh: Tech Republic
Phe phát xít sử dụng loại tàu ngầm này để đánh chìm tàu buôn từ Mỹ tới Anh nhằm cắt đứt nguồn cung thực phẩm và trang thiết bị cho quân đội Anh.
Trong một dịp hiếm có tàu ngầm U-boat nổi lên mặt nước để liên lạc với căn cứ. Các nhân viên tại trạm của bà Davies phải ngay lập tức tận dụng cơ hội này để tìm vị trí của chúng nhờ vào phương pháp dò tìm phương hướng. Kỹ thuật này cho phép người dò sóng vô tuyến xác định tín hiệu truyền tới đâu bằng cách so sánh những dải sóng mà ăng ten thu được ở những địa điểm khác nhau.
"Chúng rất ít khi ngoi lên mặt nước vì thế vào lúc đó tất cả mọi người như đều nín thở", bà Davies nói.
Theo Davies, đó là thời khắc căng thẳng nhất bà từng trải qua bởi bà biết rõ tàu ngầm U-boat có thể đã ngắm bắn và chuẩn bị khai hỏa tiêu diệt đội tàu phe mình bất cứ lúc nào. Tình thế vô cùng cấp bách khiến bà cảm nhận rõ ràng tầm quan trọng của công việc đang thực hiện.
Trạm nghe lén cũng lần theo cả những đoạn đối thoại không mã hóa liên quan đến hoạt động triển khai quân của đối phương và báo về cho quân đội Anh.
"Quân Đức từng điều một tàu phóng ngư lôi đến bờ biển phía đông để tấn công các đoàn tàu của chúng tôi. Khi đó họ sẽ gửi tin nhắn kiểu như 'Có một tàu khu trục Anh tại tọa độ này'. Những thông tin như thế không thể được mã hóa bởi thời gian rất hạn chế. Khi nắm được tin này, chúng tôi không gửi về Bletchley mà chuyển thẳng tới căn cứ hải quân gần nhất", bà Davies miêu tả quy trình.
Vũ Hoàng (theo Tech Republic)

Chân dung nữ gián điệp kỳ bí nhất Thế chiến II : Christine Granville

Thứ sáu, 8/5/2015 | 06:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ sáu, 8/5/2015 | 06:00 GMT+7

Chân dung nữ gián điệp kỳ bí nhất Thế chiến II

Là hình mẫu của vai nữ chính trong loạt tiểu thuyết tình báo James Bond, Christine Granville được cho là nữ gián điệp dũng cảm, kiên cường và kỳ bí nhất Thế chiến II.
0-4372-1431010600.jpg
Christine Granville năm 1950. Ảnh: NYTimes
Christine Granville là gián điệp được thủ tướng Anh khi đó, ngài Winston Churchill, đánh giá cao nhất và từng được trao tặng huân chương anh dũng của cả chính phủ Anh và Pháp. Bà cũng là nguyên mẫu nhân vật nữ gián điệp Vesper Lynd trong tập đầu tiên của tiểu thuyết tình báo James Bond.
Tên thật của Granville là Maria Krystyna Janina Skarbek, người gốc Ba Lan. Cha của bà là một nhà quý tộc, mẹ bà là một người thừa kế gốc Do Thái giàu có. Trước chiến tranh, Granville hưởng thụ cuộc sống của một tiểu thư con nhà quyền quý, từng đạt giải á hậu trong cuộc thi người đẹp Ba Lan năm 1930. Nhưng, Thế chiến thứ hai đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của bà.
Tháng 9/1939, quân đội Đức Quốc xã xâm chiếm Ba Lan. Khi đó, Granville đang ở Nam Phi với chồng, một quan chức ngoại giao. Trước biến cố quốc gia, bà nhanh chóng quyết định đi sang London và đăng ký trở thành nhân viên tình báo của Anh.
Trong đơn đăng ký, Granville đề nghị thâm nhập vào lãnh thổ Ba Lan bằng cách trượt tuyết vượt qua dãy núi Carpathian, từ đó giúp chính phủ Anh tiến hành tuyên truyền chính trị tại thủ đô Vacsava của Ba Lan. “Bà ấy không sợ gì cả, là một người Ba Lan yêu nước đầy nhiệt huyết, một người trượt tuyết chuyên nghiệp, một nhà mạo hiểm nữ vĩ đại”, báo cáo của Cơ quan đặc công Anh đánh giá về nữ gián điệp này viết.
Bà được nhận vào Phòng tình báo D, đơn vị sau này phát triển thành Phòng hành động đặc biệt (SOE). Đây là nhóm tình báo được đích thân Thủ tướng Churchill quyết định thành lập, với nhiệm vụ tiến hành các hoạt động phá hoại, lật đổ, gián điệp tại hậu phương địch. Sau khi vào nghề, nữ gián điệp này được nhận hộ chiếu Anh với tên mới là Christine Granville và bí danh hoạt động là Willing.
Trạm đầu tiên trong nghiệp tình báo của Granville là Hungary, nước láng giềng với Ba Lan. Nhiệm vụ của bà là đưa các nhân sĩ phản kháng và binh sĩ Ba Lan thoát ra khỏi vùng chiếm đóng, để tiếp tục chiến đấu cho quân Đồng minh. Người thường xuyên phối hợp với Granville là ông Andrzej Kowerski, một người Ba Lan yêu nước mất một chân. Ông này cũng là người tình lâu năm nhất của bà.
Theo nhà sử học Clare Mulley, người từng viết sách về cuộc đời Granville, có rất nhiều câu truyện truyền kỳ về phong cách làm việc bình tĩnh, lạnh lùng của nữ điệp viên này. Bà từng trượt tuyết vượt qua đoạn đường núi chất đầy thi thể đóng băng của người tị nạn. Bà cũng từng chạy tránh đạn của không quân phát xít Đức tại những vùng núi rộng lớn, hay phải tự cắn lưỡi để lừa tình báo địch tưởng là bà mắc bệnh phổi để thoát thân.
Tương truyền, Granville còn có khả năng điều khiển động vật. Theo đó, có lần Granville và một số chiến binh du kích khi đang ẩn nấp trong lùm cây, thì bị một con chó berger hung dữ đánh hơi phát hiện, bà liền vòng tay ôm lấy con chó. “Con chó liền nằm ngày xuống cạnh bà ấy, không để ý gì đến tiếng huýt sáo của chủ”, học giả Mulley cho biết.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Mulley cũng cho hay Granville là một người rất biết cách tạo dựng nên các câu chuyện để “thần thoại hóa bản thân”, vì vậy không phải câu chuyện nào về cuộc đời truyền kỳ của nữ gián điệp này cũng đúng với sự thực lịch sử. “Gặp ai bà ấy cũng kể về câu chuyện thuần phục con chó của địch trên”, Mulley nói.
Nữ điệp viên đa tình
Granville là một phụ nữ rất hấp dẫn và đa tình. Trong quá trình hoạt động, bà có rất nhiều người tình và cũng bỏ rơi rất nhiều người đàn ông. Không ít người trong số họ không chịu nổi điều đó. Theo hồ sơ của cơ quan tình báo Anh, một người tình của Granville tại Budapest đã cố ý tự làm thương để níu kéo bà.
Mặc dù sự nghiệp tình báo và đời sống tư của bà đầy phức tạp, Granville là một người rất “ngây thơ về chính trị”. “Bất kể người nào chỉ cần giao cho bà ấy nhiệm vụ có ích trong việc giải phóng tổ quốc, bà ấy đều không từ chối”, học giả Mulley cho biết.
Năm 1944, Granville được gửi đến miền nam nước Pháp hỗ trợ cho điệp viên Francis Cammaerts thuộc SOE, người sau này cũng trở thành người tình của bà. Nhiệm vụ của bà là truyền thông tin tình báo và vũ khí giữa các tổ chức chống phát xít, cũng như thuyết phục các binh sĩ gốc Ba Lan trong quân đội Đức đầu hàng quân Đồng minh.
Thành công lớn nhất của Granville là đã cứu thoát Cammaerts và hai điệp viên khác bị lực lượng mật vụ Đức Quốc xã Gestapo bắt giữ khỏi khám tử tù. Nữ gián điệp này hối lộ giám ngục để được vào nhà giam. Tại đây, bà tự xưng là cháu gái của Thống chế Montgomery của nước Anh, rồi cảnh cáo kẻ cầm đầu của mạng lưới chỉ điểm Pháp rằng, nếu họ xử tử ba nhân viên tình báo trên thì sẽ bị quân Đồng minh trả thù. Người này tin lời của Granville và đã bỏ trốn cùng các điệp viên.
Sau chiến tranh, nhóm tình báo của Granville bị giải thể. Nhưng ngay sau đó, Chiến tranh Lạnh nổ ra, cũng như rất nhiều người Ba Lan lưu vong khác, Granville không thể trở về tổ quốc. Trong thời bình, nữ gián điệp lừng danh một thời này trải qua nhiều công việc, như nhân viên nhận điện thoại, trợ lý bán hàng và công việc cuối cùng của bà là nhân viên phục vụ của một công ty vận tải.
“Granville trở nên thất thường, yêu cầu rất cao, không chịu nổi cảnh làm thuê, chí ít là không tìm được công việc mà bà ấy thích. Bà ấy không muốn trở thành nhân viên đánh máy, làm vợ hay làm mẹ, chỉ muốn làm gián điệp”, học giả Mulley cho hay.
Tháng 6/1952, Granville bị đồng nghiệp, người cũng là tình nhân cũ của bà, Dennis Muldowney, đâm chết tại đại sảnh một khách sạn ở London. Muldowney bị kết án tử hình. Nhưng cho đến tận lúc thi hành án, người đàn ông này vẫn khẳng định ông rất yêu Granville và không chịu nổi cảnh bị bà bỏ rơi.
Đức Long (theo New York Times)
21
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên google+ Email cho bạn bè

Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại

Thứ năm, 7/5/2015 | 08:03 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ năm, 7/5/2015 | 08:03 GMT+7

Thế chiến II - cuộc chiến khốc liệt nhất lịch sử nhân loại

Cuộc chiến giữa phe Đồng minh, dẫn đầu là Anh, Liên Xô, Mỹ và phe Trục phát xít gồm các thế lực chính Đức, Italy và Nhật Bản là cuộc chiến rộng và thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại.
Tháng 1/1933, Adolf Hitler, lãnh đạo của đảng Đức Quốc xã, trở thành thủ tướng Đức và ngay lập tức bắt đầu củng cố quyền lực, bỏ tù các đối thủ chính trị. Đức bỏ ra nhiều tiền để nghiên cứu vũ khí nguy hiểm và xây dựng nền công nghiệp quân sự mạnh mẽ. Ảnh: National WWII Museum
 
Chiến tranh Trung - Nhật tháng 7/1937 nổ ra khi quân Thiên hoàng xâm lược Trung Quốc. Đây là cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Á thế kỷ 20. Ảnh: National WWII Museum
 
Ngày 1/9/1939, Đức xâm lược Ba Lan, khiến Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Phần đông ý kiến cho rằng đây là thời điểm Thế chiến II chính thức bắt đầu. Ngày 17/9, Liên Xô tiến vào Ba Lan. Đến ngày 6/10, Ba Lan bị Đức, Liên Xô và các đồng minh của các nước này chiếm giữ hoàn toàn. Năm 1940, Đức kiểm soát Đan Mạch, và tấn công Pháp, khiến nước này phải đầu hàng và bị Đức chiếm đóng phần lớn lãnh thổ. Trong ảnh, máy bay tiêm kích Bf 110 của không quân Đức vượt biên giới Ba Lan trong Thế chiến II. Ảnh: History of World War
 
Khi Đức xâm chiếm lãnh thổ mới ở Đông Âu, nước này thành lập các đơn vị bán quân sự đặc biệt gọi là Einsatzgruppen, sát hại người Do Thái và người chống đối, thường trong vụ nổ súng hàng loạt. Người Do Thái và những nạn nhân ở Đức và các quốc gia nằm dưới quyền kiểm soát của nước này bị bắt và đưa đến các trại tập trung, lao động, và hành quyết. Cuộc thảm sát được tiến hành mà không có ngoại lệ nào dành cho trẻ em hoặc trẻ sơ sinh. Tại trại tập trung Auschwitz, Đức còn tiến hành thí nghiệm y khoa trên cơ thể người sống, như nhốt tù nhân vào phòng áp suất, dùng họ thử các loại dược phẩm khác nhau, bắt họ chịu rét cóng đến chết, cũng như tiến hành một số tổn thương chết người khác trên tù nhân. Tội ác tàn sát chủng tộc đối với 6 triệu người Do Thái của Đức được gọi tên là Holocaust hay Shoah. Trong ảnh, người Do Thái tại Hungary bị quân Đức tống vào phòng hơi ngạt tại trại tập trung Auschwitz năm 1944. Ảnh: Yad Vashem
 
Với sự thúc đẩy của Tổng thống Mỹ Roosevelt, quốc hội nước này tháng 3/1941 thông qua đạo luật Lend-Lease, cung cấp cho Anh, Pháp Tự do (lực lượng chống Đức Quốc xã tại Pháp) Trung Quốc, Liên Xô và các quốc gia đồng minh khác thực phẩm, dầu, và thiết bị quân sự. Ảnh: National WWII Museum
 
Tháng 10/1940, Italy tấn công Hy Lạp nhưng thất bại. Tháng 4/1941, Đức tấn công hai nước Nam Tư và Hy Lạp và chiếm đóng khu vực này.
Trên chiến trường Bắc Phi, Italy tháng 8/1940 tấn công các thuộc địa của Anh nhưng đều thất bại. Đức tăng viện cho Italy và tham gia chiến đấu với Anh ở ven bờ biển Cyrenaica năm 1941-1942. Anh sau đó giành chiến thắng, mang về cho phe Đồng minh thêm quân nhu và vật chất. Tháng 11/1942, Mỹ thực hiện Chiến dịch Bó Đuốc, đổ bộ vào Maroc, bao vây lực lượng phe Trục. Đến tháng 5/1943, phe Trục tại Bắc Phi đã bị đánh bại hoàn toàn. Trong ảnh là quân Anh tại Bắc Phi năm 1942. Ảnh: Imperial War Museums
 
Tháng 6/1941, chiến tranh Xô - Đức bắt đầu khi Đức bất ngờ cắt đứt thỏa thuận không xâm lược với Liên Xô và tiến hành chiến dịch Barbarossa, kế hoạch tấn công khổng lồ với 3.300.000 quân Đức và 60 vạn quân các nước chư hầu để chiếm đóng Moscow trước cuối năm. Đây là cuộc tấn công ác liệt nhất trong Thế chiến II. Khi mùa đông đến, Hồng quân Liên Xô phản công và đánh bật Đức ngay tại ngoại ô Moscow. Trong ảnh, quân Đức tiến vào Liên Xô năm 1941. Ảnh: National WWII Museum 
 
Đức tái tấn công Liên Xô năm 1942, tiến đến sát dãy núi Kavkaz, nhưng cũng bị Liên Xô phản công vào mùa đông, làm quân Đức tổn thất nặng nề. Trong ảnh là Hồng quân Liên Xô trong trận Stalingrad, diễn ra tại thành phố Stalingrad (nay là Volgograd) ở tây nam Nga từ tháng 7/1942 - 2/1943. Đây được coi là chiến thắng quyết định của Liên Xô, bước ngoặt quan trọng và bước đầu làm xoay chuyển cục diện trong Thế chiến II.
 
Ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng của Mỹ (trong ảnh), Philippines và một số thuộc địa của các cường quốc châu Âu tại Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Mỹ, Anh, các thuộc địa của Anh, Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11/12/1941, Đức Quốc xã và Italy cũng tuyên chiến với Mỹ, lấy cớ là Mỹ đã phá vỡ "sự trung lập". Ảnh: National WWII museum
 
Ngày 6/6/1944 hay còn gọi là D-day, lực lượng Đồng minh phương Tây đổ bộ vào bờ biển Normandie, một vùng của Pháp bị Đức chiếm đóng. Chiến dịch bắt đầu bằng việc ném bom hàng loạt từ các căn cứ không quân bên kia eo biển nước Anh cùng với sự yểm trợ của khoảng 6000 khu trục hạm. Quân Đức cuối cùng bị đánh bại nhưng lực lượng Đồng minh cũng bị thiệt hại nặng nề. Trong ảnh, quân Mỹ tiến vào bờ biển Normandie năm 1944. Ảnh: ensacarmexico
 
Cuối năm 1944, các Đồng minh phương Tây tiến vào biên giới Đức từ phía tây trong khi Liên Xô tấn công từ phía đông khiến Berlin thất thủ. Ngày 30/4/1945, Adolf Hitler được cho là đã tự sát trong hầm ngầm Fuhrer tại Berlin bằng súng lục sau khi uống một viên thuốc độc để khỏi bị rơi vào tay Hồng quân Liên Xô. Eva Braun, cô vợ mới cưới của trùm phát xít, cũng chết cùng ông ta. Ảnh: AP
 
Ngày 16/4-9/5/1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan lực lượng vũ trang bảo vệ thành phố Berlin, chiếm thủ đô Đức. Trong ảnh, người lính Hồng quân Meliton Kantaria cắm cờ Liên Xô trên tòa nhà Quốc hội Đức sau khi nơi này được tiếp quản. Ảnh: Yevgeny Khaldei
 
Thống chế William Keitel đại diện cho phía Đức ký kết văn kiện đầu hàng không điều kiện. Ngày 9/5/1945 đánh dấu chiến thắng của các nước Đồng minh chống phát xít tại chiến trường châu Âu. Ảnh: archive.gov
 
Ngày 6 và 9/8/1945, Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Quân đội Liên Xô tấn công Đạo quân Quan Đông của Nhật đang đóng ở Mãn Châu ngày 9/8. Nhật Bản ngày 15/8 đầu hàng, đánh dấu chiến thắng của quân Đồng minh tại châu Á - Thái Bình Dương, chính thức kết thúc thế chiến II. Trong hình là đám mây hình nấm do quả bom ném xuống Nagasaki tạo thành. Ảnh: archive.org

(Video)


Cuộc chiến gây ra tổn thất lớn về nhân mạng cho cả hai phe. Số người thiệt mạng tại các nước Đồng minh là trên 61 triệu người, còn phe Trục là 12 triệu người. Video trên ghi lại quang cảnh hoang tàn của Berlin vào tháng 7/1945, hai tháng sau Đức Quốc xã đầu hàng. Video: ChronoHistory
Sau khi Thế chiến kết thúc, Mỹ và Liên Xô trỗi dậy trở siêu cường quốc thế giới. Khối Đồng Minh và nhân dân thế giới có nguyện vọng giữ gìn hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới mới, dẫn đến sự ra đời của Liên Hợp Quốc tháng 6/1945. 
 

Phương Vũ

http://vnexpress.net/photo/tu-lieu/the-chien-ii-cuoc-chien-khoc-liet-nhat-lich-su-nhan-loai-3209626.html