Posts tonen met het label Nhạc sỹ Phạm Duy. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Nhạc sỹ Phạm Duy. Alle posts tonen

maandag 18 februari 2013

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY

Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo
Lời nói đầu
Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.
Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẫm, hành động và lời nói của ông để biêt nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.
A / NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI
1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.
2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ qúy mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên ( có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.
3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gía trị độc đáo: mang âm giai ngủ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.
4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỹ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.
5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu qủa (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.
6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu gỉa tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…
B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN
Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:
1/ Qủa thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân ký Việt ( vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).
2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký gỉa Lê Văn của đài BBC: “ Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “ Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.
3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sắng tác theo tiếng nói của con tim.
Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).
4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “ Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn ”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “ Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).
C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ
Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:
1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:
Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi.
2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì. Giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ vì nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.
Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị gía 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính gỉa của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược“Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.
Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “ Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.
Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính gỉa yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “ PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm qùa chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói súc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).
Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “ Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.
D/ KẾT LUẬN:
Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có gía trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, gái đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “qúy nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.
Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.
Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.
Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên qúa quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v... Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, súc phạm tới tinh thần chống Cộng.
Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận. Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Vè Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.
Ngày 6-2-2013
Con Cò

dinsdag 18 december 2012

Nhạc sỹ Phạm Duy nói với BBC :"Tôi luôn vui buồn với nước non"

"Tôi luôn vui buồn với nước non"


Cập nhật: 06:11 GMT - thứ sáu, 14 tháng 12, 2012

Nhạc sỹ Phạm Duy nói với BBC về những kỷ niệm, bước ngoặt và quan điểm nghệ thuật trong cuộc đời làm âm nhạc của ông.
Trong cuộc trao đổi với BBC, nhạc sỹ kỳ cựu thừa nhận ông từng có giai đoạn sáng tác tuyên truyền trong các giai đoạn chiến tranh, nhưng cho rằng ông chỉ làm như vậy vì yêu nước.
Nhạc sỹ cho rằng âm nhạc của ông đa dạng và luôn biến đổi vì thân phận và tâm trạng của ông luôn "vui buồn" và "trôi nổi" theo vận nước.
Mở đầu cuộc trao đổi gồm hai phần, nhạc sỹ nói về nhạc cải cách được khởi xướng ở Việt Nam từ đầu thập niên 1930 và lý do vì sao ông lựa chọn dòng nhạc này để khởi nghiệp.
Phạm Duy: Về nhạc cải cách, trước năm 1930, nhạc ở Việt Nam là dân ca cổ (ancient oral poetry), được hát lên với âm giai ngũ cung và tùy theo sự sử dụng mà mang những cái tên như là “hò làm việc”, “hò nghỉ ngơi”, tuồng cổ, chèo cổ, hát quan họ, hát thờ, hát văn v.v... Nhưng vì trong nước đang có phong trào cải lương, nên một vài loại phải mang thêm cái tên là “tuồng cải lương”, “chèo cải lương”. Tuy nói là cải lương, nhưng vẫn nằm trong hệ thống Trung Hoa.
Và về ca nhạc cũng thế, bài bản được viết ra mang tên là nhạc cải cách, nhưng đặc biệt đã ra khỏi hệ thống nhạc Tàu, chịu ảnh hưởng nhạc Pháp, do sự du nhập vào Việt Nam của những đĩa hát 78 tours.
Bài “Cô hái mơ” của tôi là một trong nhiều bài ca cải cách, sơ khởi của nền nhạc mới Việt Nam. Trong những năm 1943-1945, tôi lại là người có may mắn là một ca sỹ đầu tiên đi khắp mọi nơi ở trong nước, để biểu dương một loại nhạc mới mẻ và rất hấp dẫn, so với những loại nhạc cổ đang đi dần vào quên lãng.
BBC: Tại sao ông lại chọn nhạc cải cách để sáng tác, mà không sáng tác theo nhạc dân tộc?
Rất giản dị là tôi soạn nhạc mới, thì tôi phải bỏ cái cũ. Tuy nhiên, nhạc gọi là nhạc cải cách của tôi vẫn giữ được những yếu tố của nhạc dân ca cũ. Nó làm giàu cho nhạc Việt Nam, vì có trợ giúp của những đặc tính như là láy, lót, melisma, metabole, khiến cho phần melody vẫn giữ được tính cách của nhạc dân ca cổ truyền.
BBC: Nhạc mới của ông chịu ảnh hưởng như thế nào của nhạc dân tộc?
Nhạc cổ truyền ở ba miền, tức là miền Bắc, miền Trung, rồi miền Nam, thì cũng cùng một truyền thống. Nó là nhạc ngũ cung. Nhưng bởi vì giọng nói của người Bắc hơi khác giọng nói của người miền Trung và miền Nam, cho nên nó cũng có một vài ba chi tiết nho nhỏ.
BBC: Ảnh hưởng của âm nhạc Pháp đối với nhạc của ông và nhạc của Việt Nam nói chung thời Pháp như thế nào?
Người Việt Nam có may mắn là giao tiếp với nhiều nguồn văn hóa mới. Ví dụ, đầu tiên là âm nhạc ảnh hưởng nhạc Tàu, sau rồi tới nhạc Mỹ, rồi tới nhạc mà các ông gọi là nhạc Xô Viết. Thành thử nhạc Việt Nam là một sự kết hợp của nhiều luồng nhạc khác nhau.
BBC: Còn về ảnh hưởng của âm nhạc Hoa Kỳ?
"Người Việt Nam có may mắn là giao tiếp với nhiều nguồn văn hóa mới. Thành thử nhạc Việt Nam là một sự kết hợp của nhiều luồng nhạc khác nhau"
Âm nhạc của Mỹ có vẻ ảnh hưởng nhiều nhất. Nhạc Mỹ thì không chỉ Việt Nam bị ảnh hưởng mà thôi, kể các dân tộc châu Phi hay châu Á, hay ở đâu cũng vậy, đều bị ảnh hưởng. Bởi vì loại nhạc Pop, Rock, hay Pop Songs của Mỹ cũng ngũ cung, chứ không phải là thất cung, cho nên nó dễ du nhập vào Việt Nam lắm.
Thứ nhất là cái hồi lính Mỹ có mặt ở Việt Nam, họ mang theo rất nhiều những đĩa hát nổi danh của thời 1960.
BBC: Thời đó, ông có đi xem một số ban nhạc Mỹ, hay ban nhạc Việt nào mà họ chơi nhạc Rock của Mỹ không?
Có chứ, các con tôi thành lập một ban nhạc, gọi là ban nhạc bốn người. Vì thế tôi cũng được biết qua về loại nhạc Mỹ, loại nhạc Pop songs như thế tôi cũng đã biết qua rồi.
BBC: Và ông nghĩ gì về nhạc Rock của Mỹ thời gian đó?
Âm nhạc thì nước nào cũng hay cả. Nhưng trước hết tôi là người Việt Nam, thì tôi phải cho rằng loại nhạc Việt Nam là hay nhất.
BBC: Ông có hay xem các ban nhạc Rock của Mỹ không, nếu có thì ông thấy thế nào?
Nếu kể ra thì dài lắm, bởi vì 30 năm trời ở bên Mỹ, tôi chu du khắp các nơi, tôi phải được nghe nhiều Ban nhạc nổi danh. Những loại như tứ quái Beatles tôi cũng được nghe. Rồi những loại nhạc như Folk Rock, James Taylor chẳng hạn, tôi cũng được đi xem. Hay lắm, bởi vì nước Mỹ lúc đó, cũng phải công nhận rằng cuộc chiến tranh gợi hứng cho nhiều nhạc sỹ. Mà thứ nhất là cuộc chiến tranh đó lại ở Việt Nam. Có nhiều bài nhạc dính líu tới Việt Nam. Thành ra, tôi rất thích. Đi nghe thì rất thích.
BBC: Ông bắt đầu học chơi guitar khi nào?
Nói cho đúng ra, khi tôi bắt đầu học nhạc, tôi cũng chẳng học ở trường nào cả. Lúc đó, năm 1930, guitar cũng được sử dụng ở Việt Nam rồi. Tiện thì dùng cái đó để sáng tác, cũng như để đệm đàn, bởi vì tôi đi hát rong, thì tôi phải cầm đàn tôi hát. Tôi cầm cái đàn nhẹ nhất, dễ đánh nhất là đàn guitar.
BBC: Đàn guitar đi vào âm nhạc Việt Nam từ bao giờ?
Tôi cũng không nghiên cứu về vấn đề đó, nhưng tôi chỉ biết rằng khi tôi sinh ra, thì ở Việt Nam, người ta đã dùng cây đàn guitar đó rồi.
BBC: Ảnh hưởng của cha ông tới ông như thế nào?
Bố tôi là ông Phạm Duy Tốn. Tôi bị ảnh hưởng của bố tôi. Bởi vì đó là một nhà văn phê bình xã hội, như là tiểu thuyết “Sống chết mặc bay” chẳng hạn. Hay ông là nhà văn trào phúng với ba tập tiếu lâm. Trong âm nhạc của tôi, tôi rất yêu bố tôi, nên tôi cũng đả động tới hai chủ đề đó.
Tuy nhiên, bố tôi đã phải mang một bí danh là Thọ An để viết truyện Tiếu Lâm, thì tôi cũng không muốn cho xuất bản Tục ca, hay Nhục tình ca của tôi.
BBC: Tại sao ông muốn sáng tác dân ca mới?
Tôi nghĩ rằng tôi là người Việt Nam, nếu tôi muốn được gọi là một nhạc sỹ Việt Nam, thì tôi phải làm nhạc dân ca. Đó là chuyện rất giản dị. Chứ không có lý do mà tôi là người Việt Nam, tôi lại đi thờ phụng ông Beethoven, hay ông Mozart, hay là ông gì. Tuy là các ông rất hay, nhưng không phải của tôi. Tôi phải khởi sự sáng tác của tôi bằng những bản nhạc mang tinh thần Việt Nam và với chất liệu của Việt Nam nữa.
BBC: Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã viết nhiều bài như “Xuất quân”, “Khởi hành”, “Tiếng hát trên sông Lô”, “Chiến sỹ vô danh”, “Thư chiến trường” v.v..., ông viết những bài đó vì tuyên truyền phải không?
Đúng, bởi vì lúc đó, cuộc kháng chiến chống Pháp, người Việt Nam lúc đó không có phương tiện nào hay bằng cách có những bản nhạc để khuyến khích người thanh niên đi kháng chiến. Thì phải có những bài đó. Nhưng bên cạnh những bài đó, tôi cũng có những bài không có dính líu gì về chính trị hay về chiến đấu gì cả. Những bản nhạc tình vẫn có như thường.
BBC: Các bài đó, như bài “Xuất quân”, có ảnh hưởng gì với người dân?
"Thường thường cuộc kháng chiến thành công như vậy là vì những bản nhạc tuyên truyền đó"
Có chứ. Nhờ có bài “Xuất quân” đó mà nhiều người Việt Nam, lúc đó họ hát nhiều lắm, nhờ thế mà họ có can đảm để họ xông vào đánh nhau với giặc Pháp. Tất nhiên không chỉ của tôi, mà còn của nhiều nhạc sỹ khác. Hồi đó ai đi theo kháng chiến, cũng làm những bản nhạc hay. Ngoài những bài như bài “Xuất quân” của tôi, còn những bài của những người khác nữa. Thường thường cuộc kháng chiến thành công như vậy là vì những bản nhạc tuyên truyền đó.
BBC: Miền Bắc có vẻ rất thành công trong việc dùng âm nhạc để tuyên truyền đối với nhân dân. Những người Việt Minh đã làm điều đó như thế nào?
Việc đó không có gì là lạ cả. Bởi vì những người thanh niên trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, những người nào không phải là nhạc sỹ, thì họ đi lính, họ cầm súng. Còn người nhạc sỹ thì cầm đàn, thế thôi.
BBC: Ông đồng ý với việc dùng cây đàn để tuyên truyền, khuyến khích người dân đi chiến đấu?
Lẽ tất nhiên bổn phận của chúng tôi là thế. Bổn phận của người nhạc sỹ khi đi theo kháng chiến, thì phải dùng cái đàn của mình để xưng tụng cuộc kháng chiến. Tôi chỉ biết rằng tôi có bổn phận phải làm những bản nhạc đó. Ngoài những bản nhạc về tình ái, hay về những chuyện khác, thì những bản nhạc có tính chất gọi là tuyên truyền đó thực ra cũng là những bản nhạc yêu nước thôi. Đừng nói là tuyên truyền hay không tuyên truyền.
BBC: Nhưng miền Nam có dùng nhạc để tuyên truyền không?
Ở đâu thì cũng thế. Ví dụ như nước Việt Nam mình tự nhiên bị các đế quốc lớn chia ra làm hai nước. Người Việt Nam mình lúc đó không chủ động được. Thành hai nước lại đánh lẫn nhau. Thế thì phải dùng âm nhạc hay là cũng phải dùng súng đạn, thì chuyện đó là giản dị, nó như thường thôi. Nó rất thường tình. Không có gì phải làm lạ.
BBC: Ông muốn nói gì khi viết bài “Chiến sỹ vô danh”?
Bài đó nằm ở trong những bản nhạc xưng tụng những người lính, những chiến sỹ vô danh. Đó là những chiến sỹ không ai biết tên mà chết vì đất nước.
BBC: Trong cuốn hồi ký của ông có nói về bài “Bên cầu biên giới”, bài đó thì sao?
Đó là một bản nhạc tình, chứ không phải là bản nhạc chiến tranh hay tuyên truyền gì cả. Lúc đó tôi đang ở Lào Cai, tôi nhớ tới một người tình, thì viết bài đó thôi.
BBC: Ông phổ nhạc nhiều bài thơ, ông có thể giải thích quan hệ giữa nhạc và thơ trong âm nhạc Việt Nam?
Theo truyền thống văn hóa của Việt Nam, những bài thơ ngày xưa làm ra đều phải thêm chữ ca hay là ngâm vào đó. Ví dụ như “Trinh phụ ngâm”, hay là “Gia huấn ca”. Bởi vì ngày xưa, người Việt Nam vẫn còn thất học, dân chúng không phải người nào cũng đọc, cũng biết chữ. Thế thì phải dùng giọng hát để phổ biến tác phẩm văn thơ. Khi tôi phổ nhạc bài thơ, vào thời nay, là tôi chỉ muốn đóng góp, tôi dùng âm nhạc chắp cánh cho thơ bay lên, thế thôi.
BBC: Vào năm 1954, ông đi Pháp và bắt tay sáng tác trường ca “Con đường cái quan”. Thời gian ở Pháp, ông còn làm gì?
Tôi học âm nhạc hai năm ở bên đó. Khi tôi đi Pháp học, không phải để học nhạc Pháp, học các tác giả, hay học âm nhạc nói chung, mà tôi chỉ học cách, lối, làm sao mà người Pháp, là ông Debussy, dùng âm giai ngũ cung, âm giai Piano mà toàn là nốt đen, để làm thành âm nhạc ngũ cung. Tôi nghiên cứu thế thôi, chứ tôi không phải đi nghiên cứu, học về lịch sử nước Pháp, âm nhạc nước Pháp, lịch sử của các nhân tài nước Pháp, bởi vì cái đó tôi thấy không quan trọng bằng cái lề lối làm việc của các ông. Ví dụ, như ông Debussy chẳng hạn.
BBC: Các đạo Phật, Lão, Nho có ảnh hưởng gì với âm nhạc của ông hay không?
"Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Có lúc tôi chửi đổng. Lại có lúc tôi ngọt ngào. Đối với tôi không có quan trọng gì cả"
Cái đó giản dị lắm. Nền văn hóa Việt Nam thừa hưởng kết quả của đạo lý Á Đông như là Khổng Giáo, Phật Giáo và Đạo Giáo. Do đó nhạc của tôi phù hợp dễ dàng với thị hiếu của người dân Việt Nam. Còn những bản nhạc Mỹ, Tàu hay Pháp, dù hay đến đâu chăng nữa, vẫn không vào được người Việt Nam. Bởi vì không phải của họ. Đó là những tác phẩm là kết quả của thời đại Phong Kiến. Ví dụ thế kỷ thứ 16, 17 là thế kỷ vàng son của nhạc cổ điển, phần nhiều các nhạc sỹ đều thoát thai từ ở những lớp người quyền quý, phong kiến mà thôi. Còn đối với người Việt Nam, thì người Việt Nam không nghe được.
BBC: Khi ông vô Nam năm 1954, ông đã muốn viết ca khúc về những điều gì?
Tất cả các chuyện tôi ở miền Bắc hay ở miền Nam, hay tôi ở bên Mỹ, thì chỉ là vì tôi thay đổi chỗ ở thôi. Cái đó là chuyện riêng tư mà không cần phải nói ra đây. Nhưng chỉ biết rằng từ khi tôi bắt đầu soạn nhạc, thì tôi đã có ý thức là âm nhạc là để “harmoniser l’homme et la société”. Âm nhạc thường thường dùng để điều hợp lại xã hội và con người. Từ lúc đó đến bây giờ, tôi không thay đổi gì cả. Có thể tôi ở chỗ này thì chính quyền đó như thế, tôi ở chỗ khác thì chính quyền ở đó như khác, nhưng tôi không theo chính quyền đó. Tôi theo ý của tôi thôi. Ý của tôi là thế này, nói cho đúng hơn, vấn đề là tôi chỉ muốn nước Việt Nam thống nhất, không bị chia rẽ nữa. Có thế thôi.
BBC: Nhưng nhạc của ông cũng bám sát thời cuộc đúng không?
Không thì làm sao mà tránh được. Thứ nhất, tôi có một bài hát mà tôi viết là “tôi phải khóc, cười, theo mệnh nước nổi trôi”, là trong bài “Tình ca” của tôi đó. Thế thì nươc tôi vui thì tôi vui, mà nước tôi buồn, thì tôi phải nói cái buồn, thế thôi.
BBC: Sau Tết Mậu Thân, ông đã viết 10 bài gọi là “Tâm phẫn ca” đúng không?
Không thì chuyện đó cũng lại nằm ở trong vấn đề tùy lúc. Có lúc tôi giận, tôi làm “Tâm phẫn ca”. Có lúc không. Có lúc tôi lại làm những bài thường thôi. Thế thôi.
BBC: Mục đích của ông khi viết những bài “Tâm phẫn ca” là gì?
Lúc đó chiến tranh đã đến chỗ gần như là cao độ nhất. Nhiều người chết quá, thì tôi phải nói lên. Tôi không ưa chiến tranh, có thế thôi. Cũng như ông Trịnh Công Sơn cũng vậy, ông ấy cũng không thích chiến tranh.
BBC: Ông có thể nói gì về “Tục ca”?
"Nước Việt Nam đâu chỉ có một vấn đề. Nó nhiều vấn đề lắm"
Đó là những cảm xúc của tôi trước nhiều vấn đề. Nước Việt Nam đâu chỉ có một vấn đề. Nó nhiều vấn đề lắm. Có lúc người ta nói tục lên, có lúc người ta nói thanh. Hiểu không? Thì tôi phải theo người dân. Lúc đó ai cũng tức, cũng bực mình cả, thì phải làm tục ca. Có thế thôi. Nhưng mà tôi phải đắn đo một tí là tôi làm 10 bài tục ca thật đấy, nhưng tôi có phát hành. Ai muốn phê bình cái đó, không có bài đó để phê bình, là vì tôi không phát hành. Những bài đó không bao giờ xuất bản vì tôi không muốn.
BBC: Những bài đó có người hát không?
Bạn bè thì có người biết, nhưng mỗi người biết một bài, hai bài là cùng thôi. Bài tục ca của tôi là 10 bài. Anh phải nghe đủ 10 bài thì anh mới phê bình tôi.
BBC: Ông có thể giải thích chi tiết hơn về “Tâm phẫn ca”, như trong đó có bài “Tôi không phải là gỗ đá,” ý của ông thực ra là gì?
Tôi không phải là gỗ đá, có thế thôi. Tôi không thể coi cuộc đời, người ta chết là người dưng nước lã, đâu có được. Người Việt Nam mà chết vì chiến tranh thì làm chúng tôi cũng đau khổ lắm. Cũng như ông Trịnh Công Sơn thôi.
BBC: Ông đã trình diễn một số lần với ông Trịnh Công Sơn?
Không, tôi không có bao giờ cả, nhưng tôi có đi hát chung với Khánh Ly.
BBC: Khi đi hát chung với Khánh Ly thì ông có cảm xúc như thế nào?
Bà ta hát hay lắm. Bây giờ bà vẫn được nổi tiếng lắm. Thì đó cũng là tình đồng nghiệp thôi, chứ không có gì khác. Có gì đâu mà phải quan trọng.
BBC: Theo tôi hiểu, ông đã viết “Tâm phẫn ca” sau Tết Mậu Thân và sau đó thì vào Mùa Hè Đỏ lửa 1972, ông cũng đã viết một số bài nói về Quân đội Cộng hòa phải không? Chẳng hạn như “Điệp khúc Trần Thế Vinh”.
Thường thường các anh ở ngoại quốc hay dựa vào những mảnh sống của tôi để nói về cái đó. Nhưng riêng tôi thì thấy là nó nằm chung ở trong sự nghiệp của tôi. Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Có lúc tôi chửi đổng. Lại có lúc tôi ngọt ngào. Đối với tôi không có quan trọng gì cả.
BBC: Ông có thể nói về kinh nghiệm của ông với mùa Hè 1972?
Đừng nhắc gì tới mùa Hè 1972 hay 1975 gì cả. Đối với tôi, thời gian là lúc đó, cái humour của tôi, cái cảm xúc của tôi nó ra. Ngày hôm sau thì tôi quên rồi. Thế thì anh nhắc cũng là vô ích.
BBC: Và ông cũng viết “Tình ca” vào năm 1972 đúng không?
Bài đó là bài tôi phản đối sự chia đôi đất nước Việt Nam. Lúc đó là hội nghị Geneve đã chia đôi đất nước Việt Nam. Mà tôi không đồng ý. Tôi đưa hình ảnh một người lữ khách đi con đường, và đi đến đâu, dân chúng ca tụng người nghệ sỹ đi nối lại lòng người và đất nước. Lúc đó đất nước bắt đầu gần như là bị chia rồi. Lúc đó mới bắt đầu thôi, từ năm 1954 tới 1975 là 20 năm. Hai mươi năm đó, lúc nào tôi cũng đau đáu trong lòng. Và tôi cũng thấy trường hợp vô lý quá.
Tại sao nước Việt Nam tự nhiên lại chia đôi ra như thế, lại bị người ta làm cho cắt đôi ra như thế?
Thế nhưng khổ nhất là vấn đề cái lịch sử nó là như vậy mất rồi. Không riêng gì nước Việt Nam bị cắt đôi mà Triều Tiên, Đại Hàn, nước Đức cũng bị cắt đôi. Cái đó cho ta thấy rõ rang vấn đề là do tính cách lịch sử thôi.
BBC: Âm nhạc Mỹ tràn vào Việt Nam những năm 1960, ông nghĩ sao về nhạc Mỹ vào và nó ảnh hưởng tới nhạc Việt Nam ra sao?
Nhạc sỹ Phạm Duy cùng nhạc sỹ Phạm Tuyên
Không, tôi không có ý nghĩ gi cả. Làm sao mà tôi ngăn cản không cho họ vào được, dù rằng không bao giờ tôi muốn nước Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nhạc Mỹ đâu, nhưng làm sao tôi ngăn cản được? Việc làm của tôi là xưng tụng dân ca Việt Nam.
BBC: Cảm xúc của ông khi từ Bắc vô Nam hồi năm 1954 như thế nào?
Tôi chẳng thấy gì cả. Tôi chỉ thấy cuộc đời của tôi cũng giống như cuộc đời của những người dân thường khác. Trước kia thì không có vợ, có con. Từ khi có vợ có con thì phải có trách nhiệm với vợ con, thế thôi. Thế còn về việc tôi phải thay đổi chỗ ở như vậy là vì phải tránh nạn chiến tranh. Nó đến nơi, thì nó không cần biết là anh theo ai cả, mà chiến tranh đến là anh phải chạy thôi.
BBC: Ca khúc quan trọng nhất của ông là gì?
Nếu nói như vậy thì nó dài dòng quá. Thứ nhất là mỗi một bài hát nói thẳng ra đâu có gì là quan trọng. Nó như là bông hoa, sớm nở tối tàn. Hát xong rồi, có khi dân chúng họ quên ngay rồi. Họ cũng quên nữa, huống chi là tôi. Thế thì anh hỏi những câu đó thì tôi cũng khó trả lời lắm.
BBC: Ông cũng thuộc phong trào du ca phải không?
Lúc đó nhạc Việt Nam bị thương mại hóa, thành thử, tôi và một số anh em trẻ thành lập ban nhạc, đi hát cho anh chị em sinh viên, học sinh nghe, để chống lại phong trào thương mại hóa nhạc Việt. Du ca là đi hát du ca, đi hát mọi nơi, mà không lấy tiền. Đi như là những người hát rong. Tôi đi hát luôn luôn đấy. Còn nhiều những bức ảnh của tôi hát ở những nơi toàn học sinh, sinh viên nghe thôi.
BBC: Phản ứng của sinh viên như thế nào?
Họ thích lắm, bởi tự nhiên họ được nghe những bài nhạc mà không phải là nhạc thương mại. Nhạc thương mại lúc đó nó tầm thường lắm. Nó cũng chỉ có anh yêu em, em yêu anh thôi. Không có những trường hợp sâu sắc như những bản nhạc mà chúng tôi muốn dựng lên.
BBC: Ông có thể nêu một bài là ví dụ của phong trào Du ca?
Nhiều lắm, “Trả lại tôi tuổi trẻ”, tuổi trẻ lúc bấy giờ cũng bị người ta mê hoặc. Tôi phải làm bài hát “Trả lại tôi tuổi trẻ”. Nhiều lắm, rồi “Mùa đông du ca”, toàn những bản nhạc hay.
Mời quý vị đón theo dõi phần II, cũng là phần cuối của cuộc phỏng vấn với nhạc sỹ Phạm Duy, ở phần này ông nói về giai đoạn ông vượt biên sang Hoa Kỳ, cùng các biến cố chiến tranh đã ăn sâu trong sự nghiệp âm nhạc của ông như cuộc di cư Bắc Nam, mùa hè Đỏ Lửa, biến cố 1975, trở về quê hương và nhiều sự kiện khác.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture_social/2012/12/121214_phong_van_pham_duy.shtml