Posts tonen met het label Ngành chăn nuôi. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Ngành chăn nuôi. Alle posts tonen

donderdag 8 mei 2014

Dự án khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam

Dự án khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam

Chương trình KHMT kỳ này, Gia Minh phỏng vấn bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, viên chức điều hành của Dự án ‘Chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam’, nói về những công tác được triển khai trong thời gian qua và những công việc sắp đến của dự án.
Gia Minh, biên tập viên RFA
2012-11-25
 
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
biogas-305.jpg
Lễ kỷ niệm công trình Khí Sinh Học thứ 100.000 tại thôn Đô Lương, xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.
Photo courtersy of biogas.org.vn

Thành công

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt: Dự án ‘Chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam’ bắt đầu từ năm 2003. Như vậy đến nay gần 10 năm rồi. Dự án có 2 pha: pha thứ nhất từ năm 2003 đến năm 2005, pha bắt đầu năm 2006, và pha 2 bắt đầu từ năm 2007. Thực chất dự án đến năm 2010, nhưng nhờ thành công nên mở rộng đến năm 2012 và nay mở rộng đến năm 2014.
Gia Minh: Vậy những thành công có thể chia sẻ là gì?
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt: Thứ nhất phải nói, tính đến bây giờ, dự án đã xây dựng được 120 ngàn công trình. Số công trình này mang lại lợi ích cho 600 ngàn người nông dân.
Thứ nhất phải nói, tính đến bây giờ, dự án đã xây dựng được 120 ngàn công trình. Số công trình này mang lại lợi ích cho 600 ngàn người nông dân.
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Thứ hai nữa nhiều lợi ích của dự án được thể hiện thông qua các hợp phần. Ví dụ công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về lợi ích của khí sinh học, thì dự án đang triển khai tại 53 tỉnh thành trên cả nước. Số lượng tài liệu tuyên truyền cho dân tương ứng rất nhiều.
Bên cạnh công tác tuyên truyền là công tác giám sát chất lượng. Toàn bộ công trình của dự án xây 120 ngàn đó được giám sát ở cấp tỉnh, huyện, và cấp trung ương cũng có kiểm tra. Tất cả công trình được quản lý trong cơ sở dữ liệu database của dự án. Ngoài ra dự án cũng tiến hành các hoạt động nghiên cứu cũng như khuyến khích sử dụng phụ phẩm.
Dự án được xem thành công vì đây là dự án qui mô hộ gia đình lớn nhất tại Việt Nam được sự hỗ trợ của chính phủ Hà Lan và tổ chức SNV.
Dự án được sự ghi nhận quốc tế là năm 2006 với giải thưởng Global Award, và năm 2010 Ashden Award.
Gia Minh: Như vậy có những dự án khác, vậy có sự phối hợp ra sao không?
Bộ trưởng Bộ Hợp tác Phát triển Hà Lan thăm nhà một nông dân tại Huế sử dụng khí sinh học để nấu bếp, ảnh chụp năm 2006. Photo courtesy of  biogas.org.vn
Bộ trưởng Bộ Hợp tác Phát triển Hà Lan thăm nhà một nông dân tại Huế sử dụng khí sinh học để nấu bếp, ảnh chụp năm 2006. Photo courtesy of biogas.org.vn
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt: Thực tế tại Việt Nam hiện nay dự án khí sinh học của Hà Lan được coi là dự án lớn nhất về qui mô và thời gian tham gia. Bên cạnh đó, hiện nay Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn cũng còn hai dự án khí sinh học qui mô hộ gia đình nhưng rất nhỏ. Đó là dự án của Ngân hàng Thế giới, và của Ngân hàng Phát triển Châu Á. Chỉ tiêu của dự án ADB chỉ 20 ngàn công trình trong năm năm, và của WB 9 ngàn công trình trong năm năm. Còn của Hà Lan là 168 ngàn công trình.
Thế thì vì sao những dự án khí sinh học qui mô vừa và lớn chưa có nhiều vì đối với dự án qui mô hộ gia đình có hỗ trợ cho các hộ dân, mà thường là đối tượng nghèo hoặc cận nghèo. Nhưng ở qui mô vừa và lớn thì không thuộc đối tượng được trợ giá nữa, mà mang tính thương mại nhiều hơn. Đến nay dự án cùng với SNV hỗ trợ một dự án bên ED Mekong. Đó chỉ làm 10 công trình thí điểm qui mô vừa và lớn. Đang triển khai và viết tiếp pha 2. Như thế giữa các dự án luôn có sự phối hợp với nhau.

Trở ngại

Gia Minh: Nghe ra thuận lợi, nhưng dự án có những trở ngại gì không?
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt: Trở ngại thế này: đến nay dự án đã triển khai được 53 tỉnh, trên tổng số 63 tỉnh thành trên cả nước. Những tỉnh tiềm năng có nhu cầu khí sinh học cao thì đã được tiếp cận và triển khai rồi; còn những tỉnh còn lại dự án cũng sẽ tiếp cận cho đến 58 tỉnh. Tuy nhiên khó khăn là nhận thức của người dân chưa cao. Thường khi thực hiện dự án tại một tỉnh mới, chúng tôi thường mất từ 3-5 năm. Trong thời gian từ 3 đến 5 năm đó phải đầu tư nhiều chi phí cho công tác tuyên truyền, rồi đào tạo, tập huấn, nghiên cứu-ứng dụng…; thậm chí còn công tác tăng cường năng lực cho cán bộ của tỉnh.
Tuy nhiên khó khăn là nhận thức của người dân chưa cao.
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Trở ngại thứ hai do yêu cầu của dự án là đóng góp vốn đối ứng của tỉnh. Đây là một khó khăn vì có những tỉnh rất nghèo khó thu xếp vốn đối ứng. Đây lại là một trong những điều kiện để triển khai dự án khí sinh học qui mô hộ gia đình; đó là các tỉnh phải có cam kết thu xếp vốn đối ứng, tuy rằng không nhiều. Hiện nay vốn hỗ trợ 1,2 triệu đồng tiền mặt cho dân trả trực tiếp qua bưu điện; nhưng bên phía ODA, phía chính phủ Hà Lan hỗ trợ 625 ngàn đồng một công trình, còn tỉnh phải thu xếp 575 ngàn đồng một công trình.
Nguồn tiền của dự án từ chính phủ Hà Lan sẽ chấm dứt vào năm 2013. Hiện nay chúng tôi cũng đang tìm nguồn tiền thông qua hình thức bán giảm phát thải. Nhưng phải đến cuối năm hay sang năm mới biết có được hay không. Nếu được thì đây là cơ sở đầu vào của dự án để có thể tiếp tục hỗ trợ cho các tỉnh và triển khai đến 58 tỉnh thành trên cả nước.

Bền vững

Xây dựng công trình khí sinh học quy mô nhỏ tại một hộ dân ở Huế. Photo courtesy of  biogas.org.vn
Xây dựng công trình khí sinh học quy mô nhỏ tại một hộ dân ở Huế. Photo courtesy of biogas.org.vn
Gia MinhVề kỹ thuật xây dựng các hầm biogas và các thiết bị dẫn gas, tổ chức có cơ sở thế nào và chung với các đơn vị khoa học ở Việt Nam thế nào không?
Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt: Công nghệ khí sinh học qui mô hộ gia đình là công nghệ KT1, KT2. Công nghệ này đã có ở Việt Nam từ rất lâu và được nghiên cứu bởi Viện Năng lượng. Thế thì dự án cùng chuyên gia Viện Năng luợng và Bộ Nông nghiệp đánh giá và xếp công nghệ này đạt tiêu chuẩn ngành của Việt Nam. Qua thời gian, dự án có nhiều nghiên cứu đánh giá về công nghệ này và thấy nó thực sự mang tính bền vững. Lý do KT1 dùng cho các vùng có mạch nước ngầm thấp, còn KT2 cho các vùng mạch nước ngầm cao như trong miền Nam. Những công nghệ này đã được kiểm chứng về khoa học bên Viện Năng Lượng, Bộ Nông nghiệp và bên dự án.
Người dân cũng ưu ái công nghệ KT1, KT2 vì có thể tận dụng được nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương như gạch, cát, sỏi; cũng như tận dụng được nguồn nhân lực của hộ gia đình giúp tiết kiệm trong việc đào đất, hố để xây công trình. Công nghệ KT1, KT2 cũng tạo ra công ăn việc làm cho đội thợ xây. So với công nghệ composite thì nhà tài trợ vẫn lập luận công nghệ KT1, KT2 vừa giúp giải quyết vấn đề về môi trường và thực sự có tính bền vững. Chứ không một số công nghệ khác được đưa ra nhưng không chứng minh được tính bền vững.
Gia Minh: Cám ơn bà về những thông tin chia sẻ.

Theo dòng thời sự:

zondag 30 maart 2014

Việt Nam : Ngành chăn nuôi lỗ 27.000 tỷ đồng

Thứ sáu, 28/3/2014 | 00:09 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ | Print
Thứ sáu, 28/3/2014 | 00:09 GMT+7

Ngành chăn nuôi lỗ 27.000 tỷ đồng

Lãnh đạo Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết nuôi lợn và gia cầm chịu lỗ nặng nhất.
Ông Nguyễn Đăng Vang, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết, tính từ đầu năm 2012 đến nay, ngành chăn nuôi trong nước lỗ 27.000 tỷ đồng. Trong đó, chỉ nuôi bò vẫn có lãi. Trong 2 năm, có tới 20 tháng là lỗ hoặc hòa vốn, 4 tháng có lãi xen kẽ nhưng chủ yếu vào các thời điểm tết.
Ông chia sẻ với VnExpress.net về câu chuyện của ngành chăn nuôi hiện nay.  
- Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng lỗ kéo dài trong ngành chăn nuôi là gì thưa ông?
- Trước tháng 3/2012, thì nhiều người chăn nuôi vẫn có lãi. Tuy nhiên, sau đó thì chuyển sang lỗ.  Nguyên nhân của tình trạng này là giá bán thấp hơn giá thành, cung vượt cầu. Chúng tôi ước tính tác động của dịch bệnh đến giá cả chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại chủ yếu là do cung vượt quá cầu.
hheo-3017-1395911297.jpg
Theo Hiệp hội Chăn nuôi, người nuôi lợn và gia cầm chịu lỗ nặng nhất trong 2 năm qua. Ảnh: Anh Quân
Năm 2008, Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với xây dựng trang trại nhằm phát triển chăn nuôi bền vững. Từ khoảng đầu năm đến cuối 2011, một số lĩnh vực chăn nuôi lãi rất cao, thậm chí giá bán gấp đôi giá thành. Chẳng hạn, giá thành thịt heo khi đó chỉ 35.000 đồng một cân nhưng giá bán lên hơn 70.000 đồng, giá thịt gà cũng có lúc lên đến 60.000 đồng đã khiến nhiều người mở rộng trang trại hoặc đầu tư xây mới. 
Thời điểm này, kinh tế nói chung và thị trường bất động sản dấu hiệu đi xuống, hiệu quả đầu tư giảm. Nhiều người có tiền đổ xô đi đầu tư xây dựng trang trại theo phong trào mà không có sự nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng cũng dẫn đến tình trạng như hiện nay. 
- Để xảy ra tình trạng cung vượt cầu, theo ông nguyên nhân chính là do đâu?  
- Ngoài lý do đầu tư theo phong trào một cách tràn lan, hiện nay hệ thống dữ liệu của chúng ta về ngành chăn nuôi chưa cung cấp được các thông tin kịp thời để nhà đầu tư có thể tính toán việc mở rộng đàn. Ví dụ, các số liệu như tổng đàn cả nước hiện nay là bao nhiêu, số lượng dự kiến bán ra ở các thời điểm như thế nào để người dân biết mức độ cung cầu trên thị trường. Nếu giá đang rẻ đi tức là cung đã vượt cầu. Việc cung cấp thông tin hiện nay của chúng ta tiến hành không thường xuyên hoặc quá lạc hậu nên người chăn nuôi có đánh giá sai về thị trường.
Tôi lấy ví dụ, theo Tổng cục Thống kê năng suất nuôi gà đẻ của Việt Nam vẫn là 100-140 quả trứng mỗi con một năm nhưng thực tế hiện nay hơn gấp đôi con số này. Theo tính toán của Hiệp hội Chăn nuôi, sản lượng thịt gia cầm của chúng ta hiện đạt trên 2 triệu tấn một năm nhưng Tổng cục Thống kê chỉ tính có trên 800.000 tấn. Chính số liệu thống kê chưa chính xác, lại thấp hơn nhiều so với thực tế nên người chăn nuôi thấy nhu cầu thị trường vẫn thiếu, cứ đua nhau sản xuất ra nên gia cầm làm ra hai năm nay lỗ liên tục.
- Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có các cá nhân thành công với một số mô hình chăn nuôi. Vậy theo ông, trong trường hợp nào thì người chăn nuôi có lãi?
- Chúng tôi nhận thấy, những nhà sản xuất phải hoàn toàn đi mua thức ăn và con giống thì lỗ. Trong những ngày này, những người chăn nuôi gia cầm đang lỗ nặng trứng gà đang lỗ nặng khi giá thành vào khoảng 1.500 đến 1.600 nhưng giá bán 1.100 đến 1.200 đồng.  Một số trang trại tự chế biến hoặc trộn thức ăn, tự sản xuất con giống thì tiết kiệm được 12-13% chi phí, có thể hòa vốn. Những trang trại có lãi là họ chủ động trong nhiều khâu từ con giống, thức ăn, đến dịch bệnh, đầu ra sản phẩm thì được đảm bảo do ký hợp đồng với doanh nghiệp... 
Và tôi cũng khẳng định, không phải nuôi con gì cũng lỗ, điều quan trọng là phải có nghiên cứu thị trường. Hiện nhiều người chăn nuôi bò thịt và bò sữa vẫn có lãi tốt vì nhu cầu trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ. Hiện nay, mỗi năm, chúng ta đang phải nhập khẩu gần 200.000 con bò thịt từ các nước và trên một tỉ USD các sản phẩm từ sữa. 
- Lời khuyên của ông đối với những hộ chăn nuôi hiện nay là gì?
- Tôi cho rằng, trước mắt người chăn nuôi, đặc biệt là lợn và gà đừng vào đàn quá nhiều, chuồng trại nếu chưa nuôi thì có thể bỏ trống, việc xây dựng thêm chuồng mới cũng nên từ từ. Hiện nhu cầu sản phẩm chăn nuôi tăng trưởng rất chậm, chỉ khoảng 5% mỗi năm nên phải mất khoảng 2 năm nữa mới lấp đầy chuồng trại có sẵn. 
- Theo ông, Việt Nam nên phát triển mô hình chăn nuôi như thế nào trong thời gian tới?
- Người Mỹ đã sáng tạo ra mô hình sản xuất theo chuỗi cách đây hơn nửa thế kỷ và đến nay những tập đoàn chăn nuôi thành công trên thế giới đều áp dụng nó. Với mô hình này sẽ có sự liên kết chia sẻ rủi ro và lợi nhuận giữa nhà sản xuất thức ăn, con giống, người chăn nuôi và đơn vị chế biến, giết mổ để đưa ra thị trường.
Với người chăn nuôi, việc đầu tư vào trang trại cũng là mô hình phổ biến ở các nước. Tuy nhiên, để hiệu quả, các trang trại ở Việt Nam phải nâng cao chất lượng con giống, chuyên môn hóa quá trình chăn nuôi, áp dụng phương thức quản lý hiện đại để giảm giá thành, kiểm soát dịch bệnh... Một số mô hình cụ thể tôi đã thấy họ làm tốt những điều này thì vẫn lãi cao.  
Ngọc Minh

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/nganh-chan-nuoi-lo-27-000-ty-dong-2969838.html

zaterdag 24 augustus 2013

Việt Nam : Ngành chăn nuôi phá sản: cứu chữa cách nào

Ngành chăn nuôi phá sản: cứu chữa cách nào

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-08-21
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Một trại nuôi gà công nghiệp
Một trại nuôi gà công nghiệp
AFP

Nghe bài này

Tổ chức lại sản xuất chăn nuôi trong bối cảnh thị trường suy giảm người nuôi bỏ nghề, có thể dẫn tới nhiều thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam.
Chăn nuôi nhỏ lẻ không tồn tại
Khi sức mua suy giảm trên thị trường ảnh hưởng tình hình kinh tế nói chung, ngành chăn nuôi ở Việt Nam càng lộ ra những căn bệnh kinh niên của mình. Các loại thịt đưa ra thị trường có giá thành cao hơn khu vực, hơn nữa vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo, nên hầu như không thể xuất khẩu mà thị trường còn tiêu thụ một lượng không nhỏ thịt nhập khẩu .
Bà Nguyễn Thị Lạc, một nhà chăn nuôi gia cầm có nhiều kinh nghiệm ở ngoại thành Saigon nhìn nhận tình hình rất khó khăn cho những người chăn nuôi tư nhân.
“ Đầu ra lệ thuộc quá nhiều vào thị trường mấy anh công ty lớn cũng không chủ động được đầu ra, đâm ra khó khăn lắm. Hiện nay những người chăn nuôi nhỏ, những người chăn nuôi tư nhân hầu như người ta không nuôi nữa, tại vì giá thị trường lên xuống bất chợt, liên tục hai, ba năm nay giá thì đều dưới giá thành. Do đó người nuôi tư nhân chịu không xiết phá sản hầu hết, chỉ còn duy trì những người nào nuôi cho công ty thì còn là do cái tiền công đó thôi. Thị trường hiện nay quá khó khăn như vậy lại thêm chuyện thịt gà nhập từ nước ngoài về nữa. Thị trường trong nước khó lắm không ổn định mà hiện nay cũng chưa thấy chính sách gì để bảo trợ.”
Hiện nay những người chăn nuôi nhỏ, những người chăn nuôi tư nhân hầu như người ta không nuôi nữa, tại vì giá thị trường lên xuống bất chợt, liên tục hai, ba năm nay giá thì đều dưới giá thành.
Bà Nguyễn Thị Lạc
Là một thành phần của nền kinh tế tiểu nông, ngành chăn nuôi Việt Nam cũng phát triển theo kiểu hộ chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ với hàng triệu đơn vị. Những trang trại chăn nuôi lớn có qui trình khép kín, phần lớn nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Các đại công ty nước ngoài đầu tư vào chăn nuôi cũng chiếm lĩnh thị phần quan trọng về sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản phẩm thịt và trứng gia cầm, thịt heo….
Nuôi bò sữa nhỏ lẻ trong các hộ gia đình. Photo BaHoat/vietlinh
Nuôi bò sữa nhỏ lẻ trong các hộ gia đình. Photo BaHoat/vietlinh

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, năm 2012 sản lượng thịt heo hơi đạt 3.160.000 tấn, thịt gia cầm 730.000 tấn, thịt trâu bò khoảng 380.000 tấn. Tình hình chăn nuôi suy giảm nghiêm trọng trong năm 2013 nhưng chưa có số liệu công bố, một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long giảm tổng đàn từ 10% tới 28%  trong nửa đầu năm nay.
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội nhận định chính sách phát triển nông nghiệp của Việt Nam đầy bất cập mà lãnh vực chăn nuôi là một thí dụ:
“Trên trận địa chăn nuôi thì đã để cho các nhà đầu tư nước ngoài khống chế thị trường về thức ăn chăn nuôi và từ đó tạo nên nhiều sức ép đối với người nông dân, cũng như bản thân họ tổ chức chăn nuôi ở Việt Nam và biến nông dân thành những người làm gia công cho họ và đặt mức giá rất thấp. Tất cả những việc đó nó gây thiệt hại cho người nông dân, ngành chăn nuôi bây giờ đang thực sự sống dở chết dở và tương lai hết sức đáng lo ngại.”
Liên kết với các doanh nghiệp
Vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp trong đó có ngành chăn nuôi được đề ra từ năm 2011, nhưng đến nay mới rục rịch chuẩn bị sau khi chính phủ phê duyệt đề án tổng thể hồi đầu tháng 7 vừa qua.
Để giải quyết nhược điểm cơ cấu chăn nuôi nhỏ lẻ theo kinh tế hộ gia đình thì phải có giải pháp như thế nào. Chuyên gia khoa học chăn nuôi Nguyễn Thanh Sơn ở Việt Nam nhận định:
Theo đó các hộ nông dân bây giờ phải liên kết lại với nhau, hoặc phối hợp liên kết với doanh nghiệp để nằm trong chuỗi giá trị sản xuất. Còn nếu nông dân cứ chăn nuôi nhỏ lẻ đơn phương như hiện nay thì rất khó để tham gia thị trường tốt hơn được.
Ông Nguyễn Thanh Sơn
“ Việc tổ chức lại sản xuất trong đó có cơ cấu lại các phương thức chăn nuôi, thì hộ gia đình cũng là đối tượng mà chính phủ hết sức quan tâm. Tôi được biết Bộ NN-PTNT đang xây dựng chính sách hỗ trợ trong đổi mới chăn nuôi nông hộ. Theo đó các hộ nông dân bây giờ phải liên kết lại với nhau, hoặc phối hợp liên kết với doanh nghiệp để nằm trong chuỗi giá trị sản xuất. Còn nếu nông dân cứ chăn nuôi nhỏ lẻ đơn phương như hiện nay thì rất khó để tham gia thị trường tốt hơn được.”
Theo chuyên gia Nguyễn Thanh Sơn, chăn nuôi liên kết, chăn nuôi gia công trên thực tế đã được thực hiện ở Việt Nam từ nhiều năm nay. Tuy nhiên mô hình này cũng cần được sửa sai hoàn thiện. Ông nói:
“ Ví dụ các hộ nông dân có đất, có vốn có thể liên kết với các doanh nghiệp trong nước ngoài nước để sản xuất kinh doanh chăn nuôi đặc biệt lĩnh vực chăn nuôi lợn chăn nuôi gà. Nhưng có điều hiện nay mô hình chăn nuôi gia công với các doanh nghiệp nước ngoài thì cũng cần xem xét lại ở chỗ lợi ích đôi bên đảm bảo sự phát triển bền vững. Ở các mô hình chăn nuôi gia công hiện nay thực ra người chăn nuôi còn bị thua thiệt nhiều.”
Chăn nuôi gia công cho doanh nghiệp lớn của nước ngoài có thể là một giải pháp cho một số người chăn nuôi đủ điều kiện, như phải có đất, có vốn bác tỷ để đầu tư chuồng trại. Mô tả tình hình khó khăn hiện nay ngay cả trong chăn nuôi gia công bà Nguyễn Thị Lạc phát biểu:
“ Do chi phí hiện nay cao quá mà giá khoán của công ty thì không thay đổi, thành ra lợi tức của người nuôi cho công ty giảm đi vài chục phần trăm, ít nhất là 30% so với trước đây. Nhưng mà có một thuận lợi là được chăn nuôi liên tục với công ty, được bảo đảm đầu vào đầu ra, không giàu nhưng cũng được.”
Bà Nguyễn Thị Lạc trình bày lý do tại sao nhiều người chăn nuôi có vốn, có kinh nghiệm, có kỹ thuật nhưng vẫn không thể tự tổ chức chăn nuôi mà phải đi theo hình thức liên kết gia công. Bà nói:
“ Muốn tự nuôi khép kín từ khâu con giống cho đến sản phẩm giết mổ sau chăn nuôi, thì vừa đòi hỏi vốn vừa đòi hỏi kỹ thuật…nhiều lắm, chúng tôi làm không nổi, chúng tôi vốn nhiều lắm là vài tỷ để làm cái trại thôi, chứ còn khép kín hoàn toàn từ con giống đến sản phẩm sau chăn nuôi phải có vài trăm tỷ thì mới làm nổi.”
Theo bà Nguyễn Thị Lạc mô hình chăn nuôi gia công có thể sẽ phát triển ngày một lớn ở Việt Nam khi càng ngày càng có thêm công ty nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này, bên cạnh các đại công ty đã có mặt lâu nay của Thái Lan, Malaysia, Indonesia….
Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Lạc có thể là một kinh nghiệm về tái cơ cấu cho ngành chăn nuôi Việt Nam. Nhưng đa phần những hộ chăn nuôi gia đình có qui mô rất nhỏ, từ vài ngàn con tới chục ngàn con, so với qui mô 100.000 con của trại bà Lạc.
Việc liên kết các hộ chăn nuôi gia đình với nhau đầy phức tạp, cần hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao kiến thức chăn nuôi khoa học và cấp tín dụng nông nghiệp ưu đãi cho các hộ chăn nuôi hợp tác hóa. Hãy chờ xem những tín hiệu tái cơ cấu trong lãnh vực chăn nuôi của ngành Nông nghiệp Việt Nam được khởi sự như thế nào.