Posts tonen met het label Dân số. Alle posts tonen
Posts tonen met het label Dân số. Alle posts tonen

zaterdag 27 februari 2016

Dân số Nhật giảm 'một triệu' người

Dân số Nhật giảm 'một triệu' người

  • 8 giờ trước
Image copyright epa
Image caption Ước tính đến năm 2060, khoảng 40% người Nhật ở độ tuổi từ 65 trở lên
Số liệu điều tra dân số mới ở Nhật Bản cho thấy dân số nước này đã giảm gần một triệu người trong năm năm qua, là đợt giảm đầu tiên kể từ năm 1920.
Tính đến tháng 10/205, quốc gia này có 127,1 triệu người, ít hơn 0.7% so với lần khảo sát dân số trước.
Các nhà nghiên cứu dân số từ lâu đã tiên đoán lượng sụt giảm này, và chỉ ra nguyên nhân là tỷ lệ sinh giảm cùng với thiếu người nhập cư.
Dân số già đi nhanh chóng góp phần khiến nền kinh tế trì trệ và gây lo ngại chi phí y tế ngày càng tăng.
Nhật Bản nay có 947.000 người ít hơn so với số liệu đo vào năm 2010, theo dữ liệu từ Bộ Nội vụ và Thông tin nước này.
Chỉ có tám khu vực, trong đó có thủ đô Tokyo, có lượng dân số tăng lên, kênh truyền hình nhà nước NHK đưa tin.
39 vùng còn lại đều sụt giảm dân số, trong đó Fukushima có số lượng giảm lớn nhất, lên tới 115.000 người.
Image copyright AFP Getty
Image caption Thảm họa nhà máy điện hạt nhân Fukushima rò rỉ sau sóng thần và động đất khiến hàng chục nghìn người phải di dời
Fukushima là khu vực đặt nhà máy điện hạt nhân bị rò rỉ sau đợt động đất và sóng thần năm 2015.
Tốc độ tăng dân số Nhật chậm lại trong vài thập kỷ trở lại đây, và đến lần điều tra dân số năm 2010, tốc độ tăng trưởng đã hoàn toàn ngừng lại.
Theo dự đoán của chính phủ, đến năm 2060 khoảng 40% công dân nước này sẽ chạm độ tuổi 65 hoặc hơn và dân số chung sẽ chỉ còn 2/3 số hiện có.
Thủ tướng Shinzo Abe đặt mục tiêu tăng tỷ lệ sinh từ 1.4 trẻ lên 1.8 trẻ trên mỗi phụ nữ, và cải thiện hệ thống chăm sóc trẻ em cùng chính sách ưu đãi thuế.
Các nền kinh tế phát triển thường cần tỷ lệ sinh ít nhất là 2.1 trẻ để có được dân số ổn định.

Tin liên quan

woensdag 16 april 2014

Dân số Nhật ngày càng thưa thớt và già cỗi

Thứ ba 15 Tháng Tư 2014

Dân số Nhật ngày càng thưa thớt và già cỗi

Dân Nhật vừa già, vừa thưa thớt.
Dân Nhật vừa già, vừa thưa thớt.
DR

Mai Vân
Theo số liệu thống kê của Nhật Bản công bố ngày 15/04/2014, tổng số cư dân xứ Hoa Anh đào, tính cả người nước ngoài, đã giảm thêm 217.000 người trong vòng 1 năm, tính cho đến tháng 10 năm ngoái. Trong số này, những người từ 65 tuổi trở lên chiếm ¼ dân số.

Theo số liệu được AFP trích dẫn, vào ngày 01/10/2013, tổng dân số Nhật là 127.298.000 người, giảm 0,17% so với năm trước. Đây là năm thứ ba liên tiếp mà dân số Nhật nhìn chung giảm với mức độ hơn 200.000 người, nguyên nhân là do tỷ lệ tử vong cao hơn tỷ lệ sinh sản vốn vẫn rất thấp.
Trong bối cảnh đó, số dân từ 65 tuổi trở lên lại tăng thêm 1,1 triệu người, đạt 31,9 triệu, chiếm 25,1% tổng dân số Nhật Bản.
Trên bình diện kinh tế, hiện tượng dân số bị giảm sút và lão hóa không phải là một điều hay. Vấn đề đặt ra đối với Nhật Bản theo các chuyên gia, lại là xu hướng sự giảm sụt dân số nói trên đã không được bù đắp bằng một chính sách nhập cư đúng đắn.
Cho dù được các định chế, như Quỹ Tiền tệ Quốc tế chẳng hạn, khuyến khích, nhưng hiện tượng người nước ngoài nhập cư tại Nhật Bản không đáng kể - nếu không muốn nói là hiếm hoi - do việc cả chính quyền cũng như dân chúng Nhật không mấy sẵn sàng chấp nhận.
 
TAGS: NHẬT BẢN - XÃ HỘI
http://www.viet.rfi.fr/xa-hoi/20140415-dan-so-nhat-ngay-cang-thua-thot-va-gia-coi

woensdag 25 september 2013

Dân số Việt Nam lên gần 90 triệu người

Dân số Việt Nam lên gần 90 triệu người Tuesday, September 24, 2013 2:11:32 PM








HÀ NỘI (NV) - Tính đến ngày 24 tháng 9, 2013, dân số Việt Nam xấp xỉ 90 triệu người, đứng hàng thứ 13 thế giới và thứ 3 khu vực Đông Nam Á.
Dân số quá đông, cảnh kẹt xe như thế này diễn ra hàng ngày ở thành phố Sài Gòn. (Hình: Tuổi Trẻ)

Con số này được công bố chính thức tại hội nghị "Pháp lệnh về dân số" diễn ra ở Hà Nội trong ngày nêu trên.

Thứ trưởng Bộ Y Tế Nguyễn Viết Tiến, người chủ tọa cuộc hội nghị, cho biết cứ mỗi năm, dân số Việt Nam tăng thêm một triệu người.
Tốc độ gia tăng dân số này đã chậm lại so với thời gian trước đó. Thế nhưng, tỉ lệ gia tăng tuy giảm, mật độ dân số của Việt Nam vẫn thuộc nhóm các quốc gia cao nhất thế giới, vì đất đai chật hẹp. Hiện nay, mật độ dân số Việt Nam là 267 người mỗi km2.

Báo mạng VNExpress dẫn phúc trình của Bộ Y Tế nói rằng, Việt Nam đang ở vào thời kỳ dân số "vàng," tức dân số trong độ tuổi lao động chiếm đa số. Nhưng đáng tiếc là số người trong độ tuổi từ 15 trở lên được đào tạo trình độ kỹ thuật chuyên môn tại các trường đại học chưa quá 15%.
Để chận đà gia tăng dân số quá nhanh, Việt Nam cấm cán bộ công chức có quá hai con. Các kế hoạch từ phá thai đến triệt sản đặt chỉ tiêu cho từng khu phố, từng làng xã, từng được thi hành trên cả nước.
Trước đây, hệ thống loa tuyên truyền của nhà cầm quyền các địa phương lập danh sách và gọi phụ nữ theo lịch đi  đặt vòng xoắn ngừa thai, gọi đàn ông đi triệt sản, xen kẽ với những bản tin tuyên truyền khác hàng ngày.
Dân thì mỗi ngày một đông hơn nhưng nhiều nơi đời sống của dân chúng vẫn nghèo khổ.

Năm 2002, thống kê của LHQ nói tỉ lệ gia đình nghèo ở Việt Nam là 29% và số gia đình bị thiếu đói thường xuyên là 10.87% trong khi chế độ Hà Nội chỉ nhìn nhận có 12.9%. Nhờ các chương trình viện trợ và cấp tín dụng ưu đãi của các định chế tài trợ quốc tế và nhiều chính phủ, năm 2009, nhà cầm quyền CSVN cho hay cả nước có khoảng 2 triệu hộ nghèo đói hay 11% dân số.
Ngày 6/7/2013 vừa qua, Tổng Cục Thống Kê báo cáo trên cả nước còn 323,2000 “lượt hộ thiếu đói”, tương ứng với 1,351,000 nhân khẩu. Hiện nay, nhà cầm quyền trung ương CSVN “đặt chỉ tiêu” là đến cuối năm nay, tỉ lệ “hộ nghèo” trên cả nước giảm xuống còn 7.6%.

Tại một cuộc họp diễn ra trước hôm Thứ Ba 24/9/2013 một ngày, cũng ở Hà Nội, Trưởng ban Kinh tế trung ương Vương Đình Huệ thú nhận rằng, nền kinh tế Việt Nam đang "tuột hậu" so với các quốc gia trong khu vực.

Theo Việt Nam Net, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam, tại hội nghị này, đã dùng vô số "mỹ từ" để đặt tên cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Chẳng hạn như "suy yếu," tụt hậu," khoảng cách ngày càng xa so với các nước" … Một số diễn giả đồng thanh quả quyết rằng kế hoạch năm năm, từ 2011 đến 2015 của Việt Nam - đã đi hơn 2/3 đoạn đường - không thể thực hiện được trong thời gian còn lại.

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nhìn nhận rằng, lạm phát tăng vọt, kinh tế vĩ mô bất ổn cho thấy sự yếu kém của nền kinh tế khiến Việt Nam "khó phục hồi đà tăng trưởng sau cuộc khủng hoảng." Điều này, theo ông Phúc, cho thấy khoảng cách của sự phát triển giữa Việt Nam và các nước khu vực ngày một xa."

Trong khi đó, theo cựu Phó Thủ Tướng Vũ Khoan, nền kinh tế Việt Nam "lổn ngổn" vì những người lãnh đạo đã đề ra toàn "những thứ không tưởng."

Việt Nam Net dẫn lời ông Trần Thọ Đạt, Phó hiệu trưởng trường Kinh tế quốc dân, cho biết tốc độ GDP trung bình của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 tăng chưa đến 6%, thấp hơn nhiều so với kế hoạch mong muốn. (PL-TN)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=173933&zoneid=1#.UkL2AvnCS70
 

zaterdag 4 mei 2013

Dân số và sự giàu nghèo

Dân số và sự giàu nghèo

Tiếp tục loạt bài về các yếu tố phát triển một quốc gia, chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa nói đến dân số hay sức người.
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2013-01-16
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Ke-hoach-hoa-dan-so-305.jpg
Pano tuyên truyền hạn chế dân số ở Hà Nội
RFA photo


Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Tiếp theo chương trình kỳ trước, về những quy luật của sự giàu nghèo tại các quốc gia trong lịch sử và ngay trong hiện tại, xin đề nghị ông   trình bày một yếu tố mà ngày nay nhiều người đang nói tới, là dân số. Người ta nói tới là vì hiện tượng lão hóa dân số trong các nước công nghiệp hoá và vì sức đua tranh hiện nay của hai nền kinh tế đang phát triển có dân số đông nhất địa cầu, là Trung Quốc và Ấn Độ.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Như thường lệ, tôi sẽ nói về bối cảnh trước và trước hết xin giải độc ở một số ngộ nhận tai hại. Trong một giai đoạn quá lâu, người ta cứ cho rằng các nước nghèo sở dĩ gặp phải phận nghèo vì dân số quá đông cho nên có một cái bánh mà phải chia cho quá nhiều người thì ai cũng phải nhận một phần nhỏ hơn. Đây là một sai lầm về lý luận kinh tế và còn dẫn đến tinh thần giành giựt miếng ăn mà không nhìn ra cách sản xuất một cái bánh to hơn.
Người ta sở dĩ sai lầm như vậy vì từ mấy trăm năm nay, từ các nước kỹ nghệ hoá đã xuất hiện lời báo động về nạn "nhân mãn", nói nôm na là "quá đông người". Ta nhớ rằng mục sư Malthus là kinh tế gia người Anh đã cảnh báo từ thế kỷ 18 rằng nếu không có biện pháp ngăn ngừa thì dân số nhân loại gia tăng theo cấp số nhân sẽ vượt quá phương tiện sinh hoạt chỉ gia tăng theo cấp số cộng và thế giới sẽ khủng hoảng. Sau này, ta thấy cái nhìn bi quan ấy là không đúng.
Vũ Hoàng: Thưa ông, có thể là không đúng trong các nước tư bản công nghiệp hóa nhờ cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật với nhiều ứng dụng trong sản xuất kinh tế, chứ tại các nước nghèo thì chúng ta có thấy sự bùng phát dân số nhanh hơn sản lượng kinh tế chứ? Ông giải thích thế nào về chuyện này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là trong một giai đoạn nhất định thì chuyện ấy có thể đã xảy ra nên mới dẫn đến lý luận sai lạc về nạn nhân mãn. Một cách giản dị cho dễ nhớ về một thí dụ tiêu biểu thì người ta cho rằng liều thuốc kháng sinh trị giá mấy đồng bạc có thể cứu được mạng sống của một người nghèo trong một xứ gọi là chậm tiến, nhưng nếu phải nuôi người đó trong cả đời thì xứ này sẽ không có đủ phương tiện, vì thế mới báo động về nạn nhân mãn và đề cao việc giới hạn đà gia tăng dân số tại các nước nghèo.
Sự thật nó lại rắc rối hơn vậy và tôi cho rằng đây mới là một lý luận chậm tiến, lạc hậu, vì người ta lầm lẫn về tương quan nhân quả của sự giàu nghèo. Cũng vì vậy mà mình mới phải có loạt bài cơ bản này. Câu chuyện còn rắc rối hơn khi nhiều nước nghèo lại bị mê hoặc bởi lý luận Mác-xít nên là nạn nhân của cả Malthus lẫn Marx và Lenin mà không nhìn ra sự thật.
Vũ Hoàng: Ông hay có lối nói ví von để gợi ý tò mò. Thưa ông, thế nào là nạn nhân của cả Malthus lẫn Marx và Lenin?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Xuất phát từ lý luận tiêu cực của Malthus, người ta cho rằng các nước đang phát triển, thuộc Đệ tam Thế giới hay Thế giới Thứ ba, sở dĩ nghèo đi là vì nạn nhân mãn nên nghĩ đến việc kiểm soát dân số hay kế hoạch hóa gia đình. Thế rồi, nhiều người theo lý luận Mác-Lenin lại cho rằng các quốc gia ấy sở dĩ gặp cảnh nghèo khó là vì bị tư bản bóc lột chứ không vì dân số quá đông. Họ đả phá lập luận bi quan của Matlhus và đề cao lý luận lạc quan của Marx về cuộc cách mạng để giành lấy phần hơn của một cái bánh vẫn có kích thước như cũ mà không nhìn đến giải pháp phát triển thực sự. Bây giờ ta trở về sự sai lầm về "nhân mãn".

Sự sai lầm về "nhân mãn"

Dan-so_3-250.jpg
Giao thông trên đường phố Hà Nội. RFA photo
Vũ Hoàng: Ông cho rằng khái niệm "nhân mãn" này là một sự sai lầm?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Không những thiếu chính xác vì không phản ảnh thực tế mà còn có thể dẫn đến liều thuốc đổ bệnh và làm cho lãnh đạo các nước nghèo lấy quyết định sai lầm.
Trước hết, thế nào là "nhân mãn" hay "overpopulation", nói theo Anh ngữ? Là quốc gia có dân số đông hơn khả năng cung ứng của địa lý hay thiên nhiên chăng? Thí dụ như nếu tính theo dân số trên diện tích đất đai chẳng hạn thì ta có "mật độ dân số" là số bình quân của người dân trên một cây số vuông. Liệu mật độ quá cao có thể giải thích vì sao quốc gia ấy nghèo hay chăng?
Xét theo tiêu chuẩn ấy, Việt Nam có 90 triệu dân trên 330 ngàn cây số vuông thì có mật độ là 265 người cho một cây số vuông. So với mật độ của Đài Loan là 642 người, của Nam Hàn là 490 người thì Việt Nam chưa bị hiện tượng nhân mãn và đáng lý phải giàu hơn chứ? Sự thật lại trái ngược như ai cũng có thể thấy. Nếu có tính cho tinh vi hơn, như là xem trên diện tích chung đó có bao nhiêu cây số vuông là khả canh, tức là có thể canh tác nhờ điều kiện địa dư hoặc kỹ thuật nông nghiệp, hoặc ở bên dưới còn có những tài nguyên thiên nhiên nào có thể khai thác thì vấn đề vẫn y như vậy. Việt Nam có điều kiện địa dư và khoáng sản cao hơn mà vẫn nghèo hơn. Lý do của sự giàu nghèo nó phải nằm ở chỗ khác, thí dụ khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên nằm dưới lòng đất, nghĩa là ở cái đầu của con người.
Vấn đề của Việt Nam không là dân số mà là dân trí và trình độ của lãnh đạo.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Chưa kể là nếu một quốc gia có dân cư quá thưa thớt thì việc giao lưu buôn bán chưa chắc đã có lợi bằng một xứ có mật độ dân số cao hơn và tập trung hơn. Có phải thế không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa ông đúng như vậy. Các nước Châu Phi trong vùng sa mạc Sahara có khi chẳng bị nạn nhân mãn như Đài Loan hay Nhật Bản mà vẫn nghèo là vì lý do khác. Kỳ trước, ta nhắc đến trường hợp Argentina tại Nam Mỹ. Xứ này giàu tài nguyên đủ loại, không quá đông dân và bước vào thế kỷ 20 thì là một trong 10 nước giàu nhất thế giới, hơn hẳn Đức, Pháp mà nay họ bị tụt hậu và nghèo đi thì chẳng phải vì bị nạn nhân mãn mà vì sai lầm của lãnh đạo.
Lý luận về nhân mãn, là vì quá đông dân mà quốc gia nghèo đi, không giải thích được tương quan nhân quả về sự giàu nghèo. Khả năng khai thác tài nguyên có sẵn từ cả vạn năm ở nơi đó, như là thác nước hay giếng dầu, cũng là một biểu hiện khác của sự giàu có và đưa bài toán dân số vào đó chẳng giải quyết được vấn đề mà còn mình có cái nhìn lệch lạc về chính sách kinh tế.
Vũ Hoàng: Chúng ta trở lại trường hợp của Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đông dân nhất thế giới hiện nay. Ông giải thích thế nào về yếu tố dân số trong sự phát triển của hai xứ này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc đang là cường quốc kinh tế và lò chế biến của thế giới nhờ dân số rất cao là một tỷ 350 triệu dân với mật độ chỉ có chừng 140 người trên một cây số vuông. Sở dĩ như vậy là vì xứ này cải cách kinh tế từ 30 năm qua chứ không còn mù quáng theo chính sách bế quan toả cảng và chế độ tập trung quản lý của quá khứ. Ấn Độ đi sau, kém 100 triệu dân và có mật độ cao gấp bội là 370 người, và mới chỉ cải cách từ hơn 20 năm thôi.
Nhưng lãnh đạo Trung Quốc đã sợ nạn nhân mãn mà kế hoạch hóa gia đình với chính sách mỗi hộ một con áp dụng từ năm 1978. Ngày nay, họ bắt đầu thấy ra hậu quả là dân số chậm tăng, bị lão hóa và mất sức cạnh tranh. Trong khi ấy, dù đông dân và có mật độ cao hơn, Ấn Độ lại theo hướng khác và ngày nay có dân số trẻ hơn, và nhờ vậy sẽ có ngày bắt kịp sản lượng Trung Quốc. Vì vậy, quy luật ở đây không là dân số hay cái lượng mà là cái phẩm, là khả năng đóng góp của mỗi người vào sự thịnh vượng chung của cả cộng đồng.

Trường hợp Việt Nam

Hoc-sinh_1-250.jpg
Dân số trẻ ở Việt Nam, ảnh minh họa. RFA photo
Vũ Hoàng: Qua phần cuối, ta nói về trường hợp Việt Nam. Quốc gia này cũng có một dân số khá đông và phải nói là khá trẻ sau mấy chục năm chiến tranh liên tục. Liệu dân số hay nhân khẩu có là một vấn đề trong bài toán giàu nghèo của Việt Nam hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi còn nhớ 20 năm trước có lãnh tụ Đông Nam Á nhận xét là nếu họ có lãnh thổ như Việt Nam thì đã nuôi nổi 200 triệu dân. Bản thân tôi còn thấy nhiều giới chức tại Đài Loan mở tấm bản đồ xứ mình giải thích rằng họ có thể phát triển khu vực này hay ngành nghề nọ, như Pháp nói về Đông Dương ngày xưa vậy! Đau lòng lắm khi thấy sau đó họ thực hiện các dự án như đã trù hoạch từ trước.... Vấn đề của Việt Nam không là dân số mà là dân trí và trình độ của lãnh đạo.
Vũ Hoàng: Xin ông giải thích cho điều ông vừa phát biểu.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ lãnh đạo một nước không thể chủ quan duy ý chí mà quyết định về dân số hay tỷ lệ sinh nở cao thấp của người dân. Đây là yếu tố văn hóa và xã hội với hậu quả lặng lẽ, rất chậm và rất mạnh mà mình chỉ thấy trong trường kỳ, nếu có viễn kiến.
Khi hiểu ra điều ấy thì người ta phải thấy rằng mỗi công dân sinh ra đời có thể là một miệng ăn nhưng sẽ là đôi tay làm và được hướng dẫn bằng cái đầu, bằng trí tuệ. Nếu thực tình tin vào khả năng tiến hóa của con người thì nên lạc quan nghĩ đến khả năng đóng góp và giải quyết bài toán kinh tế của công dân hơn là bi quan cho rằng mỗi người sinh ra sẽ là một của nợ, một gánh nặng.
Từ đó, thì lãnh đạo phải tạo điều kiện mở mang dân trí và bản thân phải nâng cao trình độ quản lý, tức là phải ý thức được những giới hạn của mình, là chuyện không hề có tại Việt Nam.
Một cách cụ thể thì họ phải xây dựng hạ tầng yểm trợ người dân trong công cuộc phát triển. Hạ tầng đó gồm có nền tảng pháp quyền, là luật lệ thông thoáng minh bạch cho kinh doanh sản xuất như ta đã nói kỳ trước.
Hạ tầng đó cũng là cơ sở khai thác tài nguyên và chuyên chở để giải quyết bài toán khan hiếm và phân phối tại những nơi xa xôi nhất. Quan trọng hơn cả và nói về dân trí hay khả năng sản xuất của một dân số rất đông và trẻ, ta nên nghĩ đến giáo dục và đào tạo.
Khi lãnh đạo còn bắt giam những người trẻ vì sự khát khao của họ thì đấy không còn là vấn đề dân trí mà là chuyện "quan trí" - hay lòng ái quốc không hề có của những kẻ đang cầm quyền.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Đó là câu kết luận, thưa ông, giáo dục và đào tạo dân số của Việt Nam có vấn đề gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu sự giàu có hay thịnh suy của xứ sở nằm trong cái đầu người dân hơn chỉ là cái miệng đòi ăn thì việc giáo dục từng người từ cấp trung tiểu học phải là nhiệm vụ ưu tiên và lâu dài của chính quyền. Nôm na là phải có nền giáo dục miễn phí cho mọi người trong mươi mười hai năm đầu để có nền tảng dân trí tối thiểu và sự bình đẳng cho toàn dân.
Sau bậc trung học thì hệ thống giáo dục và đào tạo tay nghề hay chuyên môn phải được mở ra cho tư nhân tham gia vì họ ý thức được yêu cầu của thự tế, của thị trường. Tức là phải tư nhân hóa, hay "xã hội hóa" nói theo người Hà Nội bây giờ. Việt Nam lại làm ngược với các nước Đông Á nghèo hơn mà có trình độ phát triển cao hơn.
Đó là thả nổi giáo dục trung tiểu học cho tư nhân khai thác, tức là nhà nước phủi tay với đại đa số con trẻ và tạo ra một rào cản bất công vì không trợ cấp học phí. Sau đó, nhà nước lại còn kiểm soát hệ thống giáo dục ở cấp cao đẳng và đại học vì muốn bảo vệ tư tưởng của chế độ nên mới gây ra khủng hoảng về đào tạo trong khi cả một thế hệ năng động đang khát khao học hỏi kiến thức mới lạ của thế giới văn minh bên ngoài.
Khi lãnh đạo còn bắt giam những người trẻ vì sự khát khao của họ thì đấy không còn là vấn đề dân trí mà là chuyện "quan trí" - hay lòng ái quốc không hề có của những kẻ đang cầm quyền.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi thật hào hứng này.

Theo dòng thời sự:


zondag 13 mei 2012

Dân số Nhật Bản : ngày càng già đi

12-5-2012
Liên quan đến lãnh vực đời sống, mục « Câu chuyện trong ngày » trên phụ san báo Le Figaro có một thông tin khá khôi hài. Theo tờ báo, lượng tã quần được bán ra tại Nhật Bản thể hiện cho thấy cấu trúc dân số tại Nhật Bản.
Thông thường, sự thịnh vượng của nhà sản xuất tã quần trong một quốc gia chứng minh cùng lúc cho thấy mức sống của người dân – vì tã sử dụng một lần thể hiện nền tiêu thụ của một quốc gia giàu và sức mạnh dân số. Tuy nhiên, tại Nhật Bản, lại có một xu hướng khác đi.
Lần đầu tiên trong lịch sử nhà sản xuất tã lớn nhất Nhật Bản, nhãn hiệu Unicharm, lượng bán của loại tã dành cho người lớn đã vượt qua mặt loại tã dành cho trẻ em trong năm qua. Điều này cho thấy, tỷ lệ người trên 65 tuổi tại Nhật Bản cao nhất trên thế giới : chiếm 23,3% dân số cả nước.
Nếu như tỷ lệ sinh con ở phụ nữ vẫn thấp (1,39 trẻ cho một phụ nữ) thì số người già sẽ chiếm đến 40% dân số trong vòng 50 năm tới.
Từ các dự đoán này, các nhà sản xuất và cung cấp tã lớn tại Nhật Bản được huy động cho giới khách hàng này. Theo họ, đây sẽ là « động lực tiêu thụ » chính. Le Figaro nhận định, hiện tượng « papy-boom » không chỉ có ở xứ Mặt trời mọc, mà ngay cả tại Trung Quốc. Hiện tại, nếu như số người trên 65 tuổi tại đất nước Vạn Lý Trường Thành này chỉ chiếm chưa tới 9% dân số thì trong vòng mười năm nữa sẽ có tới 26 triệu đầu bạc. Một thị trường mà nhà sản xuất Nhật Bản Unicharm muốn tấn công ngay tức thì.

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20120512-cu-dan-mang-trung-quoc-dung-kieu-noi-long-de-luon-lach-su-kiem-duyet-cua-bac-kinh