Posts tonen met het label 50 Năm. Alle posts tonen
Posts tonen met het label 50 Năm. Alle posts tonen

maandag 16 mei 2016

50 năm Cách Mạng Văn Hóa, đề tài cấm kỵ tại Trung Quốc

50 năm Cách Mạng Văn Hóa, đề tài cấm kỵ tại Trung Quốc

mediaHình ảnh về Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc tại Bảo tàng tại Tứ Xuyên.Reuters
Ngày 16/05/2016 đánh dấu kỷ niệm 50 năm phát động Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Quốc. Một cuộc thanh trừng chính trị lớn để Mao Trạch Đông khẳng định quyền lực đối với Cộng sản Trung Quốc và củng cố lại ảnh hưởng sau thất bại của chính sách Đại Nhảy Vọt. Nhưng Bắc Kinh muốn quên đi cuộc Cách Mạng Văn Hóa này.
Từ Thượng Hải, thông tín viên Angélique Forget, tường thuật :
"Đây là một lễ kỷ niệm mà chính quyền muốn đừng ai nhắc đến. Ở Trung Quốc, không một buổi lễ nào được dự kiến tổ chức, khi họ muốn trang trang lịch sử và quên đi sự kiện đen tối này.  Trên báo chí chính thức, hiếm có bài ca ngợi hay nhắc đến sự kiện bi thảm đó. 
Theo ước tính, cuộc Cách Mạng Văn Hóa vô sản này có lẽ đã làm cho hàng triệu người thiệt mạng. Một cách chính thức, Trung Quốc từng thừa nhận đã phạm “một sai lầm nhỏ” nhưng ngày nay, chẳng ai muốn nhắc đến nữa vì sợ bị chỉ trích là làm tổn hại đến hình ảnh và ký ức về Mao Trạch Đông, biểu tượng của đảng Cộng sản Trung Quốc.
Do vậy, rất nhiều chứng nhân, đao phủ cũng như nạn nhân, từ chối thuật lại những hồi ức của mình. Bằng chứng cho thấy Trung Quốc muốn rũ sạch quá khứ là ngay cả bảo tàng duy nhất được dành cho cuộc Cách Mạng Văn Hóa, tuần này đã được công an giám sát chặt chẽ".
http://vi.rfi.fr/chau-a/20160515-trung-quoc-50-nam-cach-mang-van-hoa-mot-de-tai-cam-ky


zondag 10 november 2013

50 năm cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba

50 năm cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba


Cập nhật: 13:22 GMT - thứ ba, 16 tháng 10, 2012

Media Player

Triển lãm ở Washington đánh dấu 50 năm cuộc khủng hoảng quốc tế vì Liên Xô đưa tên lửa hạt nhân sang Cuba.
Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Một cuộc triển lãm vừa được Viện Tư liệu Quốc gia Mỹ khai trương tại Washington, Hoa Kỳ, để kỷ niệm 50 năm sự kiện quốc tế Cuộ́c Khủng hoảng Hỏa tiễn Cuba.
Triển lãm nhìn lại giai đoạn căng thẳng 13 ngày vào tháng 10 năm 1962 khi Hoa Kỳ do Tổng thống John F Kennedy và nước Nga cộng sản do Tổng bí thư Nikita Khrushchev lãnh đạo đã tiến gần tới một cuộc chiến hạt nhân vào lúc Chiến tranh Lạnh lên cao trào.
Lãnh tụ Fidel Castro của Cuba ban đầu khá miễn cưỡng nhưng cuối cùng đã chấp nhận để Moscow triển khai đầu đạn hạt nhân trên hòn đảo nhằm 'tự vệ' và ngăn chặn khả năng can thiệp quân sự của Washington.
Chính tại đây Liên Xô khi đó đã lắp đặt hàng chục tên lửa hạt nhân nhắm vào nước Mỹ và có thể phóng tới Washington hay xa hơn nữa.
Mỗi đầu đạn trên hỏa tiễn R-12 mạnh hơn gần 80 lần so với bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima.
Nguy cơ chiến tranh hạt nhân lên cao điểm vào ngày 27/10/1962 khi một chiếc phi cơ trinh thám của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Cuba.
Chuyện xảy ra khi Hoa Kỳ không biết rằng Nga còn gửi thêm 100 tên lửa hạt nhân chiến thuật tới Cuba và sẽ sử dụng nếu Hoa Kỳ tấn công nước đồng minh.
Phản ứng lan tỏa của vụ việc có thể đạt mức không thể lường trước được.
Cuối cùng ông Nikita Khrushchev đồng ý tháo bỏ các hỏa tiễn chiến lược và ông John F Kennedy hứa sẽ không xâm lăng Cuba.
Giải pháp ngoại giao đã chấm dứt nguy cơ cuộc đối đầu Đông Tây biến thành chiến tranh nguyên tử giữa hai phe tư bản và cộng sản.

donderdag 31 oktober 2013

Tưởng niệm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại

Tưởng niệm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm


Cập nhật: 10:19 GMT - thứ tư, 30 tháng 10, 2013

Gia đình Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm (thứ hai từ trái) trong một tấm ảnh chụp cả gia đình
Thứ Bảy ngày 2/11 sắp tới sẽ là tròn 50 năm ngày ông Ngô Đình Diệm, tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, bị sát hại trong một cuộc đảo chính vào năm 1963 cùng với bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu.
Hiện nay, các cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã tưởng niệm hoặc đang chuẩn bị lễ tưởng niệm hai ông đồng thời nhắc nhớ lại thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam do hai ông lãnh đạo.

Thánh lễ tưởng niệm

Giáo xứ Việt Nam Paris tại thủ đô Pháp quốc thông báo sẽ tổ chức lễ giỗ cho hai ông Diệm-Nhu vào ngày 2/11 tới với sự tham gia của ông Ngô Đình Quỳnh, thứ nam của ông Ngô Đình Nhu.
Thánh lễ bắt đầu vào lúc 11h và sẽ do Linh mục Mai Đức Vinh chủ tế.
Vào cuối buổi lễ sẽ diễn ra buổi giới thiệu và bán sách ‘Le République du Vietnam et les Ngô Đình’ (Việt Nam Cộng hòa và dòng họ Ngô Đình) do các con của ông bà Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô Đình Lệ Quyên và Ngô Đình Quỳnh cùng với bà Jacqueline Willemetz chấp bút từ di cảo của bà Trần Lệ Xuân.
Trước đó, hôm 26/10, tại Boston thuộc tiểu bang Massachusetts của Hoa Kỳ đã diễn ra lễ ‘Kỷ niệm lần thứ 50 ngày giỗ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm’ cùng với kỷ niệm ngày lập quốc của Việt Nam Cộng hòa vào ngày 26/10 năm 1956.
Hình ảnh trên video được lan truyền trên mạng cho thấy bàn thờ ông Diệm dựa trên nền cờ vàng ba sọc đỏ (quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa) và buổi lễ có sự tham gia của đông đảo Việt kiều, phần lớn đã lớn tuổi.
Ngô Đình Diệm
Ông Diệm là một nhân vật gây tranh cãi
Một số cựu quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng hòa đã chào di ảnh của cố Tổng thống Diệm.
Tại buổi lễ, sau lễ chào quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa và Mỹ, những người tham dự đã dành phút mặc niệm ‘chí sỹ Ngô Đình Diệm suốt cuộc đời vì nước vì dân đã bị thảm sát vì bất khuất trước thế lực đại cường và vì quyết tâm bảo vệ quyền dân tộc tự quyết’, theo lời của người dẫn chương trình.

Tổng thống đầu tiên

Ngô Đình Diệm sinh năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thuộc Trung phần Việt Nam. Ông là tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa cho đến ngày ông bị sát hại vào ngày 2/11 năm 1963.
Ông bị các tướng dưới quyền đảo chính sau hàng loạt hành động phản kháng của Phật giáo bị chính quyền của ông đàn áp đẫm máu. Hành động đảo chính này được cho là ‘do Mỹ giật dây’ để thay ngựa giữa dòng.
Kể từ sau khi hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị sát hại, dòng họ Ngô Đình cũng trải qua nhiều biến cố.
Hai người con gái của Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân là Ngô Đình Lệ Thủy và Ngô Đình Lệ Quyên lần lượt qua đời vào năm 1967 và 2012 vì tai nạn giao thông.
Bản thân bà Trần Lệ Xuân cũng sống những năm tháng cuối đời trong lặng lẽ và qua đời hồi năm 2011 ở một bệnh viện ở Rome ở tuổi 87.
Hiện nay, giới trẻ Việt Nam trong nước nhiều người không biết gì về ông Ngô Đình Diệm ngoài việc ông là tổng thống của miền Nam ngày xưa.


Thêm về tin này

Chủ đề liên quan

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/10/131030_ngodinhdiem_remembered.shtml

50 năm sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-10-31
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Ngo_Dinh_Diem_-_Thumbnail_-_ARC_542189-305.jpg
TT Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.
Courtesy U.S. Air Force



Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một nhóm tướng lãnh quân đội Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam thực hiện cuộc đảo chánh làm sụp đổ chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kính Hòa hỏi chuyện một số nhân chứng của thời điểm ấy 50 năm sau.

Người lập ra nền đệ nhất cộng hòa

Nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày bùng nổ cuộc đảo chánh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa lật đổ vị Tổng thống của nền đệ nhất cộng hòa tại miền nam Việt Nam. Cuộc đảo chánh kết thúc đẫm máu với cái chết của ba anh em gia đình Tổng thống.
Hồi tưởng lại thời điểm 50 năm trước, nhà báo Trần Phong Vũ, vào thời điểm tháng 11 năm 1963 đang dạy học và làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn, hiện đã về hưu và sống ở miền Nam California:
“Thế hệ chúng tôi là những người di cư từ miền Bắc vào miền nam vào lúc đã trưởng thành lúc đất nước bị chia đôi, nếu anh theo dõi các cao trào của đám sinh viên di cư từ miền bắc vào rồi được giúp đỡ rất là nhiều để học hành trở lại, rồi về phía quần chúng đượcc ổn định trong một đời sống rất khó khăn khi bỏ hết tài sản ở miền Bắc, với con số cả triệu người. Tôi nghĩ là trong tâm thức của họ là những ý nghĩ rất tốt đối với vị Tổng thống đã lập ra nền đệ nhất cộng hòa ở miền Nam.”
Tổng thống Ngô Đình Diệm gắn bó rất nhiều với cộng đồng Công giáo di cư từ miền Bắc. Một người Công giáo khác là Linh mục Phạm Trung Thành, Giám tỉnh Dòng Chúa cứu thế TP HCM, vào thời điểm của cuộc đảo chánh hãy còn là một thiếu niên hồi tưởng về sự kiện ngày 1tháng 11 năm 1963,
Ngo_Dinh_Diem_at_Washington_-_ARC_542189-250.jpg
TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.

“Đó là ấn tượng tuổi thơ của tôi, lúc ấy tôi còn nhỏ mới học hết tiểu học. Gia đình rất là kính trọng và quý mến cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Cha tôi là một công chức nhỏ trong chánh quyền. Các ấn tượng của tôi là suốt một thời gia dài chúng tôi rất hòa bình, sung túc và hạnh phúc. Khi nghe tin chế độ đệ nhất Cộng hòa bị sụp đổ, và Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết chết, gia đình chúng tôi rất là đau lòng. Tôi còn nhớ là mẹ tôi cùng với vài chị em quen biết ngồi đọc kinh cho Tổng thống và khóc rất là nhiều. Lúc đó chúng tôi còn thơ trẻ nhưng có một ấn tượng là có một cái gì đó mất mát rất là lớn. Lúc lớn lên tôi cũng cảm nhận được sự mất mát đó. Tôi vẫn nhớ lại thủa sống bình an yên lành, những gì mà cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và những cộng sự xây dựng cho miền nam này.”
Sự tiếc thương đó của những người công giáo kéo dài cho đến 50 năm sau. Những buổi lễ tưởng niệm ngày mất của cố Tổng thống được các cộng đồng công giáo hải ngoại tổ chức hàng năm.

Phải tha thứ, phải cảm thông

Song cũng có những tiếng nói khác. Một viên chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, hiện sống ở Hoa Kỳ, không muốn nêu tên, thì lại nói rằng dù cái gì diễn ra đi nữa thì việc sử dụng Dụ số mười đối với cộng đồng Phật giáo như một sự kỳ thị vào nửa đầu năm 1963 là không thể chấp nhận, trong một quốc gia mà cộng đồng Phật giáo là đa số.
Ai làm gì thì thú thật tôi có đọc, có xem, có nghiên cứu nhưng tâm hồn của tôi thì tôi muốn nói rằng tôi phải tha thứ, phải cảm thông.
-LM Phạm Trung Thành
Ông nói tiếp rằng những tranh cãi nhau về sự kiện này giữa những người Việt không cộng sản với nhau vẫn còn. Nhà báo Trần Phong Vũ nói về việc tranh cãi này:
“Chuyện tranh cãi ấy là có thật. Cái phản ứng đó cũng dễ hiểu thôi. Những người Việt Nam chúng ta không có dữ kiện trong tay một cách đầy đủ, rồi có thiên kiến, rồi cũng có khi do những quan điểm đấu tranh khác nhau mà dẫn tới việc tranh giành mọi thứ về phía mình rồi dẫn tới chuyện tranh cãi.”
Trong khi đó Linh Mục Phạm Trung Thành từ TP HCM nêu ý kiến của ông rằng nên tha thứ:
“Tôi không muốn quan tâm đến ai, hay những nguyên nhân nào đã làm hại Tổng thống. Dưới cái nhìn của một tu sĩ thì tôi cho rằng Tổng thống đã qua một con đường khổ giá cho sự yêu mến giáo hội, đất nước, dân tộc. Còn ai làm gì thì thú thật tôi có đọc, có xem, có nghiên cứu nhưng tâm hồn của tôi thì tôi muốn nói rằng tôi phải tha thứ, phải cảm thông. Tôi không thể có một nhận định nào nặng nề, tiêu cực về phía đó.”
Liệu lớp bụi thời gian 50 năm có làm tan đi được tranh cãi, khoảng cách nửa thế kỷ có làm cho sự cảm thông của Linh Mục Phạm Trung Thành lan tỏa!

donderdag 7 februari 2013

50 năm quan hệ Pháp-Đức : Hai lãnh đạo gặp nhau tại sân vận động Stade de France

Thứ tư 06 Tháng Hai 2013

50 năm quan hệ Pháp-Đức : Hai lãnh đạo gặp nhau tại sân vận động Stade de France

Thủ tướng Đức Angela Merkel và tổng thống Pháp Francois Hollande (REUTERS)
Thủ tướng Đức Angela Merkel và tổng thống Pháp Francois Hollande (REUTERS)

Lê Phước
Tối nay, ngày 06/02/2013, tại sân vận động Pháp quốc Stade de France ở vùng ngoại ô Paris, tổng thống Pháp François Hollande cùng thủ tướng Đức Angela Merkel sẽ có mặt để thưởng thức trận bóng đá giao hữu nằm trong khuôn khổ các hoạt động kỉ niệm 50 năm quan hệ Pháp-Đức.

Tuy nhiên, mục đích của họ đến Stade de France không chỉ là để thưởng thức bóng đá. Theo lịch trình, trước khi trận đấu diễn ra, tổng thống Hollande và thủ tướng Merkel sẽ có cuộc hội đàm tại văn phòng của sân vận động để bàn về các vấn đề còn bất đồng giữa hai bên.
Vấn đề trước tiên có thể là ngân sách Liên Hiệp Châu Âu (EU). Đây là một nổ lực của hai phía trong việc thu ngắn khoảng cách khác biệt trước thềm thượng đỉnh EU. Hiện tại, giữa hai bên vẫn còn chưa thống nhất về nhiều vấn đề : mức cắt giảm ngân sách Châu Âu, khoảng chi tiêu dành cho chính sách nông nghiệp EU…
Hôm qua, trước nghị viện EU, tổng thống Hollande đã có tuyên bố ủng hộ biện pháp thắt lưng buộc bụng: «Đồng ý cho việc tiết kiệm, nhưng không tán đồng việc làm suy yếu nền kinh tế ». Tuy nhiên, ông Hollande phản đối việc cắt giảm ngân sách một cách thái quá như lời ông khẳng định : « Cần phải nói rõ lợi hại với những ai muốn cắt giảm ngân sách Châu Âu quá mức có thể chấp nhận được ».
Đến hiện tại, theo nhận định chung của báo giới, tổng thống Hollande và thủ tướng Merkel đã thống nhất trên một chi tiết : đó là nỗ lực tránh có thêm một thất bại nữa trong đàm phán về ngân sách EU. Dự kiến, hai người sẽ cùng nhau phản đối thủ tướng Anh David Cameron khi ông này trong thượng đỉnh sắp tới sẽ yêu cầu những khoản tiết kiệm khổng lồ.

http://www.viet.rfi.fr/phap/20130206-quan-he-duc-phap-tong-thong-hollande-va-thu-tuong-merkel-gap-nhau-tai-san-van-dong-sta

maandag 24 december 2012

Hình Ảnh Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Chủng Viện Simon Hòa Đalạt (1962-2012) ngày 12-12-2012

Hình Ảnh Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Chủng Viện Simon Hòa Đalạt
1962 - 2012
Ngày 12-12-2012
Hình: Nguyễn Hiệp, Gx Chính Tòa
Previous
Next



http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/MUCVU/2012/MV1212/11SimonHoa50Nam/50NamSMH.html



CHỦNG VIỆN MINH HÒA

50 NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN


1. Tiểu chủng viện Simon-Hòa (1962-1980)

Ngay sau ngày nhận Giáo phận Đàlạt vừa được thiết lập, Đức cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục tiên khởi Giáo phận, đã gửi thư đến công đồng Dân Chúa nói lên mối ưu tư “bảo đảm cho tương lai Giáo phận nhiều linh mục thánh thiện và đầy đủ khả năng làm việc tông đồ”. Vì chưa có cơ sở thiết lập tiểu chủng viện, nên số 44 tiểu chủng sinh ban đầu được gửi học tại Tiểu chủng viện Tân Thanh thuộc Giáo phận Thanh Hóa di cư, niên khóa 1961-1962.

Sang niên khóa 1962-1963, Giáo phận đã mượn nhà của ông bà Farrault tại Chi Lăng để bắt đầu sinh hoạt của một Tiểu chủng viện mang tên Simon-Hòa, một Chân phước (thời đó gọi là Á Thánh) giáo dân tử đạo, với 2 lớp đệ thất và đệ bát. Tại đây, cha Giuse Phạm Văn Trần được Đức Giám mục đặt làm Bề trên với Ban Giám đốc gồm các linh mục và thầy giúp xứ, có các nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Thiêm phục vụ. Các tiểu chủng sinh học tại nhà theo chương trình trung học và được cấp học bạ của Trường tư thục Trí Đức. Bên cạnh việc học, các chủng sinh còn được đào luyện về đạo đức phù hợp với đời sống theo Chúa, thêm các môn học cần thiết là la văn và sinh ngữ.

Sau khi được cấp đất xây dựng cơ sở, và sau hơn một năm thi công, ngày 23.02.1967, Tiểu chủng viện Simon Hòa chính thức khai giảng niên khóa 1966-1967 tại Đa Thiện, với 6 lớp : Giuse, Phanxicô Xaviê, Mẹ Vô Nhiễm, Kitô Vua, Têrêsa, Các thánh Tử đạo Việt Nam. Cha Luy Phạm Văn Nhượng làm Giám đốc thay cha Giuse đau bệnh nghỉ hưu. Niên khóa 1967-1968 có thêm lớp Ba Vua.

Niên khóa 1968-1969 khai giảng ngày 03.8.1968 với đầy đủ các lớp bậc trung học. Một dãy nhà xây được làm thêm để có chỗ cho 54 chủng sinh nhỏ nhất thuộc lớp 6 (Mông Triệu). Cha Phêrô Trần Bảo Thạch làm Giám đốc. Từ đây, Tiểu chủng viện chuẩn bị để thiết lập trường tư thục riêng mang tên Thụ Nhân. Niên khóa này được ghi nhớ đặc biệt với lễ mừng Bổn mạng trang trọng qua chương trình đồng diễn vào ngày 12.12. Tiểu chủng viện cũng có một ca đoàn mang tên Thông Reo. Cuối niên khóa, các chủng sinh lớp đầu tiên ra trường, được gửi học tại các đại chủng viện.

Vì không muốn có một năm dự bị đệ thất (đệ bát), nên từ niên khóa 1968-1969, hai lớp thứ năm (Têrêsa) và thứ sáu (Các thánh Tử đạo Việt Nam) được chuẩn bị để nhập chung khi bước vào đệ nhị cấp, lớp 10, trong niên khóa 1970-1971. Cũng từ niên khóa này, bên cạnh Tiểu chủng viện Simon-Hòa, còn có Chủng viện Đàlạt, mượn cơ sở của Biệt thự Thánh Tâm. Tại đây, các thầy bắt đầu chương trình Đại chủng viện với việc theo học Đại học Đà Lạt, để sau chu kỳ triết học, các thầy có thể lãnh bằng cử nhân.

Ngày 01.8.1971 khai giảng niên khóa 1971-1972, với cha Gioan B. Trần Thái Huân, Giám đốc thứ tư. Niên khóa 1972-1973 được ghi dấu bằng kỷ niệm 10 năm thành lập. Thêm vào số sinh hoạt của Tiểu chủng viện, có chương trình sinh hoạt hiệu đoàn, phối hợp những sinh hoạt của các phong trào Hùng tâm Dũng chí, Thiếu nhi Thánh Thể và Hướng đạo giúp cho các chủng sinh có những kỹ năng sinh hoạt căn bản khi đi giáo xứ; có chương trình giao lưu với các học viện và chủng iện khác trên Đà Lạt, chủ yếu qua các buổi tranh tài thể thao

Để đáp ứng nhu cầu của Chủng viện, một dãy nhà xây thứ hai, song song với dãy nhà xây năm 1968, được làm thêm. Cũng từng bước, chủng viện trang bị thêm cabin điện, sân basket, hồ nước. Chủng viện có các nữ tu thuộc hội dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm (Gò Vấp) đến phục vụ.

Bước vào niên khóa 1973-1974, Đức cha Simon-Hòa lâm trọng bệnh, và qua đời ngày 05.9.1973. Từ đây, các chủng sinh mất đi một người Cha và không còn một người khi đến thăm, huấn đức, thì ban phép cho các chủng sinh được “nghỉ tự do” một buổi… Dầu sao mối quan tâm và ước muốn của Đức cha Cố là các linh mục tương lai biết sống tinh thần đơn sơ, nghèo khó… vẫn luôn được gia đình Simon-Hòa ghi nhớ.

Tháng 3.1975 Giáo phận đón chào vị Chủ chăn mới sau một thời gian dài “trống tòa” (05.9.1973 – 19.3.1975). Nhưng liền sau đó, Tiểu chủng viện bước vào một giai đoạn mới : tại Đàlạt chỉ còn 2 lớp Giuse 2 và Phanxicô Xaviê 2, theo học chương trình trung học tại trường Trần Hưng Đạo. Để sinh sống, các chủng sinh phải chia nhau chăn nuôi hay làm vườn. Ở đây đất rộng người thưa, tương đối thuận lợi cho những công việc này. Cha Giuse Đinh Lập Liễm được đặt làm Giám đốc từ tháng 5.1975. Khoảng cuối năm 1978, cha Micae Trần Đình Quảng tiếp tục công việc của Giám đốc với 2 lớp đại chủng sinh. Riêng tại Bảo Lộc, các chủng sinh còn lại rất ít, được gửi tại nhà xứ Thanh Xuân do cha Luy Nguyễn Mạnh Trình phụ trách. Tại chủng viện, hai cô giúp việc cũng thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm đến phục vụ, thay cho các nữ tu về Tòa Giám Mục.

2. Đại chủng viện Minh-Hòa (1972-1980)

Như đã nói trên, niên khóa 1968-1969 kết thúc với việc các “chú” lớp Giuse tốt nghiệp chương trình trung học và được gửi học các Đại chủng viện : có 6 thầy đi du học ngoại quốc, 2 thầy học ở Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt, và các thầy còn lại theo học Đại chủng viện Thánh Giuse Sàigòn.

Vì tại Đàlạt có Viện đại học công giáo, nên Đức cha Simon-Hòa đã quyết định cho các thầy cũng có thể theo học chương trình đại học, để thuận lợi hơn trong việc mục vụ, có thể đứng tên hiệu trưởng các trường tư thục khi đến phục vụ các giáo xứ sau này. Từ đây, khi mãn Tiểu chủng viện, các thầy tiếp tục ở lại Giáo phận để theo học Đại học và học một số môn tại Giáo hoàng Học viện. Ban đầu, trong khi chờ đợi có cơ sở thích hợp, các thầy sống tại Biệt thự Thánh Tâm dưới sự chăm sóc của cha Giuse Vũ Đình Tân từ tháng 8.1970 đến tháng 2.1972.

Sau khi ngôi nhà “Cư xá” trên đồi Mục Đồng, Đa Thiện, được xây dựng xong, vào giữa tháng 2.1972, các thầy lớp Phanxicô Xaviê và Mẹ Vô Nhiễm bắt đầu dọn về sống tại đây. Đây chính là Đại chủng viện Minh-Hòa của Giáo phận, nhưng vì lý do tế nhị, nên được gọi là “cư xá”. Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được đặt làm Giám đốc, có cha Phaolô Bùi Văn Đọc và cha Luy Phạm Văn Nhượng cộng tác, sau này có thêm cha Giuse Võ Đức Minh du học về. Tại đây, các thầy sẽ theo học 3 năm triết học, cộng với 1 năm đi giúp xứ, một thời gian 4 năm vừa đủ để hoàn tất chương trình cử nhân; sau đó bắt đầu học thần học tại Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn.

Lớp Phanxicô Xaviê là lớp đầu tiên theo mô hình đào tạo tại Đại chủng viện mới này. Các thầy đi giúp xứ niên khóa 1973-1974, rồi niên khóa sau 1974-1975 học thần học tại Chủng viện Sàigòn.

Cũng như tại Tiểu chủng viện, ngày 20.3.1975 các thầy đại chủng viện được lệnh giải tán… Nhưng bước vào giai đoạn mới, sinh hoạt tại Đại chủng viện cũng thay đổi. Không còn quy tụ đông đảo tại Đàlạt, các thầy được chia về các trung tâm và giáo xứ. Tại Đàlạt, ngoài Cư xá Minh Hòa còn có thêm biệt thự số 3 Cộng Hòa (căn nhà của Đan viện Châu Sơn), cha Phaolô Bùi Văn Đọc được đặt làm Giám đốc Đại chủng viện ; các trung tâm : tại giáo xứ Thánh Tâm Lộc Phát cho các thầy lớp lớn do cha Gioan B. Trần Thái Huân phụ trách, tại Kitô Viện Lộc Thanh cho các thầy lớp nhỏ do cha Giuse Nguyễn Hữu Duyên phụ trách, tại giáo xứ An Hòa cho các thầy thuộc vùng Đức Trọng do cha Luy Phạm Văn Nhượng phụ trách. Vào đầu tháng 9, các thầy ở 3 Cộng Hòa và An Hòa được gọi về sống tại Minh Hòa. Dì Năm Hữu (Maria Nguyễn Thị Hữu) giúp việc nấu ăn hằng ngày.

Bắt đầu từ đây, sinh hoạt của Đại chủng viện được thích nghi với hoàn cảnh chung của đất nước. Không còn theo học đại học, các thầy tập trung vào các môn thuộc chương trình triết học và thần học, khi có giáo sư. Trong phần lớn thời gian, các thầy tham gia sinh hoạt chăn nuôi hay làm vườn… tại nhà hay tại các khu vườn ở Thánh Mẫu, Đa Thiện. Phải ghi nhận rằng tại Đàlạt, các thầy có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn để được đào sâu việc trí thức, như có nhiều cha giáo dòng triều sẵn sàng giúp…

Từ 1975-1980, trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, thử thách, có hai biến cố được nhiều anh em sinh sống luôn ghi nhớ : việc Đức cha Bartôlômêô âm thầm phong chức linh mục ngày 25.01.1977 cho 6 cha trẻ lớp Phanxicô Xaviê I, và việc 17 anh em, trong đó có 5 anh em bên nhà Tiểu chủng viện, lên đường đi thanh niên xung phong trong Tuần Thánh 1978. Trong thời gian anh em đi thanh niên xung phong, anh em ở nhà được phân chia đi làm tại các hợp tác xã thủ công mỹ nghệ.

Nhìn lại thời gian này, mọi người đều nhận ra bàn tay quan phòng yêu thương của Chúa đã luôn che chở giữ gìn, để dầu có vất vả, gian khổ … nhưng anh em sống với nhau rất chân thành. “Ơn của Thầy đủ cho con, vì sứ mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9). Cuối năm 1978, một số khá đông anh em, vì những lý do này khác, đã về gia đình… làm cho số chủng sinh giảm bớt đáng kể.

3. Chủng viện Minh-Hòa (22.4.1980 đến nay)

Bước vào năm 1980, nhiều cơ sở tôn giáo tại Đàlạt được bàn giao cho Nhà Nước quản lý, trong đó có hai Đại chủng viện là Giáo Hoàng Học Viện và Cư xá Minh Hòa.

Ngày 22.4.1980 các cha các thầy từ Cư xá Minh Hòa trở về lại mái trường Tiểu chủng viện. Từ đây nhà Simon-Hòa trở thành Chủng viện Minh-Hòa, với tổng số 28 người (8 cha, 20 thầy). Trong sinh hoạt hằng ngày, ngoài các giờ phụng vụ và đạo đức, anh em lao động buổi sáng tại nhà, buổi chiều có giờ lớp hoặc làm việc riêng. Cũng như bên Cư xá Minh Hòa, việc học có nhiều thuận lợi. Đặc biệt Chủng viện có hai thư viện khá lớn: thư viện của Giáo Hoàng Học Viện, với khoảng 50.000 đầu sách, và thư viện của Chủng viện. Về việc linh hướng, hằng tuần có cha Phi-Khanh Vương Đình Khởi dòng Phanxicô, từ tu viện tại Đàlạt, đến giúp anh em.

Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, cơ sở Chủng viện được sửa chữa thêm. Đây là lần đại tu thứ hai sau năm 1975. Sau này, từ năm 2004, còn có một lần đại tu nữa cho phù hợp với điều kiện sống mới và để chuẩn bị mừng 50 năm. Tuy được sửa chữa, nhưng nhìn đại cương, cơ sở Chủng viện vẫn duy trì những nét cũ.

Đáng ghi nhớ trong thời gian này là lễ mừng Ngân khánh linh mục của Đức cha Bartôlômêô (29.6.1982). Trước lễ mừng là tuần tĩnh tâm linh mục Giáo phận được tổ chức lần đầu tiên tại Chủng viện. Anh em trong nhà có một chương trình văn nghệ nhỏ nhưng rất cảm động. Bài ca “Linh mục, đầy tớ vô dụng” lần đầu tiên được hát lên cùng với tập sách nhỏ “Mầu nhiệm Linh mục”, được in ronéo, gồm những bài nghiên cứu và suy tư thần học về chức linh mục, là “hoa quả của tình yêu dành cho Đấng Chủ Chăn vô hình là Chúa Kitô và Người chủ chăn hữu hình là Đức Giám mục”.

Trung tuần tháng 3.1983 cụ Phanxicô Xaviê Nguyễn Đức Vát (Bát), người vẫn ở Chủng viện từ trước năm 1975, được Chúa gọi về. Lần đầu chủng viện có tang lễ. Và để tỏ lòng biết ơn những người đã ngày đêm phục vụ Nhà Chúa, Đức cha Bartôlômêô đã chủ sự lễ an táng cho cụ tại nhà thờ giáo xứ Thánh Mẫu Đàlạt.

Sinh hoạt tại Chủng viện tiếp tục bình thường cho đến tháng 8.1985 khi có đợt xét duyệt lý lịch: một số anh em được đề nghị trở về gia đình. Ngôi nhà dần dần bớt người, khi các cha được Nhà Nước công nhận, lần lượt đi làm việc mục vụ trong các giáo xứ, và các thầy già đi giúp xứ.

Đầu năm 1987, Đại Chủng viện thánh Giuse Sàigòn mở cửa đón nhận các thầy thuộc Tổng giáo phận Sàigòn, Mỹ Tho, Phú Cường, Phan Thiết, Xuân Lộc và Đà Lạt. Số thầy được chấp thuận gửi đi theo học chưa nhiều nhưng cũng mở ra một giai đoạn mới. Cũng năm này, sau một thời gian dài không được phép, vào tháng 8.1987, có hai lễ phong chức linh mục được chính thức tổ chức tại Đà Lạt và Bảo Lộc, làm cho các thầy còn lại cảm thấy một tương lai tốt đẹp hơn đang hé mở.

Để có những người tiếp nối các thầy đã đi tu từ trước năm 1975, thì vào cuối thập niên 80, Chủng viện bắt đầu nhận những em mới. Những em này, từ các giáo xứ hoặc đang theo học Đại học, được các gha giới thiệu, đến tập tu tại chủng viện một thời gian lâu hay mau tùy điều kiện và hoàn cảnh.

Một sinh hoạt khác được chủng viện quan tâm đáp ứng: từng người hay từng nhóm muốn tìm một “bầu khí thinh lặng” để làm việc trí thức hay tĩnh tâm. Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ hay nhóm các cha thuộc Ủy ban Giám mục về Phụng Vụ, mỗi nhóm đã có mấy tuần làm việc tại Chủng viện.

Từ 1990 nhà nguyện Chủng viện được chọn làm nơi cử hành lễ phong chức phó tế khi có các ứng viên.

Từ năm 1992 việc nấu ăn hằng ngày được trao cho các chị thuộc Tu hội Tận hiến ICM, thay cho dì Năm đã cao niên.

Ngày 22.4.1994 Tòa Thánh loan tin Đức cha Bartôlômêô được bổ nhiệm làm Giám mục Thanh Hóa và Đức cha phó Phêrô kế vị. Trước khi lên đường nhận Giáo phận, ngày 31.5 Đức cha đã đến Chủng viện chia sẻ niềm vui tạ ơn của hai cha Giuse Trần Văn Chiến và Đaminh Nguyễn Văn Mạnh vừa mới được thụ phong. Tại đây, ngài nhắn nhủ anh em hãy giữ lấy truyền thống của Minh Hòa, nơi “toát ra một bầu khí đạo đức, hiếu khách và hiếu học”.

Khi Đức cha Phêrô chính thức coi sóc Giáo phận, cha Giám đốc Phaolô được chọn làm Tổng đại diện. Ngày 28.5.1996, Đức cha đặt cha Micae Trần Đình Quảng làm Giám đốc để cha Tổng đại diện có thể về sống tại Tòa Giám mục. Cộng tác với cha Giám đốc mới, ngoài cha Gioan B. Trần Quang Truyền và cha Giuse Giuse Trần Ngọc Liên, lần lượt có các cha Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm, Giuse Lê Anh Tuấn, Đaminh Nguyễn Quốc Việt.

Khóa đầu tiên thuộc “thế hệ mới” ra trường vào tháng 9.1993 đã hình thành tiến trình đào tạo tiền-chủng-viện mới. Bước đầu các ứng sinh được giới thiệu đến Chủng viện để tìm hiểu. Các em có thể tiếp tục theo học cao đẳng hay đại học, trong khi đó vẫn đến Chủng viện sinh hoạt vào các buổi sáng chúa nhật và tĩnh tâm tháng. Vào năm lẻ, Chủng viện tổ chức thi tuyển với số được chọn từ 15 đến 20 người. Các em trúng tuyển sẽ vào sinh sống hai năm tại Chủng viện. Ngoài các giờ đạo đức và thiêng liêng, hằng ngày các em có giờ lao động và học tập về Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, Dẫn vào Kinh Thánh, sinh ngữ, cổ ngữ, nhân bản và tu đức… chuẩn bị cho chương trình đại chủng viện.

Kết thúc thời gian đào tạo 2 năm, các chú được mặc áo soutane để thành chủng sinh của Giáo phận, và được sai đi giúp xứ trước khi được gửi học Đại chủng viện liên giáo phận, trước đây là Sàigòn, nay là Xuân Lộc, không kể một số được gửi đi học khóa bổ túc tại chủng viện Sao Biển Nha Trang. Từ năm tới, sau hai năm đào tạo, một nửa số các em được gửi đi học Đại chủng viện, nửa còn lại sẽ học thêm tai Mninh Hòa, chờ đến lượt.

Đã có 10 khóa tốt nghiệp :

1. Tôma Thiện (1989-1993)

2. Emmanuel Lê Văn Phụng (1993-1995)

3. Philipphê Minh (1995-1997)

4. Anrê Phú Yên (1997-1999)

5. Phaolô Lê Bảo Tịnh (1999-2001)

6. Phêrô Khanh (2001-2003)

7. Micae Nguyễn Huy Mỹ (2003-2005)

8. Anrê Nguyễn Kim Thông (2005-2007)

9. Phêrô Đoàn Công Quý (2007-2009)

10. Anrê Trần An Dũng-Lạc (2009-2011)

Hiện chủng viện đang đào tạo khóa XI với 19 em.
http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/MUCVU/2012/MV1212/13HinhThanhPhatTrien.htm