Posts tonen met het label đập thủy điện. Alle posts tonen
Posts tonen met het label đập thủy điện. Alle posts tonen

maandag 16 december 2013

Việt Nam: Đập thủy điện và nhóm lợi ích

Đập thủy điện và nhóm lợi ích

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-11-19
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

dakrông-III-305
Đập thủy điện Đakrông III bị vỡ đập năm 2012.
File photo



Các đập thủy điện miền Trung, nơi có dòng chảy rất xiết, đã gây nhiều tai họa trong thời gian vừa qua. Tại sao người ta lại xây dựng những công trình nguy hại cho người dân như vậy? Có phải vì những lợi ích của những nhóm người nào đó?

Chết vì lũ của thủy điện

Bài toán năng lượng cho một quốc gia đang phát triển và đông dân như Việt Nam không bao giờ dễ dàng. Thủy điện từ lâu đã được tính đến như một nguồn năng lượng rẻ tiền và không gây ô nhiễm. Những đập thủy điện đầu tiên được xây dựng ở miền Nam và miền Bắc trong những năm đất nước còn chiến tranh, đó là các nhà máy Đa Nhim ở miền Nam và Thác Bà ở miền Bắc. Vào thời gian ấy khái niệm đánh giá tác động môi trường chưa ra đời nói chung, và tác động nguy hại của các đập nước cũng chưa được biết đến nhiều. Những con đập được tiếp tục xây sau khi chấm dứt chiến tranh, những con đập lớn ở miền Bắc như Hòa Bình, Sơn La, ở miền Nam như Trị An, và rất nhiều đập nhỏ trên các dòng sông ngắn chảy xiết ở miền Trung.
Lượng nước trong hồ luôn rất nhiều rồi vì vậy khi lũ về người ta sợ vỡ đập nên lại càng xả nước nhiều ra thêm nữa làm cho lũ càng trầm trọng hơn nữa.
-Người dân ở Đại Lộc
Theo Tiến sĩ Địa Vật Lý Nguyễn Thanh Giang, hiện thủy điện cung cấp đến 36% lượng điện cho cả nước với 226 công trình đang vận hành. Riêng bốn tỉnh miền Trung và hai tỉnh Tây Nguyên đã có gần 150 dự án thủy điện.
Trong thời gian gần một năm qua, các đập nước thủy điện ở miền Trung đã liên tiếp gặp những trục trặc, có khi đưa đến chết người. Đó là trường hợp các đập Dakrong 3 ở Quảng Trị, Yakrel 2 ở Gia Lai. Và tệ hại nhất là  hàng loạt hồ thủy điện thủy lợi ở miền Trung phải xả lũ bất ngờ trong mùa mưa bão, gây thiệt hại về vật chất và cả sinh mạng cho người dân. Việc xã lũ gần nhất chỉ mới cách đây vài ngày, góp nước với thủy thần giết chết 34 người và gây ra vô vàn mất mát về nhà cửa mùa màng cho người nông dân vốn đã là tầng lớp nghèo nhất nước.
Điều đáng nói là việc xả lũ tại họa đó đã trở thành bình thường vì nó cứ lặp đi lặp lại. Một người dân sống ở Đại Lộc Quảng Nam, nơi bị ngập sâu trong những này qua nói với chúng tôi:
quy-nhon-622.jpg
Người dân ở phường Nhơn Phú, tỉnh Quy Nhơn đang chờ cứu hộ hôm 16/11. Photo courtesy of TTO.

“Dân miền Trung mình thì năm nào cũng bị bão lũ nên nó trở thành bình thường rồi. Tuy nhiên những năm gần đây thì lại có đặc điểm là những đập thủy điện người ta xây dựng lên; Ban đầu người ta nói là sẽ phát điện và sau đó vào mùa lũ thì người ta sẽ điều tiết nước lũ. Người ta giải thích là khi lũ về người ta sẽ chứa nước lại bớt, người ta sẽ giảm thiểu nước trong cơn lũ. Qua thực tế thì những năm vừa rồi thì những điều người ta nói là không đúng. Lượng nước trong hồ luôn rất nhiều rồi vì vậy khi lũ về người ta sợ vỡ đập nên lại càng xả nước nhiều ra thêm nữa làm cho lũ càng trầm trọng hơn nữa. Nguy hiểm nữa là khi xả nước, người ta làm cho mực nước dâng lên rất là nhanh. Nhiều người dân trở tay không kịp.”
Khi các tai nạn hồ nước xảy ra trong thời gian qua, các chuyên viên quản lý nói rằng trách nhiệm lớn là do bên thi công đã không làm tốt công trình, còn chuyện xả lũ bất ngờ là chuyện chẳng đặng đừng do việc theo dõi mưa không tốt.

Nguy hiểm và bất hợp lý

Trong chương trình địa lý Việt Nam ở bất cứ thời nào cũng đều có ghi nhận về đặc tính những con sông miền Trung Việt Nam là chảy rất xiết trong mùa mưa bão, do dòng sông rất dốc và ngắn. Và nay lượng nước chảy xiết đó lại càng tăng lên do rừng ở nguồn các con sông và trong lưu vực của chúng không còn nhiều nữa. Khi được hỏi phải chăng sự bất lợi về địa lý của miền Trung cũng là nguyên nhân gây ra những tai họa từ các đập thủy điện của vùng này, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang nói:
“Đúng như vậy, các hiểm họa là do sự xây dựng tùy tiện, và những tai nạn xảy ra chứng tỏ là cả hệ thống thủy điện ở miền Trung là không tồn tại hợp lý.”
Sự bất hợp lý ấy có thể được biết đến khi dự án được đưa ra để đánh giá tác động môi trường của nó.
Cũng giống như bất kỳ quốc gia nào khác ở thế kỷ 21 này, những dự án lớn ở Việt nam đều cần phải trải qua việc đánh giá tác động môi trường. Ông Nguyễn Huỳnh Thuật, một chuyên gia về rừng nhiều lần lên tiếng bảo vệ rừng quốc gia Nam cát tiên bị đe dọa bởi các công trình thủy điện, nói về đánh giá tác động môi trường ở Việt nam như sau:
Đúng như vậy, các hiểm họa là do sự xây dựng tùy tiện, và những tai nạn xảy ra chứng tỏ là cả hệ thống thủy điện ở miền Trung là không tồn tại hợp lý.
-TS Nguyễn Thanh Giang
“Đơn vị chủ đầu tư lại thuê đơn vị đánh giá tác động môi trường, nên thường bao giờ chủ đầu tư cũng thuê người ủng hộ họ chứ không mang tính chất độc lập.
Bộ Tài nguyên - Môi trường thẩm định, nhưng thẩm định để làm chứ không phải để dừng lại. Bước thẩm định là bước cuối cùng của quá trình đầu tư. Tôi thấy qui trình ‘lộn ngược’. Có một số bài nói thủy điện Việt Nam đi ngược với thế giới là như vậy đó. Nói chung những đánh giá tác động của Việt Nam chỉ làm cho đúng thủ tục thôi, gọi là cho đẹp về mặt hình thức, thủ tục; chứ không phải một cửa để đóng lại hay mở ra.”
Như vậy, việc xây cất những công trình thủy điện trên vùng đất miền Trung, mà về mặt địa lý có thể gây ra nhiều tai họa, chỉ tuân theo ý chí của người quyết định mà không tuân theo sự hợp lý của thiên nhiên và tri thức con người.
Sự duy ý chí ấy là một yếu tố hàng đầu trong các quyết định chính trị ở Việt Nam. Và ở thời buổi kinh tế thị trường, ý chí chính trị ấy còn dính líu sâu nặng với lợi nhuận nữa. Tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi nói với chúng tôi:
“Thủy điện được tiếp cận trên quan điểm thị trường, có đầu tư và hoàn vốn nên người ta lao vào kinh doanh. Đối với thủy điện, thường những công trình với kết cấu hạ tầng như vậy thời gian hoàn vốn phải từ 30-40 năm; nhưng do cơ chế hiện hành những dự án thủy điện nhỏ nhỏ, vừa vừa hiện nay người ta tính ra chỉ độ hơn 10 năm thôi. Do đó, người ta lao vào bỏ vốn đầu tư thành ra hơi loạn.”
Rất nhiều thủy điện nhỏ và vừa như vậy hiện nay có chủ là các công ty tư nhân. Phải chăng việc chẳng màng đến các bất lợi của thiên nhiên ở đây đã mang dáng dấp của các nhóm lợi ích? Và điều này phải chăng cũng được bảo đảm bởi một điều khoản trong luật đất đai là đất đai sẽ bị giải tỏa để dùng cho các công trình phát triển kinh tế xã hội?
Sự câu kết giữa các quyết định chính trị và lợi nhuận ấy trong một môi trường thiếu vắng tự do ngôn luận, thì liệu những qui trình đánh giá tác động môi trường có thể làm gì được để dừng lại những hiểm nguy chết chóc treo trên đầu người dân miền trung trong mùa mưa lũ?
Kỹ sư Phạm Đình Cung một chuyên gia kỹ thuật từ Pháp nói rằng, Việt Nam không thiếu các chuyên gia giỏi, vấn đề là không có chỗ để phản biện. “Ai quyết định Cái chỗ để phản biện ấy?”
Dường như câu trả lời cho bài toán phản biện cho các cơn lũ nhân tai ở miền Trung là nó có cùng một ẩn số với bài toán phản biện cho mô hình kinh tế xã hội Việt nam đang nằm dưới sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/hydroelectric-dams-n-interest-groups-kh-11192013164358.html

Xã hội dân sự: Kiện các nhà máy thủy điện, Tại sao không!

Kính Hòa, phóng viên RFA
2013-12-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Một khu chợ ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi sau cơn lũ hồi tháng 11 vừa qua.
Một khu chợ ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi sau cơn lũ hồi tháng 11 vừa qua.
RFA

Nghe bài này
Việc các nhà máy thủy điện tại miền Trung đồng loạt xả lũ làm chết người và thiệt hại tài sản được công luận rất quan tâm. Báo chí nhà nước cũng đã đưa ý kiến của các quan chức về khả năng các nhà máy này phải đền bù thiệt hại cho người dân. Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh, hiện làm việc ở Đà Nẵng đang xúc tiến việc thu thập các thông tin, nhân chứng, tìm luật sư để đại diện cho các gia đình người dân bị thiệt hại, kiện các nhà máy thủy điện. Từ Hà nội, anh Thạnh cho chúng tôi biết,
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh: Chào anh Kính Hòa, chào thính giả của đài RFA, tôi là một người con của đất Bình Định miền Trung. Vùng của tôi không phải là rốn lũ nhưng cũng bị ảnh hưởng của bão lũ và thiên tai hàng năm. Trong vài ba năm trở lại đây có một vấn nạn thường xuyên xảy ra ở miền Trung, đó là lũ lụt hợp với xả lũ của các hồ thủy điện làm cho vấn đề bão lụt ngày càng trở nên khốc liệt và nghiêm trọng, thiệt hại về người và tài sản rất lớn. Đó là một thực tế.
Tôi biết vụ kiện này rất khó khăn, có độc giả nói thẳng với tôi là không tưởng...Tôi đồng ý như vậy. Tôi nghĩ rằng phải làm sao cho dư luận họ thấy được đây là một vấn đề không phải chỉ của người dân miền Trung mà là của tất cả những người dân VN
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh
Thực tế này kéo dài, mỗi năm như thế đài, báo và dư luận lên tiếng mà đều chìm xuồng đi vào dĩ vãng. Năm nay tai họa đó lại lặp lại và tôi nghĩ rằng phải làm điều gì đó, phải có một vụ kiện để công lý được thực thi, để tai họa này không còn giáng xuống người dân miền Trung nghèo khó nữa. Đó là ý tưởng.
Một nhà máy Thủy điện ở miền Trung (minh họa/kinhtenongthon.com)
Một nhà máy Thủy điện ở miền Trung (minh họa/kinhtenongthon.com)

Về đường đi thì tôi biết vụ kiện này rất khó khăn, có độc giả nói thẳng với tôi là không tưởng, hay là kiến kiện khoai. Tôi đồng ý như vậy. Tôi nghĩ rằng phải làm sao cho dư luận họ thấy được đây là một vấn đề không phải chỉ của người dân miền Trung mà là của tất cả những người dân Việt Nam yêu chuộng công lý và lẽ phải.
Sau đó tôi sẽ tìm kiếm những người ủng hộ mình để lập nên một ủy ban hỗ trợ cho những người dân miền Trung tiến hành vụ kiện. Bởi vì khi tôi đi tiếp xúc những người bị hại và hỏi họ tại sao không kiện để đòi công lý cho mình và tránh thiệt hại cho những người khác về sau, thì họ nói rằng đến miếng ăn mà họ còn tối tăm mặt mũi, thì còn đâu mà đi kiện tụng. Cho nên tôi nghĩ là phải có một ủy ban giúp đỡ họ bằng cách hỗ trợ họ trong việc tìm luật sư, chuyên gia, còn họ chỉ ủy quyền thôi, thì như thế sẽ khả thi hơn trong tiến trình kiện tụng.
Kính Hòa: Sau đợt lũ làm chết mấy chục người vừa rồi thì có một giáo sư nói rằng các đập thủy điện ở miền Trung không ảnh hưởng gì tới lũ. Anh thấy thế nào?
Quan điểm của chúng tôi là khi nhà máy thủy điện được xây dựng nên thì nó như một đơn vị kinh tế trong muôn vàn đơn vị kinh tế và doanh nghiệp, với nguyên tắc là lời ăn lỗ chịu, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh: Hiện có nhiều ý kiến từ các chuyên gia, nhà chính trị chồng chéo và khác biệt nhau. Có nhiều người nói rằng các hồ thủy điện làm giảm các cơn lũ, lượng nước xả ít hơn lượng nước vô hồ. Người khác lại nói là thiên tai gần đây khốc liệt hơn, và ghi nhận rất nhiều về việc thủy điện xả lũ. Cần phải có những số liệu để định lượng được là vai trò của nó như thế nào, ảnh hưởng của nó lên thảm họa thiên nhiên hàng năm ra sao, để qui trách nhiệm, hay cải tiến các hệ thống thủy điện ở đây để làm sao tận dụng được tiềm năng của nó đồng thời tránh được thiên tai cho người dân.
Người dân di chuyển đồ đạc do lũ tràn về tại Qui Nhơn, Bình Định hôm 16/11/2013.
Người dân di chuyển đồ đạc do lũ tràn về tại Qui Nhơn, Bình Định hôm 16/11/2013. AFP

Kính Hòa: Có một câu hỏi cụ thể đặt ra là nếu anh và những người đồng chí hướng giúp người dân miền Trung thực hiện vụ kiện thì có một địa chỉ cụ thể, một công ty hay một pháp nhân nào cụ thể để kiện?
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh: Quan điểm của chúng tôi là khi nhà máy thủy điện được xây dựng nên thì nó như một đơn vị kinh tế trong muôn vàn đơn vị kinh tế và doanh nghiệp, với nguyên tắc là lời ăn lỗ chịu, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường. Chúng tôi nhắm vào các nhà máy thủy điện trên thượng lưu mà danh sách đã được báo chí chính thống nêu lên, ví dụ như 15 nhà máy đồng loạt xả lũ trong đợt mưa lớn vừa rồi. Chúng tôi nhắm vào những địa chỉ cụ thể như vậy.
Tôi nghĩ rằng vụ kiện của tôi sẽ đạt những điều khác trước khi tìm được công lý cho những người bị hại, đó là ý thức của người dân về cái quyền đi kiện tụng để đòi công lý cho mình
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh
Kính Hòa: Ở Việt Nam, việc người dân đi kiện những công ty lớn, những công ty nhà nước chưa nhiều, và dường như không đạt kết quả gì khả quan. Trở lại ý ban đầu anh có nói về con kiến đi kiện củ khoai, anh thấy rằng việc này có quá sức mình không?
Kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh: Nói chung là nếu cho rằng kiện để được phán xử minh bạch tại tòa như trong một xã hội dân sự thì tôi thấy rất là khó. Nhưng tôi nghĩ rằng đi tìm công lý ở đâu cũng rất là gian nan, nhưng nếu đi thì cũng có ngày đến. Tôi nghĩ rằng vụ kiện của tôi sẽ đạt những điều khác trước khi tìm được công lý cho những người bị hại, đó là ý thức của người dân về cái quyền đi kiện tụng để đòi công lý cho mình, người dân có quyền lên tiếng phản kháng khi bị thiên tai bão lũ, với một mối nghi ngờ về thảm họa như thủy điện chẳng hạn.
Cái quá trình kiện như vậy giúp tôi tự tin hơn trên đường đi của mình. Tôi tin chắc rằng chuyện xả lũ không chấm dứt trong năm nay mà kéo dài sang năm hay năm sau nữa, tôi muốn gióng lên tiếng nói từ lương tâm và trách nhiệm của một công dân. Tôi kỳ vọng rằng sẽ có nhiều người đồng hành với tôi để cất lên tiếng nói mạnh mẽ hơn. Nhờ đó mà những người có vai trò trách nhiệm như các chủ nhà máy thủy điện, các chính trị gia, các nhà qui hoạch sẽ có trách nhiệm hơn trong việc làm của mình, giảm các tai họa đến với người dân nghèo và gia đình họ.
Kính Hòa: Cám ơn anh đã dành thời gian cho buổi phỏng vấn này.

zaterdag 26 oktober 2013

Tức nước vỡ bờ : Những cái túi nước khổng lồ nổi giận

Những cái túi nước nổi giận

Viết Từ Sài Gòn
2013-10-25
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

C140456_td-song-tranh-305.jpg
Đập Thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam.
File photo

Tức nước vỡ bờ

Ông bà có câu “tức nước vỡ bờ”. Câu này ám chỉ về tâm lý và đối nhân xử thế, đừng để chuyện gì vượt quá giới hạn chịu đựng của đối phương cho dù đối phương đứng ở vị trí nào chăng nữa, cũng phải biết giữ trung dung… Nhưng không, trong hiện tại, chuyện tức nước vỡ bờ là chuyện rất cụ thể, không ám chỉ, không bóng bẩy mệt đầu như thời xưa đâu. Chỉ cần nói ‘tức nước vỡ bờ” thì lo mà cuốn gói, co giò chạy trối chết, nếu không chạy thì chết, nếu không tin, nhìn lại gần một ngàn cái túi nước treo khắp Việt Nam với cái tên khá mĩ miều “đập thủy điện” thì sẽ hiểu ngay!
Tỉnh Bình Dương là một tỉnh được mệnh danh là an toàn nhất Việt Nam, ít có thiên tai nhất Việt Nam, thậm chí, đọc lại lịch sử, dường như tỉnh này có cái tên Bình Dương cũng vì đặc điểm ít thiên tai, hiền hòa của nó. Cũng chính vì đặc điểm này mà rất nhiều khu công nghiệp mọc lên ở đây, mảnh đất này mau chóng trở thành trung tâm công nghiệp của quốc gia. Thế nhưng mấy ngày gần đây, tin huyện Bến Cát, Bình Dương bị ngập lụt làm cho không ít người hoang mang.
Nói đến hoang mang thì người Việt có cả ngàn lẻ một lý do để hoang mang, sống trên đất nước cờ đỏ sao vàng này, nếu không biết hoang mang thì e rằng chưa biết làm người. Nhưng mà hoang mang vì lũ lụt thì chuyện hơi hiếm. Vì người Việt vốn quen với thiên tai, thậm chí người Tây Nam Bộ sống chung với lũ chẳng khác nào người miền Trung sống chung với bão lụt. Chuyện ngập lụt có gì là lạ, có gì mà hoang mang?
Nhưng mà lạ đấy, vì lụt thường niên trước đây ở Tây Nam Bộ và Trung Bộ là lụt do thiên nhiên gây ra, có thể dữ dội, ngập nhà cửa, ruộng đồng, cũng có thể lụt vừa phải, mang một lớp phù sa về đắp thêm cho đồng ruộng, giúp cho mùa màng bội thu. Nhưng đó là chuyện xưa rồi, chuyện bây giờ, thiên tai lúc nào cũng kèm theo nhân họa, cái này mà không hoang mang mới là lạ!
Nếu như trước đây, việc lụt lội chỉ đơn thuần do nước ở thượng nguồn đổ về với lưu lượng lớn, trán vào ruộng đồng, ngập nhà ngập cửa, họa hoằng lắm mới có trận lụt năm Thìn 1964, lở núi Cà Tang ở Quảng Nam, cuốn mất một ngôi làng dân tộc thiểu số người Tà Ôi. Nhưng khi tìm hiểu kĩ, thì hiểu ra cũng do nhân họa, vì núi Cà Tang bị người thiểu số ở đây đốt rừng dẫn đến cháy trụi, trơ đất trống đồi trọc, đến mùa mưa, nguyên một quả núi lở lói khiến cho ngôi làng Tà Ôi trôi tuột xuống dòng nước xoáy, mất dấu.

30 mét khối nước/người

Bây giờ, trung bình mỗi người dân miền Trung đang mang trên đầu mình hơn 30 mét khối nước. Chỉ riêng Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị, nếu chia bình quân đầu người của gần 14 triệu dân cho 70 hồ đập thủy điện lớn, nhỏ với dung lượng từ vài trăm triệu khối đến vài tỉ khối (trong tình trạng nước ổn định, những lúc cần xả đập thì nước lên cao gần gấp ba lần ổn định) thì mỗi người dân phải chịu hơn 50 khối nước treo lơ lửng trên đầu. Thử hình dung với một dải đất tương đối hẹp, một bên là núi rừng, hồ chứa và một bên là biển, khi 50 khối nước đó đồng loạt xổ xuống đầu từng người dân thì cái biển nước miền Trung sẽ ra sao?
binh-duong-1-250.jpg
Nhiều khu vực ở thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị ngập sâu đến 1,5m hôm 19 tháng 10. Courtesy vov.

Và người dân hoang mang khi nghe tin ngập lụt Bình Dương là hoàn toàn tỉnh táo, sự hoang mang này không phải là sự mất bình tĩnh hoặc sự dao động của người thiếu hiểu biết mà đây là sự phân tích, tính toán kĩ lưỡng, “trông voi mà soi mình”, trông người mà ngẫm đến ta. Một xứ sở vốn không bao giờ biết thiên tai, ngập lụt là gì, thế mà đùng một cái, lụt xối xả, người dân không kịp dọn đồ, tài sản trôi, heo gà chết, người người vật vã, khóc lóc… Thử hỏi, làm sao mà dân các miền quen chịu thiên tai không thấy lo?
Riêng miền Trung, thiên tai mỗi năm đã ngốn vài chục mạng người, có năm lên cả trăm mạng người, nhà cửa, tài sản mất đi con số hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn tỉ đồng. Đó chỉ mới là thiên tai, còn nhân họa thì miễn bàn, vì với kiểu xây dựng rút ruột tận cùng, triệt để hiện nay, cứ mỗi công trình mọc lên thì các quan tỉnh, quan huyện giàu ra, trơn da láng thịt… Thử hỏi, có bao nhiêu cái hồ chứa, bao nhiêu cái đập thủy điện đảm bảo an toàn và tin chắc là không bị vỡ? Và với kiểu làm việc tắc trách, vô lương tâm, người trực cống xả mà uống rượu say, đợi đến khi nước vượt ngưỡng thì xả vô tội vạ, làm trôi cả một thôn như trận lũ năm 2010 ở Đại Lộc, Quảng Nam, do thủy điện A Vương xả đập khối lượng quá lớn dẫn đến ngập lụt, bùn non dày cả mét… Như vậy, người dân làm sao dám tin là mình an toàn?
Và một khi có cả chục cái thủy điện móc trên một nhánh sông, hệ quả của nó sẽ là các thủy điện này thi nhau tích nước vì nguy cơ khan hiếm nước có thể diễn ra, thậm chí sẽ có tranh giành trong việc tích nước. Tích cho nhiều, đến khi có báo động đỏ, mưa lũ kéo về thì mạnh ông nào ông nấy xả, vì sợ vỡ đập (bởi hơn ai hết, các ông này thừa biết mối nguy vỡ đập do xây dựng không đạt chất lượng, do rút ruột, chung chi cho các cấp…). Cuối cùng, khi mà hàng chục cái thủy điện đồng loạt xả nước trên một con sông để cứu lấy mình thì chắc chắn là phải có một vài ngôi làng chịu trận, mất dấu, hy sinh cho công cuộc cứu thủy điện của họ. Người dân bao giờ cũng là người chịu rủi ro đầu tiên và nhận may mắn cuối cùng, chịu thiệt thòi tiên phong và nhận quyền lợi cuối cùng (nếu có!).
Đến đây, có lẽ không cần bàn thêm về nỗi hoang mang của nhân dân khi nghe tin ngập lụt ở Bình Dương. Vấn đề cần bàn là tức nước vỡ bờ. Như chuyện những cái túi nước nổi giận trên đầu nhân dân đã đi vào hiện thực thì bao giờ những cái túi nước bất bình trong nhân dân sẽ đổ xòa xuống? Chuyện này nghe ra có mối tương quan, liên hệ giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của nó – tức nước vỡ bờ!
*Bài viết trích từ trang blog Viết Từ Sài Gòn. Nội dung không phản ảnh quan điểm của RFA

woensdag 28 augustus 2013

Ngư dân Thái rên xiết vì đập thủy điện, kể cả đập tận trên Trung Quốc

Thứ ba 27 Tháng Tám 2013

Ngư dân Thái rên xiết vì đập thủy điện, kể cả đập tận trên Trung Quốc

Việc xây đập Xayaburi ngăn 90% dòng nước và có nguy cơ ngăn các loài cá lên thượng nguồn đẻ trứng - International Rivers
Việc xây đập Xayaburi ngăn 90% dòng nước và có nguy cơ ngăn các loài cá lên thượng nguồn đẻ trứng - International Rivers

Arnaud Dubus / Trọng Nghĩa
Đầu tháng Tám vừa qua, ký giả của hãng tin Pháp AFP đã ghé Thái Lan tìm hiểu thêm về đời sống cư dân hai bên bờ sông MêKông. Điều mà nhà báo Pháp mắt thấy tai nghe, chính là đời sống ngày càng khó khăn của dân chài do việc cá ngày càng khan hiếm.


Thông tín viên Arnaud Dubus
 
27/08/2013
 
 
Giới bảo vệ môi trường tại chỗ đã khẳng định với AFP rằng nguyên do đến từ các con đập của Trung Quốc xa tít trên thượng nguồn, nhưng tương lai còn có nguy cơ ảm đạm hơn với một dự án mới tại Lào.
Phát biểu với ký giả AFP, ông Pat Chaiwong, 67 tuổi, một trong 23 ngư dân trong cộng đồng làng chài Wiang Kaen, ở tỉnh Chiang Rai, miền Bắc Thái Lan than thở : « Có những ngày mà tôi bắt được vài con cá, nhưng cũng có những hôm chẳng bắt được con nào ».
Theo ngư dân này, ngày hôm đó ông gặp may, bắt được 4 con cá lớn, ngoài các con cá nhỏ. Vào buổi chiều, một người khách đã ghé mua một con với giá 150 baht (gần 4 euro).
Ngư dân này không hiểu vì sao dạo sau này ông thường xuyên trở về tay không, nhưng các bạn chài khác thì buộc tội thẳng thừng các đập thủy điện mà Trung Quốc xây dựng ở thượng nguồn sông Mêkông, tại tỉnh Vân Nam, đã phá vỡ chu kỳ tự nhiên của dòng sông.
Theo ngư dân Decha Chaiwong, 48 tuổi : « Trước đây, mực nước tăng (và giảm) tùy theo mùa ». Thế nhưng giờ đây, các van đóng hay mở nước đã thay thế thiên nhiên, và « đó là lý do tại sao số lượng cá đã giảm sụt. »
Đối với Arnaud Dubus, Thông tín viên RFI phụ trách khu vực Đông Nam Á, tác hại của các con đập Trung Quốc trên thượng nguồn đã rõ, nhưng tương lai còn u ám hơn với các dự án ở hạ nguồn sông Mêkông với các hậu quả nghiêm trọng về xã hội và môi trường đối với cư dân sống dọc bên sông.
Hiện có 11 dự án xây đập trên dòng chính con sông ở vùng Hạ Mêkông : 9 ở Lào và 2 ở Cam Bốt, trong đó chỉ có một con đập đang xây dựng: đập Xayaburi ở Lào. Theo các tổ chức bảo vệ môi sinh, hệ quả tiêu cực của công trình này đã thấy rõ, trong lúc Ủy hội Sông Mêkông tập hợp các chính quyền Lào, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam đã không tiến hành được một cuộc tham khảo ý kiến lẫn nhau thực thụ về việc xây con đập này.
Từ Bangkok, Arnaud Dubus nhắc lại các vướng mắc chính trong tiến trình gọi là hội ý về công trình này:
Arnaud Dubus : Thái Lan và Lào đã bắt đầu gợi lên dự án đập Xayaburi trước Ủy ban sông Mêkông vào năm 2010. Đây là một đề án rát quan trọng với khả năng to lớn : 1285 MW, trị giá 3 tỷ rưỡi đô la. Đập do tập đoàn Thái Karnchang thầu xây dựng và 95% điện sản xuất sẽ được bán cho Thái Lan.
Trong các cuộc tham khảo sơ bộ ở Ủy hội Sông Mêkông, các chính quyền Việt Nam và Cam Bốt đã yêu cầu không bắt đầu công trình xây dựng đập trước khi có những nghiên cứu nghiêm chỉnh do các cơ chế độc lập thực hiện về tác động trên môi trường và hệ quả xã hội.
Tuy nhiên Lào và Thái Lan đã cho khởi công, khẳng định đấy chỉ là công việc chuẩn bị ban đầu mà thôi. Đến năm 2012, họ đã công khai khai trương công trình thực sự. Hiện nay thì việc xây dựng đập đã được thực hiện đến mức 10% và ngăn được 90% dòng nước.
Chỉ mới có một bản nghiên cứu về tác động môi trường được thực hiện, do công ty Phần Lan Poyri tiến hành, xem xét khu vực ở hơn 10 cây số phía dưới con đập. Nhưng điều ký quái là chính công ty Poyri này sau đó đã giành được hợp đồng về mặt kỹ thuật của đề án.
RFI : Thế đập Xayaburi đã tác hại thế nào đến phần hạ nguồn con sông và dân chúng sống bên sông ?
Arnaud Dubus : Hệ quả đầu tiên là có 2.100 cư dân đã bị dời đi sống nơi khác, làng của họ đã bị cho ngập nước để xây dựng đập. Họ bị dời đến những nơi cách hàng chục cây số làng họ trước đây.
Cuộc sống của họ khó khăn hơn nhiều. Ở bên dòng sông, họ sống về nghề cá, đất đai thì bằng phẳng, cho phép họ trồng trọt tốt, hoa quả.... Còn tai những nơi ở mới, địa hình không tốt như vậy. Họ cố gắng trồng lúa nhưng kết quả không mấy tốt. Trợ giúp họ nhận được của chính phủ dĩ nhiên là không đủ để xoay sở vì chỉ được hưởng trong một năm thôi, một thời gian quá ngắn để họ có hể tự túc.
Ngoài ra còn 200.000 người sống gần con đập cũng bị ảnh hưởng trên bình diện an toàn lương thực, cho dù họ không bị di dời đi nơi khác.
Nhưng tác hại còn xuống xa hơn nữa, đến tận vùng đồng bằng của Việt Nam. Một mặt do việc trước đây có hàng chục loại cá lội ngược dòng để lên thượng nguồn đẻ trứng, với đập thủy điện điều này không còn được nữa. Theo Ủy ban sông Mêkông, nếu 11 con đập đều được xây trên dòng chính thì lượng cá đánh bắt sẽ giảm 25% từ đây đến năm 2030.
Ngoài ra con đập còn ngăn chặn phù sa chảy xuống vùng đồng bằng làm cho đất đai không còn màu mỡ nữa và năng suất bị ảnh hưởng trực tiếp.
RFI : Như thế thì các hiệp hội phi chính phủ có động viên lực lượng giúp cư dân, nạn nhân của các con đập hay không ?
Arnaud Dubus : Có chứ, nhiều tổ chức, hiệp hội làm việc trên vấn đề này từ nhiều năm nay, nhất là tổ chức International Rivers và FIVAS. Họ đã có những buổi họp với những công ty dính líu đến việc xây dựng các con đập ở Lào, vì phải nói là các đối tác quốc tế trong những đề án này rất ý thức về tác động trên hình ảnh của họ nếu có nhiều đánh giá xấu hay tai tiếng về các đề án.
Riêng về đập Xayaburi, những người thầu công trình cho biết là có những bậc thang, những hành lang được thiết lập để cá có thể ngược dòng đến nơi đẻ trứng, nhưng không ai biết được nó có hiệu quả hay không.
RFI : Anh nghĩ thế nào về hiệu quả hoạt động của Ủy hội Sông Mêkông ?
Arnaud Dubus : Khi Ủy hội này được thành lập năm 1995, mục tiêu là phân chia công bằng tài nguyên con sông và những đề án ảnh hưởng đến sông phải được sự đồng ý của các thành viên trước khi bước vào thực hiện. Rủi ro rất nghiêm trọng đối với những nước ở vùng hạ lưu, Cam Bốt và Việt Nam.
Vấn đề là Ủy hội không có khả năng để áp đặt quyết định của mình đối với các chính phủ. Kinh nghiệm trong đề án đập Xayaburi cho thấy là Ủy hội chỉ có ảnh hưởng rất hạn chế. Bangkok và Vientiane đã quyết định xúc tiến việc xây đập mặc dù có sự chống đối của hai quốc gia thành viên còn lại.
Đối với một đề án khác trên dòng chính sông Mêkông, đập Don Sahong, ở miền Đông nam Lào, cách biên giới Cam Bốt vài cây số, Vientiane có vẻ muốn tiến hành như đối với Xayaburi.
Và nếu thương lượng với Lào trên các con đập còn khó khăn như thế, thì vấn đề lại càng khó khăn hơn đối với các đập xây ở Trung Quốc, trên vùng thượng nguồn sông Mêkông.
tags: Châu Á - Môi trường - Phỏng vấn - Thái Lan
 
http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130827-ngu-dan-thai-lan-ren-xiet-vi-dap-thuy-dien-ke-ca-dap-tan-tren-trung-quoc