Posts tonen met het label đảng cộng sản Việt Nam. Alle posts tonen
Posts tonen met het label đảng cộng sản Việt Nam. Alle posts tonen

woensdag 24 februari 2016

Ðảng Cộng Sản Việt Nam : Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng (Ngô Nhân Dụng)

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng
Tuesday, February 23, 2016 1:57:38 PM






Ngô Nhân Dụng
Sau Ðại Hội 12 của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhiều người đoán rằng nhóm lãnh đạo mới vốn nổi tiếng thân Trung Cộng thì họ sẽ không cần phải bày tỏ thái độ quá khúm núm trước các “đồng chí anh em” nữa vì tất cả đã được Bắc Kinh chuẩn y rồi. Thỉnh thoảng cứ cho dân Việt được kêu la khóc lóc chống đế quốc xâm lược, không cần phải đàn áp nặng nề. Miễn là những món dâng lên các “đồng chí anh em” ăn miếng nào ra miếng nấy, là “hẩu lớ!”
Cho nên trong ngày 17 Tháng Hai năm 2016 vừa qua ở Hà Nội, buổi lễ tưởng niệm 60,000 đồng bào và tử sĩ bị quân Trung Cộng tàn sát trong cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979 không bị phá. Phản ứng của chính quyền Cộng Sản khác hẳn hai năm trước. Ngày 16 Tháng Hai năm 2014, không những công an cộng sản ngăn chặn những người muốn đi dự lễ tưởng niệm từ lúc mới bước chân ra cửa nhà, mà còn xua công an côn đồ trai gái tới “nhảy múa” ngay tại chỗ trong giờ hành lễ. Nhảy múa trên xác chết là một cách chửi thề: “Chúng mày muốn lễ hả? Bà múa cho mày mở mắt ra! Lễ cái này này!”
Năm 2014, đảng Cộng Sản cố ý “chửi cha đồng bào và các chiến sĩ.” Vì đám công an côn đồ phát ra một bài hát Tầu để nhảy theo điệu nhạc Cha cha cha! Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi tiết lộ điệu nhạc cổ này có tên “Trung Quốc cáp cáp” (中國恰恰).  Lời ca Tàu dịch sang tiếng Việt khoe rằng: “Cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi / cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi/ cha cha cha...” Những người không biết tiếng Tàu cũng hiểu rằng họ chửi cha mình!
Năm nay Ðảng không “chửi cha” đồng bào Hà Nội nữa. Ông Nguyễn Phú Trọng có thể xoa bụng tự khen: “Ðấy nhé, đứa nào dám bảo tớ thần phục Trung Quốc?”
Nhưng trong tuần trước, lễ tưởng niệm được nhiều người dân Sài Gòn tổ chức thì công an vẫn tới từng nhà ngăn chặn và đánh phá cuộc lễ. Những bông hoa dâng cúng bị đám côn đồ đạp nát dưới chân. Tại sao lại phân biệt đối xử như vậy? Có lẽ bởi vì ông Ðinh La Thăng, mới nhậm chức thành ủy, rất táo bạo. Khi làm bộ trưởng Giao Thông Vận Tải ông đã từng ra lệnh đốt hết những chiếc xe gắn máy chạy đua “cho chúng nó hết đua!” Phải bao nhiêu người can ông mới tha. Hoặc vì ông biết dân Sài Gòn “khó dạy” hơn dân Hà Nội; cho nên cứ cấm tiệt cho xong chuyện.
Ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng có thể yên tâm cho người ta đi thắp hương khấn vái các tử sĩ và đồng bào chết oan trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 vì biết rằng mấy nén hương thắp lên rồi cũng tàn, đâu lại vào đó, tượng đài Lý Thái Tổ mai mốt lại chỉ còn “rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.” Ngay những tấm bia tưởng niệm các liệt sĩ, kể cả bia ghi công “Sư Ðoàn 33 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” cũng bị đục bỏ tàn nhẫn, mà cả một sư đoàn cho đến dân địa phương không ai dám hó hé nói một tiếng! Dân và quân Việt Nam hiền lành, dễ bảo như vậy, các đồng chí anh em Trung Quốc không có gì phải lo!
Giới lãnh đạo Trung Nam Hải, từ Mao Trạch Ðông tới Tập Cận Bình đều rất thực tế. Họ cần kết quả cụ thể, chứ không phải chỉ muốn nghe nịnh hót, mặc dầu có nịnh hót thì vẫn hơn. Năm 1950 khi tiễn phái đoàn các cố vấn Trung Cộng qua chỉ đạo Cộng Sản Việt Nam, Mao Trạch Ðông đã nhắc nhở họ hãy nhớ chuyện Mã Viện đánh Hai Bà Trưng ở nước ta. Ông ta dặn dò các cố vấn giữ ý tứ, đừng khiêu khích tự ái dân tộc của người Việt. Ðám cố vấn này, mỗi khi khuyến cáo mà quân đội Việt Minh không nghe đều phải làm áp lực qua Hồ Chí Minh mới được toại ý. Năm 1951, Hồ Chí Minh gặp Mao đã phải lên tiếng xin Mao chỉ thị cho cố vấn La Quý Ba hãy đáp ứng lời mời đến dự các phiên họp của Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam. Mao đã cho Hồ được thỏa mãn! Chẳng khác nào triều đình Huế mời viên công sứ Pháp dự các phiên họp của cơ mật viện!
Theo đúng tấm gương này, đáng lẽ bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng phải mời đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội tới dự các phiên họp Bộ Chính Trị mới xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ! Nhưng Bắc Kinh không cần lý đến hình thức bên ngoài. Trung Cộng sẽ tiếp tục bảo vệ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, miễn là cứ cho họ khai thác mỏ bô xít, coi là “chiến lược lớn lâu dài của đảng và nhà nước” như lời ông Nguyễn Tấn Dũng. Miễn là Hà Nội vẫn ký hợp đồng cho người Tầu khai thác rừng Việt Nam ít nhất 50 năm. Miễn là các công ty Trung Cộng vẫn trúng hầu hết các mối thầu xây dựng. Miễn là cứ cho công nhân Trung Cộng sang làm việc không giấy phép, lập các thành phố Trung Cộng khắp ba miền Nam Trung Bắc và cao nguyên! Miễn là hải quân Việt Nam không được phép bén mảng tới gần những hòn đảo Hoàng Sa đã bị Tàu chiếm. Miễn là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám thưa kiện Trung Cộng ra các tòa án quốc tế sau khi cho tầu hải giám cướp phá, giết hại các ngư dân Việt Nam.
Cộng Sản Trung Quốc có thể yên tâm cho phép dân Việt lâu lâu thắp hương tưởng niệm các tử sĩ năm 1979, năm 1988, cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử chiến ở Hoàng Sa năm 1974 cũng được. Bởi vì họ biết đảng Cộng Sản Việt Nam không thể nào rời bỏ cái “vú mẹ!” Công an an cộng sản có khẩu hiệu “Ðảng còn thì mình còn.” Các lãnh tụ Cộng Sản thì biết: “Trung Cộng còn ủng hộ thì mình mới còn!”
Vì thế, ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Cộng đã có lần lo lắng đến nỗi hốt hoảng nói: “Tôi thấy lo lắng lắm! Không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già đều có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.” Từ trẻ con đến người già ai cũng ghét Trung Quốc, nguy hiểm quá!
Trong một ngàn năm Bắc thuộc, chưa nghe người Việt Nam nào nói một câu như vậy, ngoài các quan cai trị như Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình! Tô Ðịnh đã bị Hai Bà Trưng đánh đuổi. Trần Bá Tiên không đánh lại Triệu Quang Phục phải bỏ về Tàu lo việc trong nhà. Phùng Hưng đánh cho Cao Chính Bình phát bệnh mà chết. Nhờ thế dân tộc Việt Nam mới “Ðứng Vững Ngàn Năm!”
Nhưng thời nay, đảng Cộng Sản Việt Nam biết rằng Trung Cộng còn được ăn thì mình còn! Mất lòng đồng chí anh em thì chính số phận đảng Cộng Sản ở Việt Nam cũng mất. Cho nên ngày mùng 8 Tháng Mười Hai năm 2015, ông Nguyễn Phú Trọng đã thổ lộ tâm sự trước kỳ đại hội đảng thứ 12. Ông Trọng rất lo làm mất lòng Trung Nam Hải. Không dám kiện Bắc Kinh trước các tòa án quốc tế. Không dám cho hải quân ra biển bảo vệ các thuyền ngư dân đang bị “tàu lạ” tấn công. Chỉ vì sợ “đụng độ!” Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình thế nào? Giờ ta có ngồi đây mà bàn tổ chức đại hội đảng được không?”
Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng lo cho vận mệnh dân tộc. Còn Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng bây giờ chỉ lo bảo vệ đảng Cộng Sản! Nước mất không lo, miễn đảng đứng vững được năm nào hay năm đó!
Sang năm sẽ còn một số người Việt Nam vẫn làm lễ tưởng niệm 60 ngàn đồng bào và chiến sĩ bị quân Trung Cộng sát hại. Số người có thể sẽ không đông bằng năm nay. Trong sách giáo khoa môn lịch sử bậc trung học, cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 chỉ được ghi trong 11 dòng! Rồi năm này qua năm khác, dần dần người ta sẽ quên. Những người còn nhớ vẫn được phép khấn vái. Miễn là đảng Cộng Sản vẫn còn ngồi đó để ăn. Mà phần ăn lớn nhất vẫn thuộc về các vị tân thái thú, tân tiết độ sứ, nối gót Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình!

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=223099&zoneid=7

woensdag 17 juni 2015

PHỎNG VẤN GIÁO SƯ STEPHEN YOUNG (Mỹ) VỀ CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ HỆ LỤY TỪ HAI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TRUNG CỘNG

Thursday, April 30, 2015

PHỎNG VẤN GIÁO SƯ STEPHEN YOUNG VỀ CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ HỆ LỤY TỪ HAI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TRUNG CỘNG

Kính gởi quý Đồng Hương,
Ngày 23-10-1954, Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower đã gởi một lá thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm về quyết định trợ giúp chính phủ VNCH trở thành một chính phủ mạnh để đương đầu với làn sóng xâm lăng của cộng sản.
Lá thư được soạn thảo bởi một viên chức ngoại giao cao cấp, ông Kenneth Young, thân phụ của ông Stephen Young. Giáo sư Stephen Young đã tốt nghiệp Harvard Law School, hiện là Khoa trưởng Luật khoa Đại học Hamline, Minnesota.
Đúng sáu mươi năm sau, ngày 31-10-2014, một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam được tổ chức tại The South Asia Institute, Đại học Harvard, Hoa Kỳ. Diễn giả chính là Giáo sư Stephen Young, đề cập đến những vấn đề về chiến tranh Việt Nam. Nhân dịp này ông chính thức công bố lá thư của Tổng thống Eisenhower gởi cho Tổng thống Diệm (đính kèm).

(Video)

Bên lề cuộc hội thảo, ông đã dành cho Vietnam Film Club một cuộc phỏng vấn liên quan đến thời cuộc Việt Nam với những phân tích cụ thể về đảng Cộng sản Việt Nam, về quan hệ Việt-Trung, và về bối cảnh thời sự hiện nay của Việt Nam.

zondag 15 juni 2014

Thái độ và hành động đáng ngờ của đảng cộng sản Việt Nam đối với Trung Quốc


Màn kịch độc ác và tàn nhẫn?


Màn kịch độc ác và tàn nhẫn?
Thái độ và hành động đáng ngờ 
Trong con mắt của những người dân Việt Nam mộc mạc vốn thừa mứa lòng tin, người ta sẽ nghĩ rằng sau cuộc khốc liệt 1979 trên toàn tuyến biên giới, Việt Nam thấm đòn đau từ anh bạn láng giềng to xác quen ăn hiếp và bắt nạt thì tưởng như sẽ không bao giờ có thể ngoái đầu quay lại với những kẻ thù tàn bạo, quay quắt mà chính họ đã nguyền rủa. Thế nhưng cả dân tộc không ngờ, cả dân tộc đã bị dồn vào một khúc quanh đau đớn nhất của lịch sử: Giai đoạn nô lệ ngoại bang.
Theo dõi thái độ và cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam mấy năm nay với chủ đề lãnh thổ của Tổ Quốc, nhất là thái độ với bọn bá quyền cướp nước, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tất cả đều nhất quán và không có mấy thay đổi. Đường lối, cách nghĩ của đảng CS vẫn thế, tất cả đều đi đúng một định hướng đã vạch sẵn: Lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân.
Thông thường, một chính phủ, một nhà nước, một đảng lãnh đạo xã hội, luôn lấy sự an nguy của quốc gia, an ninh của dân chúng, bảo toàn lãnh thổ của đất nước làm trọng, mọi nhân tài, vật lực đều được ưu tiên tập trung cho những nhiệm vụ chính yếu đó. Thế nhưng, riêng ở Việt Nam, mọi điều đã được thực hiện ngược lại.
Nhà nước không dùng quân đội để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nhân dân mà người ta quy định rằng trước hết, quân đội phải bảo vệ Đảng. Rồi mặc cho dân bị kẻ thù, bị ngoại bang giết chết trên đất nước, quân đội được huy động đi cướp đất của dân và luyện tập để “chống diễn biến hòa bình”. Thậm chí, người đứng đầu quân đội luôn miệng gọi kẻ thù là đồng chí, tỏ rõ sự hàm ơn nặng nề kẻ thù của đất nước, ngay cả khi kẻ thù đã và đang xâm chiếm lãnh thổ.
Nhà nước bơm phình lực lượng công an không với mục đích phục vụ nhân dân, mà họ huỵch toẹt thách thức là “còn đảng, còn mình”. Hẳn nhiên họ không nhắc lực lượng này rằng người nuôi họ là dân.Lực lượng này được huy động đàn áp, canh giữ, bắt bớ và gây sự với những người có mầm mống tư tưởng yêu nước. nhà nước bỏ tù những tiếng nói can đảm, dám thể hiện lòng yêu nước, thương nòi của mình.
Họ tạo ra một thế hệ vô cảm với những điều thiêng liêng nhất, ngộ độc thông tin nặng nề nhất,  thậm chí dùng đám hồng vệ binh đó đi đàn áp, khủng bố những người yêu nước.
Kết quả là lòng yêu nước bị dập tắt, tinh thần yêu nước bị đánh tan tác và hạ xuống đến mức thấp chưa từng có.
Hoảng loạn, lúng túng
Có thể nói, kể từ khi người Cộng sản Việt Nam cướp quyền lãnh đạo đất nước này đến nay, cái gọi là “độc lập” đúng nghĩa chưa bao giờ xuất hiện. Việt Nam luôn kêu gào “độc lập, tự do” nhưng thực tế thì hết đu bám thế lực này lại sang bám thế lực khác.
Nếu như sau Tháng 8/1945 trở đi, khối cộng sản nẩy nở, sinh sôi, những người cộng sản Việt Nam tự nguyện làm một bộ phận “tiền tiêu, tuyến đầu” cho CNCS để tiến hành cuộc chiến Nam – Bắc đẫm máu vì ý thức hệ. Khi đó, trừ vài nước “cộng sản anh em”, còn tất cả đều là “bè lũ đế quốc và bọn phản động, chó săn, sen đầm quốc tế”. Thì đến khi nội bộ khối Cộng sản lục đục chia rẽ nặng nề, những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng tách khỏi anh bạn Trung Cộng để tìm đến Liên Xô là “thành trì của CNXH”. Khi đó, hệ thống truyền thông Việt Nam đã không tiếc bất cứ một lời lẽ, ngôn từ nào dù bẩn thỉu, xấu xa nhất lên án anh chàng Trung Cộng Đại hán đã chệch hướng, lạc đườn, phản bội lại “Mác – Lênin chân chính”.
Thế rồi, cuộc chiến 1979 trên biên giới Việt – Trung đã thể hiện sự cạn nghĩa, ráo tình và sự tráo trở của những người cộng sản ra sao. Tưởng từ nay, cái gọi là “môi hở răng lạnh” sẽ không bao giờ được nhắc tới, cái gọi là “anh em, hữu nghị, láng giềng” đối với Trung Cộng sẽ vĩnh viễn biến mất trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội khi vẫn còn người Cộng sản Việt Nam cai trị đất nước.
Nhưng, trớ trêu thay, vật đổi sao dời. Những biến động của Đông Âu về sự sụp đổ hàng loạt khối cộng sản mà không một thế lực nào đỡ nổi như một quy luật. Cái bức tường, cột trụ mà những người cộng sản Việt Nam tưởng rằng luôn bền vững, chắc chắn bỗng chốc sụp xuống nhanh chóng không ngờ. Thế là từ đó, bỗng chốc cái thần thái độc lập, tự chủ và sự tự tin “bách chiến, bách thắng” của những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng bay biến.
Và họ hoảng loạn thật sự.
Theo đúng nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lenin thì “giai cấp thống trị không bao giờ để mất quyền thống trị của mình, nếu không có bạo lực cách mạng”. Vì thế, họ đã ra sức để bằng mọi cách củng cố, bám giữ lấy chiếc ghế cai trị của mình.
Một trong những cách đó là đổi thù thành bạn, tất nhiên chỉ là bạn của Đảng, còn với cả đất nước này thì kẻ xâm lược truyền kiếp kia chẳng bao giờ thay đổi bản chất và quan hệ. Rồi Hội nghị Thành Đô, (một hành động chính trị lén lút mới được bạch hóa gần đây) đã diễn ra trong hoàn cảnh đó.
Kể từ đó, đất nước ta bước vào một ngã rẽ đầy sự tăm tối, từng bước, từng bước đi vào vòng nô lệ theo “đúng quy trình”.
Hành động có hệ thống và màn diễn đẫm máu
Cho đến gần đây, nhà nước Việt Nam mới công nhận một số điều mà người dân đã bàn tán bao năm nay về quan hệ Việt – Trung. Năm 1958, Phạm Văn Đồng trên cương vị Thủ tướng có công hàm gửi Trung Cộng, công nhận Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.
Khi bọn bá quyền Trung Cộng dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Bắc Việt đã không hề mở miệng hé răng.
Năm 1988, bọn bá quyền Trung Cộng dùng quân đội tiếp tục dùng vũ lực chiếm đóng một phần Quần đảo Trường Sa, hàng loạt chiến sĩ bỏ mạng trên biển, người dân Việt Nam không được thông tin về sự hy sinh của họ. Việc mất một số đảo của Tổ Quốc được im lặng như một món quà cho bọn bành trướng để để đi đến Hội nghị Thành Đô sau đó.
Ngày 3-4/9/1990, Hội nghị Thành Đô bí mật diễn ra, mở đầu một thời kỳ đau đớn cho đất nước. Những người cộng sản đã mua bán, đổi chác sinh mệnh dân tộc bằng hội nghị bí mật này. Năm 1999, Hiệp định Biên giới Việt Trung mờ ám được bí mật ký kết. Tất cả những ai lưu tâm, tò mò đến bản hiệp định này đều trở thành thế lực thù địch của Đảng và nhà nước Cộng sản. Nhiều người đã nếm mùi tù đày, lao lý bởi cái Hiệp định này. Kết quả là hàng loạt vấn đề mất đất, mất lãnh thổ trên biên giới đã không được giải đáp thỏa đáng.
Từ năm 2000 trở lại đây, Trung Cộng gia tăng các hành động cướp bóc, lấn chiếm ngang ngược trên biển, Đảng và nhà nước Việt Nam có những hành động “hèn hạ vĩ đại” trước quân giặc ngày càng hung hăng. Trên đất liền, những nơi trọng yếu, các công trình trọng điểm đều có mặt người Trung Quốc.
Đặc biệt là việc gia tăng bắt bớ, giam cầm, đàn áp trắng trợn những người yêu nước, thương nòi. Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, chưa có giai đoạn nào những người yêu nước phải đau đớn như giai đoạn hiện nay.
Dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, tài tình và sáng suốt” của đảng Cộng sản Việt Nam, sau 70 năm, đất nước Việt Nam đã và đang dần dần lún sâu vào cơn khủng hoảng, khốn đốn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… Vị thế của đảng Cộng sản chìm sâu trong những cơn oán thán, trong những câu chuyện bi, hài của người dân và qua từng hành động khó hiểu, bất nhất, lời nói ngô nghê của lãnh đạo, của hàng ngũ quan chức. Vị thế của Việt Nam trên con mắt quốc tế sa sút đến thảm hại.
Đúng lúc đó, anh bạn vàng khổng lồ của Đảng gia tăng những hành động xâm lăng, cướp bóc trắng trợn lãnh thổ Việt Nam.
Máu dân Việt đã đổ, mạng người dân đã mấ trên chính lãnh thổ mình. Mưu đồ xâm lược bấy lâu nay đã thêm một bước được thể hiện một cách trắng trợn và ngang ngược, bất chấp mọi lý lẽ, mọi thứ “tình hữu nghị” được bôi trát bằng bộ mặt giả nhân giả nghĩa bấy lâu nay. Nhà cầm quyền Trung Cộng đã từng bước thể hiện bản chất cướp bóc hung bạo là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa bành trướng đầy tham vọng và sự tàn bạo không giới hạn của Chủ nghĩa Cộng sản trong chiến lược xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.
Tưởng như vậy là giới hạn cuối cùng, một đảng luôn tự ca ngợi mình là “thiên tài, là vô địch là tinh hoa của dân tộc, là đội quân tiên phong của đất nước” đã bước nốt những bước cuối cùng của sự bi đát và sẽ tỉnh ngộ để sớm từ bỏ cái tư tưởng hão huyền và hãi hùng Mác – Lênin để trở về phục vụ nhân dân và đất nước.
Nhưng không.
Sau khi những hành động xâm lược của Trung Cộng bằng giàn khoan và tàu chiến trên biển, người ta thấy gì?
Những cuộc biểu tình yêu nước trên cả đất nước bừng lên, để rồi bị dẹp tan với những lý do rất Chí Phèo, người yêu nước lại tiếp tục ngậm ngùi uất hận.
Tại Philippines ông Thủ tướng nói vài câu mạnh mẽ, thì lập tức tại Shangri-La Bộ Trưởng Quốc phòng dội ngay một giáo nước lạnh vào mặt quan khách toàn thế giới và nhất là 90 triệu người dân Việt Nam, bằng những lập luận ngô nghê khi gửi thông điệp đến kẻ thù xin “hữu nghị”. Không chỉ là đập thẳng vào miệng Thủ tướng mà thể hiện thái độ của một đội quân “bách chiến, bách thắng” hiện nay đang sẵn sàng chiến đấu ở mức độ nào.
Trước một kẻ thù hung hãn, đầy vũ khí trong tay và sự tàn bạo thể hiện trong từng hành động trên thực tế, việc một Bộ Trưởng Quốc phòng nêu quyết tâm “không để xung đột xảy ra’ chỉ có thể coi là hành động bó gối xin hàng. Ngay cả hàng mấy chục cuộc điện thoại gọi sang Trung Cộng không thèm trả lời mà đòi “hữu nghị” thì chưa rõ hệ thống thần kinh của quan chức Việt Nam đã đến tình trạng nào?
Ông Tổng Bí thư Đảng, người nắm chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương thì lặn mất tăm, đến mức người dân phải nhắn tin tìm kiếm trên mạng. Trong khi cả hệ thống cầm quyền, công an luôn miệng rằng “đã có đảng và nhà nước lo” thì giờ lo đến đâu không ai được biết? Nhưng khi ông xuất hiện thì chỉ bàn về “Văn hóa”. Thật tiếc, có lẽ cái văn hóa mà ông bàn đến không có bao gồm vấn đề ứng xử của kẻ có trách nhiệm như thế nào?
Nhưng có những điều lạ xuất hiện hiện nay:
Báo chí sau bao năm bị cấm ngặt không được đụng tới biển đảo, nay mở hết công suất về biển đảo, góp tiền, góp gạo cho Trường Sa… hết chương trình này đến chương trình khác, cứ như xưa nay Việt Nam chưa bao giờ tồn tại, nay mới xuất hiện thêm biển và đảo vậy.
Quân đội đã thề nguyền là sẽ không bao giờ động binh với anh bạn vàng của đảng để giữ tình hữu nghị. Ông Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng chỉ biết lẩm bẩm: “Anh là ai? Sao vật ngửa thuyền tôi ra” và vẫn là “Tình hữu nghị Việt – Trung bền vững đời đời”…
Nhưng trên biển với lúc nhúc súng đạn kẻ thù, tàu chiến nườm nượp, đảng và nhà nước kêu gọi đẩy công dân tay không ra bám biển, giữ đảo. Thế là bao mạng người lại nằm xuống biển khơi.
Thật đau đớn và hài hước.
Những sự tréo ngoe đó đã nói lên điều gì? Tại sao trước một kẻ thù hung hãn với ý đồ xâm lược rõ ràng, bộ máy CSVN lại hành động khi trống đánh xuôi thì lập tức có kèn thổi ngược?
Điều đó chỉ có thể giải thích một điều cần giấu kín. Rằng khi tất cả biển đảo của Việt Nam đã rơi vào tay giặc theo “đúng qui trình”, thì nhà nước Việt Nam vẫn vô tội trước mắt người dân, đã “làm hết khả năng mình, đã phản đối nhưng kẻ thù quá mạnh, quá nguy hiểm nên lực bất tòng tâm”. Nghĩa là lỗi không nằm ở nhà nước mà nằm trong tay nhân dân và kẻ thù. Và để an dân, thì nhà nước lại học ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mà rằng: “Đời chúng ta chưa đòi được thì đời con đời cháu chúng ta sẽ đòi cho bằng được”.
Và cứ vậy, người dân cứ phải chấp nhận tính mạng bị đe dọa, Tổ quốc phải chấp nhận mất biển đảo vào tay giặc, dân tộc chấp nhận một giai đoạn nô lệ kiểu mới.
Và màn diễn sẽ kết thúc ở đó còn Đảng thì vẫn quang vinh để kiên định con đường đi lên CNXH với người anh em 16 chữ vàng và 4 tốt.
Đó là màn diễn quá độc ác và tàn nhẫn đối với nhân dân.
Hà Nội, ngày 15/6/2014
 J.B Nguyễn Hữu Vinh
http://www.datviet.com/man-kich-doc-ac-va-tan-nhan/

Trung Quốc không còn coi trọng “4 tốt, 16 chữ vàng”

Tàu Trung Quốc xịt vòi rồng vào tàu Việt Nam - Ảnh: Cảnh sát biển Việt Nam
Trung Quốc không còn coi trọng “4 tốt, 16 chữ vàng”
Đó là khẳng định của ông Nguyễn Trung (nguyên trợ lý thủ tướng Võ Văn Kiệt) tại tọa đàm Minh triết Biển Đông chiều 14-6 tại Hà Nội và cho rằng: “Trung Quốc đã chuyển sang giai đoạn thực hiện chính sách bá quyền ở biển Đông”.
Theo ông Nguyễn Trung, trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải xem xét lại những chính sách của mình. “Trung Quốc đang chứng tỏ không còn coi trọng mối quan hệ 4 tốt, 16 chữ vàng nữa. Nó không có nghĩa lý gì so với những gì mà cục diện quốc tế đang mang lại cho Trung Quốc. Không thể phủ nhận những áp lực và thách thức mà Trung Quốc tạo ra đối với các nước trong khu vực và Việt Nam. Tuy nhiên, nếu chúng ta thấy rõ được thách thức này, phối hợp với các quốc gia khác thì hoàn toàn có thể đối phó được”, ông Nguyễn Trung khẳng định.
Điểm lại toàn bộ những hành động gây hấn, xâm chiếm ở biển Đông suốt hơn nửa thế kỷ qua, ông Nguyễn Trung cho rằng: các sự kiện từ 1956 đến nay nói lên quan điểm xuyên suốt của Trung Quốc trong vấn đề xâm lấn lãnh thổ Việt Nam. Việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến Hoàng Sa không phải vi phạm mà phải nhìn nhận dứt khoát là hành động xâm lấn.
“Không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc chọn thời điểm này để đưa giàn khoan đến vùng biển Việt Nam, Hải Dương 981 đã được họ chuẩn bị từ nhiều năm nay. Rõ ràng, việc Nga sát nhập Crimea đã đặt ra rất nhiều vấn đề trong quan hệ Nga – Ukraine, Nga – Phương Tây. Mặt khác, quan hệ giữa Nga và Trung Quốc cũng có bước phát triển mới. Sự hợp tác giữa hai cường quốc khiến cục diện thế giới thay đổi. Cùng với đó là thái độ cứng rắn của Trung Quốc trong vụ giàn khoan, những phát biểu của Tập Cận Bình và của trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc ở Shangri-La 13 cho thấy chưa bao giờ Trung Quốc lại tỏ ra hung hăng như vậy. Tôi cho rằng, Trung Quốc đã thực sự chuyển mình sang giai đoạn thực hiện chính sách bá quyền ở biển Đông, thời kỳ chiếm được chỗ nào thì chiếm, khẳng định chỗ nào thì khẳng định”, ông Nguyễn Trung phân tích.
Để đối diện với những thách thức từ Trung Quốc, theo ông Nguyễn Trung, điều đầu tiên là Đảng và Nhà Nước phải nói cho toàn dân biết thực trạng quan hệ Việt – Trung. Ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền phải dựa trên những hiểu biết sâu sắc về quan hệ hai nước. Mặt khác, “nếu chúng ta lúng túng, không kiên quyết đấu tranh thì thế giới cũng khó lòng ủng hộ mình được”, ông Trung nói.
Từ góc độ quân sự, thiếu tướng Lê Mã Lương cũng phân tích những lý do khiến Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam cùng những nguyên nhân khiến nước này xây dựng sân bay tại Gạc Ma. Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng cho rằng muốn đối phó với Trung Quốc, trước hết các nước trong khu vực như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia… phải có sự hợp tác. “Khi đó, Trung Quốc muốn quẫy ở biển Đông cũng sẽ gặp nhiều khó khăn”. Mặt khác, trong vấn đề ngoại giao, thiếu tướng Lê Mã Lương cho rằng: phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.
H.HƯƠNG
http://www.datviet.com/trung-quoc-khong-con-coi-trong-4-tot-16-chu%CC%83-vang/

donderdag 5 december 2013

Lực lượng nào khiến đảng cộng sản Việt Nam khiếp sợ?

Lực lượng nào khiến đảng cộng sản khiếp sợ?
Trần Ngọc Thành (Danlambao) - "Cuốc Hội” của đảng cộng sản Việt Nam đã kết thúc vở diễn tốn kém hơn 40 ngày, với màn cuối thông qua Hiến pháp 486 phiểu thuận và 2 không bỏ phiếu. Các "đại biểu” do "dân cử" đã nhập vai ăn ý dưới chiếc gậy chỉ huy của bộ chính trị: Báo cáo, giải trình, chất vấn, trả lời, phỏng vấn, quay phim, truyền hình trực tiếp giống y trang Quốc Hội của các nước dân chủ Âu, Mỹ.

Màn hạ. Tổng Trọng thở phào, "thật sự vui mừng và xúc động” vì vở diễn đã thành công(!). Nợ công lên tới 95% GDP; các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nợ 1,35 triệu tỷ đồng,… đã có 87 triệu con dân và các thế hệ con cháu gánh chịu đâu phải chuyện của đảng và Cuốc Hội. Điều 4 vẫn giữ nguyên, 87 triệu con dân, dưới con mắt đảng vẫn là 87 triệu con cừu, là thức ăn dự trữ để đảng "trường tồn”. 

Tại sao các đại biểu cuốc hội đã bình thản bấm nút dù đất nước đang lao xuống vực thẳm?

Có hai lý do: 

1. Sự tồn tại của đảng cộng sản gắn liền với quyền lực và túi tiền của họ. Trong con mắt họ, Đất Nước là bản thân họ, gia đình, con cháu họ. 

2. Lực lượng đối lập chưa làm họ bận tâm, chưa đe doạ trực tiếp đến cái ghế của họ, ít nhất họ có thể ngồi rung đùi hoặc ngủ gật vài ba khoá nữa. Khi đã hạ cảnh an toàn với của chìm của nổi kếch sù, đất nước là của Tàu hay của ai đối với họ không quan trọng. 

Đây là điều thực tế để mỗi một chúng ta, những người tranh đấu vì tương lai đất nước, sau khi chờ đợi và thất vọng vì kết quả bỏ phiếu của cái Cuốc Hội này phải bình tĩnh, suy xét và trao đổi kỹ càng để rút ngắn thời gian tranh đấu, tránh được thảm hoạ cận kề cho Dân tộc Việt Nam.

Một thực tế đã xẩy ra, gần hai năm qua nhiều hình thức tranh đấu của các bạn trẻ,của một số Trí thức đã phát triển mạnh so với nhiều năm trước: Nhóm NoU, Mạng lưới Blogger Việt Nam phản đối điều luật 258, nhóm phản đối sửa đổi Hiến pháp 72; Tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục, Tuyên bố của Hội Đồng Liên Tôn, Sự lên tiếng mang tính cá nhân của một vài cán bộ đảng lão thành. Nhưng Bộ Chính Trị đảng, BCH Trung ương và Cuốc Hội vẫn kiên định và thản nhiên bấm nút cho cái Hiến pháp mà họ đẻ ra để áp đặt cho Dân Tộc Việt Nam.

Vậy, vài câu hỏi tiếp đặt ra:

Đảng Cộng sản sợ ai? Lực lượng nào lật đổ được chế độ cộng sản?

486 đại biểu bấm nút vì họ sợ mất ghế, mất quyền lợi, chứ khộng sợ những người tranh đấu.

Tại sao họ không sợ những người tranh đấu?

Vì những người tranh đấu chưa đủ mạnh để họ sợ.

Sức mạnh nào uy hiếp quyền lực của họ? Làm thế nào để tạo ra sức mạnh?

Tại Việt Nam sức mạnh đó đã có chưa?

Đây là những câu hỏi nghiêm túc để mỗi người suy nghĩ và thảo luận.

Đã có những "Sách giáo khoa” về tranh đấu bất bạo động qua những cuộc cách mạng dân chủ Đông Âu, Bắc Phi, của phong trào Otpor tại Serbia, kể cả bài học cách mạng tháng 10 Nga và cách mạng tháng 8.1945.

Tôi đồng tình với bài viết của tác giả Vũ Đông Hà: "Cuộc cách mạng của Sợ Hãi”, "sức mạnh của đám đông” đã đăng trên Danlambao

Tại Việt Nam đã có sức mạnh đó

Tại Việt Nam đã có lực lượng uy hiếp quyền lực của đảng cộng sản

Nhưng, những người tranh đấu chưa vận dụng được sức mạnh đó.

Biết vận dụng nó, chúng ta có thể đánh đổ chế độ độc tài trong tương lai rất gần.

Ba nguồn sức mạnh tại Việt Nam hiện nay: Công Nhân, Dân Oan, Cộng đồng Công Giáo. 

1. Công nhân 

15 triệu công nhân Việt Nam thực tế là những con người hiền lành, họ chăm chỉ, nhẫn nại làm việc để nuôi sồng bản thân và gia đình, họ không hiểu biết đến chính trị, không quan tâm đến "chính trị”. Nhưng, khi sức lao động của họ bỏ ra bị bóc lột thái quá, bị làm nhục, bị quỵt lương, bị lừa dối, họ có thể chấp nhận một lần nhưng không thể chịu nhục nhiều lần và họ đã vùng lên chống lại giới chủ bằng những cuộc đình công. Đó là thái độ chính trị, hành động chính trị. 

Chống lại giới chủ tức là chống nhà cầm quyền trong phạm vi xí nghiệp, nhà máy. Vì giới chủ là sản phẩm của nhà cầm quyền bằng những hợp đồng béo bở với sức lao động công nhân rẻ mạt.

Cho đến nay, tại Việt Nam đã có gần 5000 cuộc đình công của công nhân. Có nhiều cuộc đình công trên 10 ngàn, 15 ngàn, 20 ngàn người tham gia. Hãy nhìn hình ảnh của những cuộc đình công với sức mạnh hào hùng, nhưng tại sao họ chỉ giới hạn trong phạm vi xí nghiệp? Tại sao họ không xuống đường sánh vai với những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng? 

Chỉ cần một, hai nhà máy với vài chục ngàn công nhân cùng xuống đường với Trí thức, với tuổi trẻ thì đảng cộng sản có huy động côn đồ từ cả nước để đối phó cũng sẽ bị vô hiệu hoá.

Cần phải thẳng thắn trao đổi rằng,phần lớn những người tranh đấu trong và ngoài nước coi thường công nhân , không chú ý đến họ,coi thường học vấn, coi thường trình độ của họ. Nhưng, thử hỏi rằng ai trong chúng ta đã tổ chức được những cuộc chống đối có 10,15,20 ngàn người tham gia.

Hàng chục năm qua họ tranh đấu rất cô đơn. Có hàng ngàn cuộc đình công thắng lợi, nhưng cũng có hàng ngàn cuộc đình công bị đàn áp, thậm chí công nhân bị thương, bị đánh chết.

Đã có hàng trăm trường hợp bị ngộ độc tập thể với hàng trăm, hàng ngàn nạn nhân là công nhân. Nhưng chẳng có tổ chức hay cá nhân tranh đấu nào trong nước lên tiếng ủng hộ họ, bênh vực họ.

Cần phải đến với họ, giúp đỡ họ, vì, trước hết họ cũng là con dân Việt Nam, họ là tầng lớp đáy của xã hội, với mọi chính sách khốn nạn của chế độ độc tài (tăng giá xăng, giá điện, giá sinh hoạt,…) họ là nạn nhân bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Nhìn vào từng cá nhân đơn lẻ, họ là những con người yếu ớt, thiếu trình độ học vấn. Nhưng cả khối quần chúng ấy hợp lại, nó có sức mạnh vô biên. Khối quần chúng ấy có chung số phận, chung hoàn cảnh, chung việc làm, hàng ngày sát cánh bên nhau. Khối quần chúng ấy rất dễ tiếp cận.

Đến với họ khi họ đình công, khi họ bị ngộ độc thức ăn, khi họ bị giới chủ hành hạ, bị quỵt lương.

Đến với họ với những lời động viên và cho họ biết nguyên nhân của mọi nguyên nhân tại sao họ bị bóc lột, tại sao họ khổ. Họ hiểu, và chắc chắn họ sẽ không để cho những Trí thức yêu nước xuống đường đơn độc. Họ sẽ làm tròn trách nhiệm công dân khi Tổ Quốc lâm nguy.

Cuộc tranh đấu của giới Trí thức Ba Lan là một bài học quý giá: Năm 1968, giới Trí thức và sinh viên Balan đã tổ chức một cuộc bãi khoá toàn quốc chống chế độ cộng sản, dù có hàng chục ngàn người tham gia nhưng không được giai cấp công nhân ủng hộ, cuộc đấu tranh bị đàn áp và thất bại nặng nề. 

Từ thất bại đó, giới trí thức Balan hiểu rõ lực lượng nào, giai cấp nào sẽ đập tan chế độ cộng sản. Năm 1976, khi làn sóng đình công của công nhân nổ ra khắp cả nước, Trí thức Balan đã thành lập "Uỷ Ban Bảo Vệ Công Nhân”. Những Trí thức hàng đầu như giáo sư Geremek, J. Koron, Mazowiecki, A. Michnik, v,v… đã quan tâm đến công nhân, đã xuống các nhà máy giúp đỡ công nhân, giúp họ thảo yêu sách tranh đấu đòi quyền lợi, giúp họ tổ chức đình công, quyên góp gây quỹ ủng hộ đình công,…

Năm 1980, "Công Đoàn Đoàn Kết” ra đời, Chủ Tịch là L. Welesa, một thợ điện, nhưng đằng sau là những Trí thức làm cố vấn. Trí thức Ba Lan không lập đảng chính trị mà tất cả các tổ chức tranh đấu từ trường Đại hoc, bệnh viện, công sở, nhà máy đều mang một tên chung là "Công Đoàn Đoàn Kết”. Khẩu hiệu bất diệt của họ có giá trị muôn đời: MUỐN TỰ DO, PHẢI ĐOÀN KẾT, và Đoàn Kết đã đập tan chế độ cộng sản tại Đông Âu và Liên xô.( Hãy xem lại: "Từ Đoàn Kết Đến Tự Do" - YouTube phần I,II,III,IV)

Công Nhân công ty Mỹ Phong đình công.

Công nhân đình công đòi tăng phụ cấp.

Gần 20 ngàn công nhân Cty Linh Trung 1 đình công.


1200 công nhân công ty Wondo Vina bị ngộ độc thức ăn.

2 - Dân Oan

Nếu không có chính sách cướp đất trắng trợn của đảng cộng sản, Việt Nam sẽ không có "Giai Cấp Dân Oan”. Dân oan đã lớn mạnh thành giai cấp. Họ cũng là những nông dân, những tiểu thương hiền lành, chất phác, cũng sợ sệt, yếu đuối. Họ bị đảng cướp đất, cướp nhà, vứt họ ra đường. Ước vọng sinh tồn đã giúp họ trở thành con người mạnh mẽ. Họ có mặt khắp nơi, trên mọi miền đất nước, nhưng thường tụ hội tại Hà Nội và Sài Gòn. Họ không còn gì để mất. Con đường sống của họ là tranh đấu.

Họ đã bày tỏ thái độ chính trị và hành động chính trị.

Chúng ta đã quan tâm đúng mức đến lực lượng này chưa? Sao chúng ta không kết nối với họ được?

Hàng ngàn dân oan Văn Giang, Hàng ngàn dân oan Dương Nội, Hàng ngàn dân oan Hà Tây sao không kết nối được với nhau, sao không phối hợp hành động, không ứng cứu nhau kịp thời khi bị đàn áp? Sao không kết nối được dân oan cả nước? Sao lại để 6 dân oan Văn Giang tranh đấu đơn độc với lũ côn đồ đội lốt công an?

Nếu coi cuộc tranh đấu vì Đất Nước là đúng đắn, không tuỳ hứng, không phải là hình thức trang trí cho lý lịch bản thân thì mỗi người cần phân tích và trả lời nghiêm túc cho những câu hỏi đó, nếu không, đừng trách những ông quan bấm nút trong hội trường Cuốc Hội.



3. Cộng Đồng Giáo Dân

Đây là cộng đồng mà tôi luôn ngưỡng mộ và hy vọng. Chính sách hận thù tôn giáo,đàn áp tôn giáo của cộng sản đã làm cho cộng đồng Công Giáo đoàn kết chặt chẽ hơn. Nhà Chung, Thái Hà, Tam Toà, Cồn Dầu, Mỹ Yên,… đã làm cho đồng bào công giáo nhìn rõ hơn mặt thật của đảng cộng sản. Tôi không phải là Giáo Dân nhưng tôi rất hãnh diện khi nhắc tên những Người như Linh Mục Ngô Quang Kiệt, Linh Mục Cao Đinh Thuyên, Linh Mục Nguyễn Thái Hơp, Bloger Nguyễn Hữu Vinh,…

Nếu đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo đê nhị (John Paul II) người Balan còn sống thì cộng sản Việt Nam chắc không giám lộng hành với cộng đồng Công Giáo như hiện nay.

Câu nói của Đức Giáo Hoàng John Paul II khi về thăm Tổ Quốc đã khích lệ cộng đồng Công Giáo Balan: "Các Con đừng sợ”;

- "Hãy hiện lên linh hồn của Chúa và tái sinh Mặt Đất. Mảnh đất này.” 

Chừng nào còn chế độ cộng sản độc tài thì đức tin tôn giáo còn bị hành hạ, chắc chắn cộng đồng Công giáo sẽ đồng hành cùng Dân Tộc tranh đấu cho đức tin, cho một xã hội công bằng.




Ba lực lượng trên là những lực lượng khiến đảng cộng sản phải khiếp sợ.

Làm thế nào để phát huy được sức mạnh đó, kết nối được sức mạnh đó là câu hỏi cho những người tranh đấu nghiêm túc.

Thật ra, từ khi thấy được sức mạnh của công nhân qua những cuộc đình công từ những năm đầu của thế kỷ 21, một số anh chị em trong nước như luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân, anh Nguyễn Khắc Toàn, chị Trần Khải Thanh Thuỷ, anh Lê Trí Tuệ,… đã chú ý đến lực lượng này và thành lập tổ chức để giúp đỡ và bênh vực quyền lợi của công nhân. Ngày 20.10.2006, Công Đoàn Độc Lập Việt Nam đã ra mắt. Ngày 27.10.2006 tại sảnh đường Quốc Hội nước Cộng Hoà Ba Lan đã diễn ra cuộc Hội thảo Quốc tế về "Quyền của Người Lao Động tại Việt Nam”. Hội Nghi quy tụ gần 70 đại biểu và khách mời khắp thế giới: Mỹ, Canada, Pháp Bỉ, Hà Lan, Đức, Tiệp, Úc, và Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động VN được thành lập. Luật sư Lê Thị Công Nhân, khách mời của cuộc Hội thảo bị giữ tại sân bay Nội Bài và bị cấm xuất cảnh. Ngày 7.01.2007, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông do anh Đoàn Huy Chương làm chủ tịch cũng được thành lập.

Tuy nhiên, sau khi được gia nhập WTO và tổ chức hội nghị APEC tại Hà Nội, đảng cộng sản đàn áp khốc liệt những người sáng lập Nghiệp Đoàn. Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Đoàn Huy Chương lần lượt vào tù, một số người phải lánh nạn, Bạch Ngoc Dương, Trần Văn Hoà,… phải sang Mỹ tỵ nạn, Lê Trí Tuệ bị mất tích tại Căm Pu Chia, anh chị em tranh đấu cho quyền lợi của Người Lao động phải bí mật hoạt động và gây dựng phong trào. Gần 4 năm trước, Đoàn Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàn Quốc Hùng lại bị bắt vào tù vì giúp đỡ cho 10 ngàn công nhân nhà máy Mỹ Phong, Trà Vinh tổ chức đình công bảo vệ quyền lợi.

Nguy hiểm và khó khăn, nhưng giai cấp công nhân cần có tổ chức độc lập của mình để tranh đấu bảo vệ quyền lợi. "Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do” đã ra đời (Hợp nhất các tổ chức tranh đấu vì quyền lợi của công nhân), đã nạp đơn và đang chờ xét làm thành viên của Nghiệp Đoàn Lao Động Thế Giới (ITUC).

Dân Oan cũng cần có người đại diện của mình để kết nối, hỗ trợ và tranh đấu với nhà cầm quyền.

Thời gian qua nhiều anh chị em tranh đấu trong nước đã đến với dân oan, cuộc tranh đấu của dân oan đã được khích lệ, nhưng vì nhiều lý do, sức mạnh tranh đấu của khối này vẫn chưa được phát huy.

Nếu giai cấp công nhân và dân oan được chú ý đúng mức, nếu kết hợp được sức mạnh của ba khối Công Nhân, Dân Oan và Cộng Đồng Giáo Dân chế độ độc tài cộng sản đã tiêu tan, anh chị em Trí thức, các bạn trẻ sẽ không cô đơn khi xuống đường thể hiện trách nhiệm của mình trước Tổ Quốc, trước Dân Tộc.

4. Lực lượng tranh đấu hải ngoại:

Những năm qua, Cộng đồng Người Việt hải ngoại, các tổ chức, các đảng phái tranh đấu hải ngoại đã hỗ trợ lực lượng trong nước bằng nhiều hình thức. Hiệu quả đến mức nào tuỳ theo cách nhìn và cách đánh giá của từng người.

Theo cá nhân tôi, với tiềm năng như vậy, các Tổ chức tranh đấu hải ngoại đáng lẽ yểm trợ trong nước tốt hơn, hiệu quả hơn. Nguyên nhân? Mọi người đều biết, nhưng khó có thể khắc phục, kể cả bây giờ. Thiếu đoàn kết, đố kỵ, không thống nhất khi hành động đã làm phân tán lực lượng và giảm lòng tin đối với cộng đồng.

Các tổ chức, đảng phái đã lẫn lộn mục tiêu tranh đấu trước mắt và mục tiêu tranh đấu lâu dài. Trước mắt: Cần tập trung, đoàn kết mọi lực lượng và thống nhất hành động để đập tan chế độ độc tài. Khi chế độ độc tài không còn, lúc đó hãy cạnh tranh trong việc lãnh đạo đất nước, xây dựng xã hội dân chủ. Thế nhưng, dù chế độ cộng sản vẫn đang hiện diện, cả dân tộc đang bị kìm kẹp, các tổ chức, đảng phái đã cạnh tranh lẫn nhau, tranh dành ảnh hưởng kể cả trong và ngoài nước. An ninh cộng sản đã lợi dụng điều đó để chia rẽ, đánh phá.

Những anh chị em dấn thân trong nước chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, bị đàn áp, bị tù đày, bị cô lập, bị phong toả mọi đường làm ăn sinh sống. Gia đình và bản thân anh chị em vô cùng cực khổ. Đáng lẽ họ phải được chi viện vật chất tối thiểu để sống, và hoạt động. Nguồn chi viện đó từ hải ngoại rất hạn chế so với yêu cầu của anh chị em trong nước.

Phải chăng cộng đồng người Việt hải ngoại quá nghèo, không có khả năng? Không đúng. Vì hàng năm bình quân có trên 10 tỷ USD kiều hối gửi về nước. Những năm qua, nhiều tổ chức từ thiện, nhà chùa chỉ trong một đợt ngắn đã quyên góp được hàng chục, hàng trăm ngàn đô la. Mới đây nhất, trong một thời gian ngắn, VOICE do LS Trịnh Hội tổ chức đã quyên góp được trên 200 ngàn đô-la giúp nạn nhân bão Hải Yến tại Philipin.

Cộng đồng người Việt hải ngoại không tin các tổ chức, các đảng phải.

Đề nghị thành lập một "Quỹ yểm trợ dân chủ” độc lâp. Thành phần đứng tên và ban điều hành gồm những nhà hoạt động có uy tin trong các lĩnh vực: văn hoá, khoa học, xã hội, tôn giáo cả trong và ngoài nước. Ví dụ trong nước: Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Phan Văn Lợi, cụ Lê Quang Liêm, Luật sư Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân, Bloger Nguyễn Hữu Vinh; Ở Hải ngoại có nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, nhạc sỹ Nam Lộc, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhạc sỹ Việt Dũng, LS Trịnh Hội, nhạc sỹ Trúc Hồ, Tiến sỹ Nguyễn Đình Thắng,... Khi những vị này đứng tên gây quỹ, người cho tiền tin tưởng đồng tiền của họ sẽ được chi đúng mục đích và không bị đảng phái, tổ chức nào lợi dụng. Mỗi khi gây quỹ, các tổ chức, đảng phái cùng vận động và hỗ trợ. Với niềm tin đồng tiền bỏ ra sẽ góp phần vào việc sớm dân chủ hoá Đất Nước, đồng bào sẽ không ngần ngại khi trút hầu bao.

5. Phối hợp hành động.

Hiện nay, một công việc mà anh chị em tranh đấu trong nước , các tổ chức đảng phái hải ngoại có thể phối hợp hành động:

Để cứu nền kinh tế "định hướng XHCN” đang sụp đổ, đảng cộng sản đang ra sức vận động để gia nhập "Hiệp Ước Thương Mãi xuyên Thái Bình Dương”( TPP).

Nếu nền kinh tế sụp đổ, đảng cộng sản sẽ chết.

Một trong những điều kiện mà các đối tác đặt ra cho Việt Nam là Việt Nam phải có công đoàn độc lập.

Nếu nhà nước cộng sản buộc phải công nhận công đoàn độc lập thì đây là một cơ hội lớn cho giai cấp công nhân Việt Nam. Thời gian rất gấp rút.

Mong các lực lượng tranh đấu trong và ngoài nước vì mục đích chung cùng phối hợp hành động.

Thưa các anh chị, các bạn trẻ,

Là người tranh đấu, là người hành động, trước hiện tình Đất Nước, sau cái "ngày tang khốc cho Dân Tộc Việt Nam” như lời của nhà văn Võ Thị Hảo, tôi nêu quan điểm của mình như một ý kiến để cùng thảo luận, cùng suy ngẫm, nhằm tìm hướng đi và hành động đúng, rút ngắn thời gian cho cuộc đấu tranh.

Warszawa, 02.12.2013. 

Trần Ngọc Thành
danlambaovn.blogspot.com

* Về tác giả:

Ông Trần Ngọc Thành hiện đang là Chủ tịch Ủy Ban Bảo vệ Người Lao Động Việt Nam.

Ông Trần Ngọc Thành du học Ba Lan từ năm 1967, tham gia tổng bãi khóa (đình công) của sinh viên, trí thức Ba Lan năm 1968; tốt nghiệp năm 1973.

Sau khi về nước, ông làm việc ở Tổng cục hàng hải VN, gia nhập đảng cộng sản. Trong thời gian làm việc ở VN vẫn liên hệ với các trí thức tranh đấu Ba Lan.

Năm 1988 khi Công đoàn đoàn kết sắp dành thắng lợi, theo lời mời của giáo sư cũ, ông quay lại Ba Lan làm nghiên cứu sinh. Chứng kiến các cuộc cách mạng tại các nước Đông Âu, ông viết nhiều kiến nghị đề nghị thay đổi tại VN, tuy nhiên ĐCS VN không chấp thuận và đe dọa sẽ bắt ông khi về lại VN. Sau đó ông quyết định ở lại Ba Lan, vứt thẻ đảng và tham gia tranh đấu, sau đó cùng một số bạn bè ở Ba Lan phát hành báo Đàn Chim Việt.

Tháng 10.2006 tổ chức cuộc hội nghị về quyền lao động VN tại Warszawa thủ đô nước Cộng Hòa Ba Lan,  thành lập Ủy Ban Bảo Vệ  Người Lao Động Việt Nam.

Mục đích của Ủy ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam là không ngừng phấn đấu cho mục tiêu của mình là tranh đấu vì quyền lợi của người lao động và giai cấp công nhân Việt Nam.
 

maandag 28 oktober 2013

Tô Huy Rứa, đảng “ta” và đảng “tây”

Tô Huy Rứa, đảng “ta” và đảng “tây”
Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Lang thang trên mạng, một bản tin trên CAND online: “Nhận lời mời của đảng Cộng sản Pháp, Đoàn đại biểu đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí “mô tê răng rứa” (Tô Huy Rứa) Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương dẫn đầu thăm và làm việc tại Cộng hòa Pháp từ ngày 26 đến ngày 29/10/2013”. [1]

Thú thật là xuân thu nhị kỳ chỉ nghe “đảng ta” chứ hiếm khi nghe thấy truyền thông mạng nhắc đến cái tên của “đảng Tây” (CS Pháp), vì vậy thấy báo điện tử CA “đảng ta” tri hô lên rằng:

Ngày 26/10, đồng chí Tô Huy Rứa đã hội kiến với Ban lãnh đạo đảng Cộng sản Pháp do đồng chí Pierre Laurent, Bí thư toàn quốc đảng, dẫn đầu. [2]

Nghe cái danh xưng từ CAND online: “Hội kiến với Bí thư toàn quốc đảng” mà hết cả hồn, vội lục lọi xem “toàn quốc đảng CS Pháp” nó mô, tê, răng, rứa ra sao?

Thông tin gần đây và mới nhất ghi nhận: Đại hội đảng cộng sản Pháp lần thứ 36 họp vào tháng 2 năm 2013 đã quyết định từ bỏ biểu tượng “búa liềm” tượng trưng nền chuyên chính vô sản trên thẻ đảng vì nó không còn liên hệ gì nữa với thế hệ đảng viên trẻ ngày nay tại Pháp.

Việc đại hội lần 36 của ĐCS Pháp quyết định vứt bỏ biểu tượng “búa liềm” trên thẻ đảng là tiếp nối sự thoái trào của phong trào cộng sản ở Pháp.

Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, đảng cộng sản Pháp đã từng nhận được đủ phiếu bầu để tham gia Chính phủ với những chức vụ Phó thủ tướng và Bộ trưởng. Nhưng trong những thập niên vừa qua uy tín của đảng này giảm sút đến mức chỉ thu được khoảng 3% số phiếu bầu, không đủ tín nhiệm để tham gia tranh cử Tổng thống.

Trong thời gian đại hội lần thứ 35, khoảng 300 đảng viên cộng sản Pháp trong đó có cả ủy viên trung ương đảng, đảng viên là nghị sĩ quốc hội, giáo sư, trí thức, văn nghệ sĩ có uy tín đã cùng ký tên rời bỏ đảng cộng sản để tham gia các đảng khác vì đã nhận thấy học thuyết Mácxít -Lêninít không còn sức sống cả về lý luận và thực tiễn.

Thời cao điểm số đảng viên Cộng Sản Pháp khoảng 110. 000 người nhưng không lâu sau đó, hàng ngũ trí thức Pháp dần dần lìa xa, số đảng viên trụt xuống chỉ còn khoảng 30. 000 người trong tổng số 65. 700. 000 dân (chưa tới 0, 5% trong cái số lẽ) Trong cuộc bầu cử Tổng thống Pháp năm 2007, bà Marie - George Buffet, Bí thư toàn quốc đảng Cộng sản Pháp, chỉ được có 1, 93% phiếu bầu. [3]

Các nhà bình luận của báo le Monde, Libération, le Figaro… đều bàn đến sự kiện đáng chú ý trên đây, cho rằng lần này, tháng 6-2010, đảng cộng sản Pháp đã vỡ ra một mảng cực lớn, khi nó đang ở tình trạng suy yếu đến cùng cực, “những nhà đổi mới cuối cùng đã ra đi”, họ thuộc tinh hoa quyền lực và trí tuệ còn sót lại của đảng CS Pháp. Sau vụ này, đảng CS Pháp tuy chưa tan biến mất, nhưng suy cho cùng cũng chỉ còn là như cái bóng của chính nó.

Chủ mời CS Pháp đã là như thế, đại diện khách mời, bộ “cai trị đảng ta” cử đi một nhân vật cũng chẳng ra gì để gọi là đoàn đại biểu đảng Cộng sản Việt Nam do ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương dẫn đầu.

“Quan Tham” Tô Huy Rứa tặng quà lưu niệm cho ông Pierre Laurent.

Dù không muốn nhắc lại bởi đó là bản chất của những chóp bu CSVN hôm nay, nhưng nhìn nụ cười “đểu cáng” toát lên trên khuôn mặt đạo đức giã của ông Tô Huy Rứa trong ảnh thì cần thiết cũng nên nhắc lại cho ông ta và mọi người đừng quên:

Sáng ngày 14/04/2012 tại thủ đô Hà Nội Có một sự kiện mà báo chí cho là rất hiếm thấy (bởi như vở kịch hài vụng về lố bịch).

Một cô gái sinh năm 1988 (mới tròn 24 tuổi) vừa rời giảng đường đại học, Tô Linh Hương, tốt nghiệp từ viện Báo chí Tuyên truyền lại được bầu vào làm Chủ tịch Hội đồng quản trị tổng công ty xây dựng khổng lồ Vinaconex – PVC để lãnh đạo 2000 viên chức, công nhân (trong đó hầu hết nhiều kỹ sư chuyên gia mà tài năng và tuổi đời đáng hàng chú bác hay “ông nội, ông ngoại”) với nhiệm kỳ bốn năm 2012-2016. Có điều đáng lưu ý: Tô Linh Hương là con gái của Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

“Quan tham” Tô Huy Rứa và công nương “trái cây bắt chín ép” Tô Linh Hương trong buổi ra mắt “Ta là Chủ tịch” Hội đồng quản trị tổng công ty Vinaconex – PVC. (Đồng bào nhân dân có thấy màu sắc “vô liêm sỉ”trên gương mặt cả “phụ, lẫn tử” trong ảnh không??).

Cũng vì vậy mà ngày 22 tháng 6, 2012 chỉ sau 2 tháng trên ghế Chủ tịch Hội đồng quản trị, cô gái ấy phải “bỏ ghế chạy lấy người” (từ chức) một phần vì cô không chịu nỗi xấu hổ vì tai tiếng là con gái một kẻ gọi là “đầy tớ, công bộc” của nhân dân nhưng lợi dụng quyền lực trong “Bộ Cai Trị CSVN” để thu vén quyền lợi nhóm, bẩn thỉu, dành riêng cho con gái mình. Thứ hai, cô còn quá trẻ cũng không có thực tài để cầm đầu một đại công ty có tới 2, 000 nhân viên, công nhân, doanh thu hàng ngàn tỷ đồng/năm - Thứ ba, cô không phải kỹ sư xây dựng, không phải kiến trúc sư, cũng không tốt nghiệp về quản trị tập đoàn xí nghiệp. Nói tóm lại, cô chẳng biết gì về ngành xây dựng và kinh doanh xây dựng nhưng lại được “ấn” vào một chổ ngồi quản lý, cầm đầu một đại công ty hoàn toàn xa lạ với kiến thức nhỏ bé của cô.

Ai “ấn” vào? Chính là Tô Huy Rứa (cha cô).

Ông “đếch” cần biết khả năng của con mình mình, lợi dụng là “Trưởng Ban Tổ chức Trung ương” của đảng, “tổ chức” cho con gái, suýt chút nữa (nếu không từ chức sớm) ông sẽ gián tiếp thông qua con gái mình “thu vén màu mỡ” và phá tan tổng công ty Vinaconex như trường hợp Vinashin hay Vinalines ngay.

Lạy chúa! hồng ân cho đất nước! Âm mưu toa rập “bắt ốc vít” cái mông con trẻ vào cái ghế thượng đẳng bay mùi tiền này không thể thành công!

Không tuyệt đối – Nhưng cũng logic, một cái “đảng Tây” mà các UV/TW đảng phải bỏ đảng chạy lấy người lại tay bắt mặt mừng cùng hội cùng thuyền với “đảng ta” một cái đảng cũng khiến hàng triệu người chạy trốn từ Bắc vào Nam và hàng triệu người khác từ Nam trốn xuống biển...


_________________________________

Chú thích: