Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Hồi Việt Nam chưa có ... “Tuyên ngôn Độc lập”, quân ta đêm đêm phải đi “hạ cờ Tây”, tức đi đánh đồn lính Pháp. Thời bấy giờ nông thôn ta chưa bị dịch Thích Khuyển (trộm chó) như hiện nay nó đang hoành hành cả nước, nên “giai cấp” chó rất thịnh vượng, đi đến đâu cũng nghe chó sủa. Vì vậy trước khi hạ cờ Tây ở vùng nào, để giữ được yếu tố bất ngờ, quân ta phải đến đó trước để “xử lý trọn gói” cầy già lẫn cầy tơ. Ban đầu thì “xử lý” xong là bỏ đi, nhưng về sau đường xa “trở dạ”, nhìn đám chó chết mà mơ màng nồi rựa mận, bèn nhất trí đồng ý “tịch thu” đám cầy tơ, của trời cho.
Cũng từ đó, hễ nói đến hai chữ “cờ Tây” là dân ta, phần do ấm ức cảnh nô lệ, phần do cái máu quốc hồn quốc túy bắc kỳ, hầu như ai ai cũng có khuynh hướng thiên về... cầy tơ...
...Hạ cờ tây. Hạ cầy tơ. Nay lại hạ cờ ta:
“Ngay khi cả nước còn đang chìm trong tang thương của ngày Quốc tang thứ 2, ngay khi chiếc xe cuối cùng rước linh cữu Đại tướng vừa khuất bóng khỏi nội thành Hà Nội, loa phường tại nhiều địa bàn trọng điểm Hà Nội đã ra rả yêu cầu các hộ gia đình khẩn trương hạ cờ rủ. Các công sở đồng loạt bỏ cờ rủ khi linh cữu Đại tướng chưa ra khỏi địa bàn Thủ đô. Công an và cán bộ cơ sở đi từng nhà yêu cầu mọi người dân triệt để chấp hành lệnh của UBND Thành phố. Nhân dân vô cùng ngỡ ngàng tưởng đã có một cuộc lật đổ chính quyền vừa xảy ra tại Thủ đô...” *
Rồi từ trạng thái vô cùng ngỡ ngàng nhân dân ta phải kinh qua thời kỳ quá độ cực kỳ ngao ngán, khi biết được lý do hạ cờ... ta không phải là “đã có một cuộc lật đổ chính quyền vừa xảy ra tại Thủ đô...”, nhưng là vì nhà nước ta chuẩn bị đón thủ tướng Tàu Lý Khắc Cường.
Ngao ngán cho thân phận cờ đỏ sao vàng đang được gọi là “quốc kỳ”, “cờ tổ quốc”. Quốc kỳ là biểu tượng của hồn thiêng sông núi. Ấy thế mà đang khi còn rủ xuống bùi ngùi khóc thương đứa con “huyền thoại” một thời và cuối đời bại hoại vì nói chúng chẳng còn nghe, Hồn thiêng sông núi bị Công an và cán bộ cơ sở đi từng nhà, hoặc qua loa phường ra rả yêu các hộ gia đình khẩn trương hạ thủ. “Hạ cờ rủ” chính là hạ thủ hồn thiêng sông núi đang cúi mình tang thương.
Cờ Đỏ đang buồn “giữa chừng xuân”, nếu như vì “... có một cuộc lật đổ chính quyền vừa xảy ra tại Thủ đô...” mà “bị hạ” rồi bị đem cất đi, hay bị “hô biến cho khuất mắt”, hoặc thậm chí bị biêu riếu bằng cách may thành quần đùi bắt tù binh “ngụy” mặc như Kách mạng làm sau Tháng Tư, 1975, mà còn đỡ nhục nhã, ê chề, cay đắng, đớn đau, xấu hổ, thảm hại hơn là hạ cờ “ta” đang rủ để làm vui cờ “Khách” (dân) không mời mà đến, với bộ mặt khinh khỉnh.
Dẫu sao, nếu “được” như vậy cũng còn “may”; đàng này có khi Cờ nhà còn bị đục mất sao để dán vào cờ “Khứa”, để làm đệ ngũ tiểu tinh xếp hàng bái quỳ sao chúa. Chỉ còn lại mảnh vải đỏ tả tơi cơ đồ...
Hạ cờ tây. Hạ cầy tơ. Nay lại hạ cờ ta...
...Cờ đỏ sao vàng đang rủ khóc thương Đại tướng còn trên đường ra huyệt mộ.
__________________________________
(*) Trích từ “Tột cùng hỗn láo với dân tộc Việt Nam và Đại tướng Võ Nguyên Giáp” - Cầu Nhật Tân.
Trích:
Cờ đỏ sao vàng từ đâu mà ra? http://www.x-cafevn.org/forum/...Theo những gì ghi trên wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/Q... thì : nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.
Có hai giả thuyết được đưa ra :
- Từ năm 1976, theo tìm hiểu của nhà văn Sơn Tùng, lá cờ này đã được dùng lần đầu tiên trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 và tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến, lúc đó thường được gọi là "ông Hai Bắc Kỳ"
Tuy nhiên, trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18 tháng 4 năm 2001 có ghi: "Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc"
- Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy mẫu từ hiệu kỳ Cờ đỏ sao vàng (hay còn gọi là cờ sao mai) của Mặt trận Việt Minh ở Bắc kỳ từ trước tháng 8 năm 1945. Theo Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày "19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội"[4]. Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, tuy trong ca khúc có những câu như "...Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,... Sao vàng phấp phới..." nhưng lúc đó ông cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra.
Trong hai khả năng trên, thì đảng CSVN đã không công nhận giả thuyết thứ nhất. Chỉ còn giả thuyết thứ hai là cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh mang từ nước ngoài về. Nước ngoài, ở đây được hiểu là Trung Quốc, vì Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở Trung Quốc cho đến khi quay về Việt Nam. Mà ông ta cũng chỉ ở lại Việt Nam không lâu rồi lại sang Trung Quốc. Chỉ sau 08/1945 thì Hồ Chí Minh mới ở lại Việt Nam thường xuyên.
Lá cờ là chuyện quan trọng, vậy mà tại sao nó lại không được xác định cho đến tận những năm 80 khi có người đặt vấn đề. Chắc hẳn, những người cộng sản quen thói áp đặt lên người dân những gì mà họ nghĩ ra hay mang từ ngoại quốc về, theo kiểu dân chủ của họ, nên qua bằng đó năm họ mới phải đứng trước vấn đề "đẽo chân cho vừa giày" đối với lá cờ đỏ. Cũng nên biết, vào những năm 80 thì những người cộng sản có chức vụ lớn trong giai đoạn Nam Kỳ khởi nghĩa đều còn sống như Trường Chinh (Xứ Ủy viên Bắc Kỳ 36-39, Tổng bí thư 41), Lê Duẩn (Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Ban thường vụ Trung ương Đảng), Võ Nguyên Giáp (Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ, dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long 39-40) ... Không nhẽ những người này, chẳng phải mù chữ, cũng không biết gì về cờ đỏ sao vàng trong Nam Kỳ khởi nghĩa hay sao. Chỉ có thể giải thích được là lá cờ này không tồn tại lúc đó. Cờ búa liềm thì có, vì theo cờ của Liên Xô, mà Trần Phú, Lê Hồng Phong, ..., đã có cơ hội được biết.
Cho đến khi bị hỏi, những người cộng sản mới bắt đầu tưởng tượng, nền đỏ là máu, ngôi sao năm cánh cho "sĩ, nông, công, binh, thương". Nhưng giả thiết này không thể đứng vững.
Tại sao, những người cộng sản lại phải quanh co kiếm cách giải thích để tránh bị tố cáo lá cờ của họ do thế lực ngoại bang (Trung Quốc) giao cho Hồ Chí Minh mang về áp đặt lên đất Việt. Vì lúc này, trên mạng người ta phát hiện ra lá cờ đỏ sao vàng đó là phiên bản của cờ cộng sản Phúc Kiến (1933-1934). Có thể không hoàn toàn 100% nhưng cũng không xa. Cũng là nền đỏ, cũng sao vàng có cánh dày. Mãi đến 1955, CSVN mới đổi lá cờ lại cho cánh của nó thanh hơn, không loại trừ để xóa giấu vết nguồn gốc Phúc Kiến.
Giả thuyết lá cờ đỏ xuất phát từ cộng sản Trung Quốc có cơ sở hơn là giả thuyết mà CSVN đưa ra do họ tự nghĩ "sĩ, nông, công, binh, thương". Bởi vì từ khi đảng CSVN được thành lập, mục tiêu của họ là "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ", ngay từ phong trào xô viết Nghệ Tĩnh, qua Cải cách ruộng đất cho đến nay. Sĩ phu hay trí thức đều là mục tiêu cần phải diệt mà cộng sản đề ra. Trí thức và cộng sản không bao giờ đi với nhau. Khi con người có trí thức thì người ta sẽ biết cộng sản là kẻ cản sự phát triển của nhân loại. Để tồn tại, cộng sản tiêu diệt trí thức nhằm thực hiệc chính sách ngu dân đăng dễ cai trị họ. Vậy thì hà cớ gì mà cộng sản lại dành một cách sao cho kẻ thù của họ là "trí thức". Cứ coi Nhân Văn Giai Phẩm thì biết, đến 1954-1956 cộng sản đày đọa cánh sao "sĩ" của sao vàng ra sao. Đến nay, thử hỏi đã có ai thực sự là trí thức được cộng sản tín nhiệm hay còn cộng tác với cộng sản sau khi thấy rõ bản chất cộng sản.
Một vấn đề quan trọng khác, "binh" là một trong 5 cánh sao. "Binh" là binh lính, có nghĩa thuộc quân đội chính quy cho dù có thể chỉ có vũ khí đơn sơ. Nếu không thì chỉ cùng lắm như dạng dân quân, du kích, ..., tức là dân có vũ khí. Vào thời Nam Kỳ khởi nghĩa, không người Việt nào có khái niệm đến quân đội trong lá cờ, vì làm gì có người lính nào. Ngay cả quân đội Việt Nam cũng chỉ ra đời ngày 22/12/1944. Như vậy, ý niệm quân đội là một trong năm cánh sao chỉ là đẽo chân cho vừa cái giày hợp với lá cờ được mang từ nước ngoài về. Cờ Liên Xô không có sao vàng. Cờ Phúc Kiến thì có và Mao cũng đã có quân đội chính quy : Bát lộ quân. Điều này phải chăng thêm một giải thích Hồ Chí Minh vác cờ của Mao về Việt Nam.
Và cuối cùng "thương" là thương nhân. Có ai nghĩ rằng cộng sản lại đội lên mặt họ "thương nhân" không? Thương nhân bị tiêu diệt trong xã hội cộng sản. Họ bị coi là ăn bám, bóc lột vì không làm ra sản phẩm. Mua bán dưới chế độ XHCN đều qua cửa hàng mậu dịch nhà nước. Ngăn sông cấm chợ, cũng là những biện pháp thủ tiêu thương nhân.
Ngoài "công" và "nông", 3 cánh sao mà cộng sản áp đặt là "sĩ", "binh" và "thương" cho một lá cờ tưởng tượng thời Nam Kỳ khởi nghĩa là hoàn toàn vô căn cứ, phản lại chính sách của họ "trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ", vượt qua sự hiểu biết của họ về quân đội vào lúc đó và nói dối lòng căm thù của họ với "thương nhân".
Từ trên cho thấy, giả thuyết duy nhất chấp nhận được là : năm 1941, Hồ Chí Minh đã mang cờ đỏ sao vàng của Mao về áp đặt lên đầu người Việt.
Dưới đây là các hình : "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" năm 1931 (trang Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh) và năm 1954-1956 Cải cách ruộng đất, một lá cờ Trung Quốc với sao vàng cánh dày (như cờ đỏ trước năm 1955, mà không nước nào trên thế giới có), cờ đỏ Việt Nam (1945-1955 cánh dày), phác họa lịch sử cờ đỏ Việt Nam và cờ Trung Quốc. (Hết trích)
Cờ đỏ sao vàng từ đâu mà ra? http://www.x-cafevn.org/forum/...Theo những gì ghi trên wiki (http://vi.wikipedia.org/wiki/Q... thì : nguyên mẫu của quốc kỳ Việt Nam hiện nay được ghi nhận xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940. Tuy nhiên, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng tác giả của lá cờ vẫn không được xác định một cách chính xác.
Có hai giả thuyết được đưa ra :
- Từ năm 1976, theo tìm hiểu của nhà văn Sơn Tùng, lá cờ này đã được dùng lần đầu tiên trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940 và tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến, lúc đó thường được gọi là "ông Hai Bắc Kỳ"
Tuy nhiên, trong công văn số 1393/VHTT-BTCM do Thứ trưởng Bộ Văn hóa - thông tin Lưu Trần Tiêu ký ngày 18 tháng 4 năm 2001 có ghi: "Tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, tại Viện Lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ Tổ quốc"
- Quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy mẫu từ hiệu kỳ Cờ đỏ sao vàng (hay còn gọi là cờ sao mai) của Mặt trận Việt Minh ở Bắc kỳ từ trước tháng 8 năm 1945. Theo Võ Nguyên Giáp, hiệu kỳ này do Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày "19/5/1941, lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội nghị thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội"[4]. Vào năm 1944, Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, tuy trong ca khúc có những câu như "...Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,... Sao vàng phấp phới..." nhưng lúc đó ông cũng chưa thấy lá cờ mà chỉ tưởng tượng ra.
Trong hai khả năng trên, thì đảng CSVN đã không công nhận giả thuyết thứ nhất. Chỉ còn giả thuyết thứ hai là cờ đỏ sao vàng được Hồ Chí Minh mang từ nước ngoài về. Nước ngoài, ở đây được hiểu là Trung Quốc, vì Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở Trung Quốc cho đến khi quay về Việt Nam. Mà ông ta cũng chỉ ở lại Việt Nam không lâu rồi lại sang Trung Quốc. Chỉ sau 08/1945 thì Hồ Chí Minh mới ở lại Việt Nam thường xuyên.
Lá cờ là chuyện quan trọng, vậy mà tại sao nó lại không được xác định cho đến tận những năm 80 khi có người đặt vấn đề. Chắc hẳn, những người cộng sản quen thói áp đặt lên người dân những gì mà họ nghĩ ra hay mang từ ngoại quốc về, theo kiểu dân chủ của họ, nên qua bằng đó năm họ mới phải đứng trước vấn đề "đẽo chân cho vừa giày" đối với lá cờ đỏ. Cũng nên biết, vào những năm 80 thì những người cộng sản có chức vụ lớn trong giai đoạn Nam Kỳ khởi nghĩa đều còn sống như Trường Chinh (Xứ Ủy viên Bắc Kỳ 36-39, Tổng bí thư 41), Lê Duẩn (Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Ban thường vụ Trung ương Đảng), Võ Nguyên Giáp (Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ, dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long 39-40) ... Không nhẽ những người này, chẳng phải mù chữ, cũng không biết gì về cờ đỏ sao vàng trong Nam Kỳ khởi nghĩa hay sao. Chỉ có thể giải thích được là lá cờ này không tồn tại lúc đó. Cờ búa liềm thì có, vì theo cờ của Liên Xô, mà Trần Phú, Lê Hồng Phong, ..., đã có cơ hội được biết.
Cho đến khi bị hỏi, những người cộng sản mới bắt đầu tưởng tượng, nền đỏ là máu, ngôi sao năm cánh cho "sĩ, nông, công, binh, thương". Nhưng giả thiết này không thể đứng vững.
Tại sao, những người cộng sản lại phải quanh co kiếm cách giải thích để tránh bị tố cáo lá cờ của họ do thế lực ngoại bang (Trung Quốc) giao cho Hồ Chí Minh mang về áp đặt lên đất Việt. Vì lúc này, trên mạng người ta phát hiện ra lá cờ đỏ sao vàng đó là phiên bản của cờ cộng sản Phúc Kiến (1933-1934). Có thể không hoàn toàn 100% nhưng cũng không xa. Cũng là nền đỏ, cũng sao vàng có cánh dày. Mãi đến 1955, CSVN mới đổi lá cờ lại cho cánh của nó thanh hơn, không loại trừ để xóa giấu vết nguồn gốc Phúc Kiến.
Giả thuyết lá cờ đỏ xuất phát từ cộng sản Trung Quốc có cơ sở hơn là giả thuyết mà CSVN đưa ra do họ tự nghĩ "sĩ, nông, công, binh, thương". Bởi vì từ khi đảng CSVN được thành lập, mục tiêu của họ là "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ", ngay từ phong trào xô viết Nghệ Tĩnh, qua Cải cách ruộng đất cho đến nay. Sĩ phu hay trí thức đều là mục tiêu cần phải diệt mà cộng sản đề ra. Trí thức và cộng sản không bao giờ đi với nhau. Khi con người có trí thức thì người ta sẽ biết cộng sản là kẻ cản sự phát triển của nhân loại. Để tồn tại, cộng sản tiêu diệt trí thức nhằm thực hiệc chính sách ngu dân đăng dễ cai trị họ. Vậy thì hà cớ gì mà cộng sản lại dành một cách sao cho kẻ thù của họ là "trí thức". Cứ coi Nhân Văn Giai Phẩm thì biết, đến 1954-1956 cộng sản đày đọa cánh sao "sĩ" của sao vàng ra sao. Đến nay, thử hỏi đã có ai thực sự là trí thức được cộng sản tín nhiệm hay còn cộng tác với cộng sản sau khi thấy rõ bản chất cộng sản.
Một vấn đề quan trọng khác, "binh" là một trong 5 cánh sao. "Binh" là binh lính, có nghĩa thuộc quân đội chính quy cho dù có thể chỉ có vũ khí đơn sơ. Nếu không thì chỉ cùng lắm như dạng dân quân, du kích, ..., tức là dân có vũ khí. Vào thời Nam Kỳ khởi nghĩa, không người Việt nào có khái niệm đến quân đội trong lá cờ, vì làm gì có người lính nào. Ngay cả quân đội Việt Nam cũng chỉ ra đời ngày 22/12/1944. Như vậy, ý niệm quân đội là một trong năm cánh sao chỉ là đẽo chân cho vừa cái giày hợp với lá cờ được mang từ nước ngoài về. Cờ Liên Xô không có sao vàng. Cờ Phúc Kiến thì có và Mao cũng đã có quân đội chính quy : Bát lộ quân. Điều này phải chăng thêm một giải thích Hồ Chí Minh vác cờ của Mao về Việt Nam.
Và cuối cùng "thương" là thương nhân. Có ai nghĩ rằng cộng sản lại đội lên mặt họ "thương nhân" không? Thương nhân bị tiêu diệt trong xã hội cộng sản. Họ bị coi là ăn bám, bóc lột vì không làm ra sản phẩm. Mua bán dưới chế độ XHCN đều qua cửa hàng mậu dịch nhà nước. Ngăn sông cấm chợ, cũng là những biện pháp thủ tiêu thương nhân.
Ngoài "công" và "nông", 3 cánh sao mà cộng sản áp đặt là "sĩ", "binh" và "thương" cho một lá cờ tưởng tượng thời Nam Kỳ khởi nghĩa là hoàn toàn vô căn cứ, phản lại chính sách của họ "trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ", vượt qua sự hiểu biết của họ về quân đội vào lúc đó và nói dối lòng căm thù của họ với "thương nhân".
Từ trên cho thấy, giả thuyết duy nhất chấp nhận được là : năm 1941, Hồ Chí Minh đã mang cờ đỏ sao vàng của Mao về áp đặt lên đầu người Việt.
Dưới đây là các hình : "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" năm 1931 (trang Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh) và năm 1954-1956 Cải cách ruộng đất, một lá cờ Trung Quốc với sao vàng cánh dày (như cờ đỏ trước năm 1955, mà không nước nào trên thế giới có), cờ đỏ Việt Nam (1945-1955 cánh dày), phác họa lịch sử cờ đỏ Việt Nam và cờ Trung Quốc. (Hết trích)
Thiếu tướng Nguyễn Kim Sơn, Chủ nhiệm Chính trị, Bộ Tổng tham mưu nói gì về việc hạ cờ rủ ngay ngày quốc tang
- A lô xin thưa có phải đây là số máy của thiếu tướng Nguyễn Kim Sơn (0913 309 336) không ạ?
- Vâng đúng rồi, có gì không anh? Anh ở đâu đấy
- Dạ thưa thiếu tướng chúng tôi hiện đang ở nước ngoài và quan tâm đến đám tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Đám tang đã xong và...
- Không quốc tang 2 ngày từ lúc 12 giờ ngày 11 tháng 10 đến 12 giờ ngày 13 tháng 10 như vậy là đầy đủ chứ không có vội vàng gì. Chúng tôi làm đủ đúng 2 ngày.
- Thưa ông trong đám tang thì đoàn Lào và Campuchia được nhắc đến nhưng không nghe gì về đoàn Trung Quốc.
- Đây là hai đoàn cấp cao nhất từ đảng lãnh đạo của họ tham gia.
- Thế đoàn Trung Quốc không tham dự đám tang sao?
- Có, đoàn Trung Quốc có tham gia đám tang ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Thưa ông tại sao nhà của đại tướng ở đường Hoàng Diệu, đại sứ quán của Trung Quốc cũng ở đường Hoàng Diệu ngay tại Hà Nội mà họ phải vào tới thành phố HCM dể viếng đám tang?
- Có nhiều đoàn đại sứ đi viếng đám tang.
- Nhân tiện dây cho chúng tôi hỏi ông là phía quân đội Việt Nam gần dây tỏ vẻ nhún nhường trước quân đội Trung Quốc vì sao thế?
- Không, chúng tôi dùng luật pháp quốc tế và tuân thủ đúng luật quốc tế trong tranh chấp các xung đột.
- Chúng tôi rất quan ngại.
- Không có gì đâu mà quan ngại, anh cứ nói bà con kiều bào đừng quan ngại gì và hãy tin ở sức mạnh quân đội Việt Nam. Thế nhé.
- Cám ơn ông vì cuộc nói chuyện này.
http://danlambaovn.blogspot.nl/2013/10/thieu-tuong-nguyen-kim-son-chu-nhiem.html#.Ul1KMfnCS70
Nỗi lòng Cờ Đỏ
Nỗi lòng Cờ Đỏ
“Thân em như tấm lụa đào...”
Thân em là Cờ Đỏ. Nói rõ, chính xác là cờ đỏ vàng sao. Nhắc đến tên em thì ai cũng “biết rồi khổ lắm nói mãi” mặt mũi thân hình, nhưng mà tủi thân thay: nỗi lòng em nào có được mấy ai hay.
Mấy chục năm rày trôi theo vận nước, em có hơn gì người trước... nói tiếng Tàu “đa thọ đa nhục”. Biết thân em chỉ là loài thụ tạo, có sinh ắt có tử. Mà cửa tử thì...
...Tuổi tác em cho dù chưa được một lần cấp giấy xác minh, nhưng lượng sức mình em vẫn đinh ninh trước sau như một, ngày em đi gặp bác Hồ và chú, à quên- em lại quen mép quen mồm xưa nay chỉ được gọi một bác độc nhất vô tiền khoáng hậu, mậu tả mậu hữu là bác Hồ, nay thì ô hô có thêm bác Giáp (chú Bú Lí vừa gọi như thế trong tang lễ “Đức Thánh Võ” *)- Ngày em đi gặp hai bác Hồ Giáp còn chẳng bao xa.
Bao nỗi nhục nhằn chồng lên qua mấy chục năm ròng, em thui thủi chịu đựng một lòng một dạ. Biết bày tỏ cùng ai, thôi em đành hạ quyết ôm chữ “Nhẫn”, mang xuống thuyền đài cho khỏi “rách việc”, uổng công em phe phẩy một thời.
Nào ngờ sét đánh bên tai: “lệnh hạ cờ rủ” khi em đang làm nghĩa vụ, ủ rủ quốc tang. Em lập lại: Quốc tang! Chứ đâu phải loại làng nhàng, cỡ (đại) gia tang, nhóm (lợi ích) tang, cánh (Nam, Bắc) tang, băng (Đảng) tang, hay tính tích tình tang gì đó cho cam.
Ban đầu em cứ tưởng: hay là vì các chú ấy thương tình em Cờ Đỏ, tội nghiệp nước mình theo anh Cả Đỏ lâu nay; hạ cờ rủ chẳng qua là ngụ ý rằng, “Thôi, ủ rủ khóc thương như vậy là bốn-tốt lắm rồi.” Nói cho kịp thời trang Khổng Tử Học Viện sắp xây nơi khu lăng Bác: “Khấp túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc. Khóc tới, khóc lui, hóa khóc nhàm”**. Thôi thì thôi, em bèn bắt chước nhại theo bà con bên đạo mà “bằng lòng cam chịu y như lệnh Đảng ban xuống cho rồi”.
Nhưng hỡi ôi: lòng Đảng đâu phải như em nghĩ. Hạ cờ rủ không phải vì đảng thương em cho em nghỉ... rủ cờ, nhưng là để làm hỉ dạ thằng Khứa Bắc phương.
Trời ơi là trời, từ cổ chí kim, từ dân tộc văn minh áo quần mặc mấy lớp, đến bộ lạc bán khai buông lủng lẳng con chim, thử hỏi có nhà ai đang lúc tang chế, người chết chưa chôn, bỗng có khách đến không phải để chia buồn nhưng vì chuyện bán buôn, mà tang chủ lại bắt “tang viên” dẹp hết tức thì tang phục? Như cái nhà nước mà em đang phe phẩy phành phạch“quốc kỳ”.
Quốc kỳ! Đêm đêm em nhìn em trên vách *** càng thấy mình vô duyên chi lạ:
Em sinh ra nào có biết ai mẹ ai cha, từ đâu xuất xứ. Người bảo em dân Phúc Kiến bên Tàu; kẻ lại xô em sang giọt máu Liên Xô; còn Đảng dạy: hang Pắc Bó, em chỗ chôn nhau.
Nhưng gốc gác nào em cũng OK Salem, vì cờ Đỏ nào cũng là con cháu anh Cả Đỏ, em chẳng cần thử DNA như nhiều kẻ đòi hỏi; có điều làm em nhức nhối hôi tanh, là em nhuốm quá nhiều máu. Máu “Xô Viết Nghệ Tĩnh” của bao người “Trí phú địa hào” do bác Đảng “đào tận gốc trốc tận rễ”... Máu ngập giao thông hào Điện Biên Phủ của biển người thanh niên Việt Nam. Máu phun đỏ trời Bắc của ít nhất 172.008 người (theo thú tội của bác Hồ) theo tiếng trống dục “giết, giết! bàn tay không ngưng nghỉ...” trong“Cải Cách Ruộng Đất”. Máu của 6000 (sáu ngàn) người dân Huế vô tội đổ xuống sau thơ chúc Tết của bác Hồ “xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” trong Mậu Thân, 1968. Máu của 4 triệu đồng bào mà phần lớn là thành phần tuổi trẻ, “nguyên khí quốc gia”, đổ ra không thương tiếc- “Je ne regrette rien. Non, pas du tout”. Máu của bao lớp nạn nhân qua nhiều “diện” khác nữa...
Mình mẩy em tanh tưởi vì “phanh thây uống máu quân thù” thì ít, nhưng phanh thây uống máu dân ta thì nhiều, đang làm em tự lợm minh đã đành; em lại còn phải mang trên thân bao nỗi ô nhục.
Mặt em từ lúc sinh ra chỉ hai màu đỏ vàng, vậy mà đến ngày 20 Tháng 12, năm 1960, Đảng cho ịn lên đúng một nửa mặt em cái bớt xanh, nói rõ hơn là cái mặt em tự nhiên thành nửa đỏ nửa xanh, ngay chính giữa thò lõ con mắt vàng khè. Em chưa hoàn hồn thì bị lôi đi B tức là xuống phía Nam vĩ tuyến 17; mà phải chi được đi trên đường đàng hoàng giữa ban ngày, nhưng hoàn toàn đi ban đêm, lại chui rúc hết bụi này sang bụi khác, làm em rách nát tả tơi.
Từ 1960 đến 1975: xấp xỉ 15 năm em rơi mặt nạ. Em đỏ hoàn đỏ. Tưởng thế là từ rày được yên thân. Nào ngờ em bị móc mắt mấy bận: Đảng lột sao vàng của em gắn lên cờ anh Cả Đỏ. Lần thứ nhất ngày chú Bú Lí đi sứ Tàu; lần thứ hai khi sứ Tàu sang nước ta. Em đang lo sợ cứ cái đà này mắt em còn bị móc dài dài.
“Nhất đau mắt, nhì dắt răng”. Mắt bị móc lại còn đau khủng hơn. Nhưng đau cũng không “khủng” bằng nhục.
Nhục trên hết mọi thứ nhục là nhục “hạ cờ rủ”.
Càng siêu nhục hơn nữa là khi hồi tưởng lại 60 năm trước Cờ Đỏ sao vàng bay phấp phới hào quang vẻ vang trên hầm tướng giặc De Castries trong lòng chảo Điện Biên Phủ, rồi đối chiếu với cảnh cũng vẫn Cờ Đỏ sao vàng ấy bị hạ xuống trong khi đang rủ mình khóc thương tiễn biệt người Anh hùng Điện Biên trên đường đến huyệt mộ.
____________________________________
Chú thích:
(*) “Nhà báo” Ngô Minh Phong;
(**) Nói leo “Tri túc, đãi túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”;
(***) Xin phép tác giả “Tôi nhìn tôi trên vách”.






Geen opmerkingen:
Een reactie posten